CÔ
GÁI HÁI CHÈ
Lẳng lơ
con bế con bồng,
Chính chuyên ai dễ cõng chồng
đến cho.
(ca
dao)
Tôi từ Sài Gòn về Xuân Tâm thăm
mẹ và các em, mỗi lần về như vậy ít nhất cũng phải
ở lại chơi ba bốn ngày, có đôi khi lâu hơn… Tôi nhớ
có một lần tôi về đúng vào những ngày trước tết,
sẵn dịp phụ mẹ gói bánh tét, gói xong buổi tối cùng
các em ngồi canh nồi bánh tét, nồi bánh nước sôi sùng
sục, thiệt là vui...! Kỷ niệm những ngày về quê không
bao giờ phai mờ trong tâm trí.
Buổi
sáng, lúc tôi vừa ngủ dậy - thường thì người em rể,
em trai gõ cửa mời anh hai uống cà phê… Mấy anh em vừa
uống cà phê vừa nói chuyện, bất chợt, người em rể
thứ bảy hỏi:
- Anh
hai, nảy giờ anh có nghe mùi trà, hăng hắc thoang thoảng
bay trong gió không vậy?
Tôi
thản nhiên, nói:
- Anh
có nghe, bây giờ vẫn còn nghe! Nghe, mà cứ tưởng mùi
trà từ trong nhà của dượng (dượng
là em rể, kêu cho con)
bay ra, uống cà phê mà nghe mùi trà tỏa ra mà phát thèm!
Người
em rể, trầm ngâm một chút, rồi nói:
- Anh
đi về Sai gòn ở đã lâu, không biết anh có còn nhớ
thằng Phủ không, hồi xưa gia đình nó nghèo lắm, vậy
mà bây giờ nó “phất” lên giàu có thấy rõ đó anh,
nó giàu lên là nhờ “sản xuất” trà đó anh. Trà của
nó thì em nói thật là em không dám uống bao giờ. Thằng
Phủ nó không trồng trà, nó đi mua trà bổi khắp các nơi
đem về “trộn trạo” thành trà (thương
hạng) rồi
đem đi bỏ mối khắp nơi để làm giàu thì anh tự hiểu
lấy. Bí quyết làm ăn thời “hóa chất” mà anh! Thời
buổi bây giờ ai cũng ham lời, ham rẻ, cho nên nhà nào
cũng dùng hóa chất, rốt cuộc - ăn cái gì - uống cái gì
cũng phải chọn lựa kỹ càng các thứ mới dám ăn, dám
uống… Chọn lựa riết rồi lại ăn nhầm các thứ hàng
pha hóa chất của nhau. Anh nghĩ có buồn cười không?
Chúng ta tự giết lấy nhau chứ đừng có đỗ thừa là
tại ai hết.
Tôi
thường hay uống cà phê mỗi buổi sáng và uống nước
trà, nhưng lại không quen uống các loại trà bán sẵn ở
trong gói. Tôi thích trà lá đang còn tươi trên nhánh, hái
xuống rồi đem bỏ vô cối giã sơ cho dập, chế nước
sôi đậy kín chừng năm, mười phút rồi rót ra uống, vị
trà chát, ngọt, đắng thật sảng khoái.
Người
em rể lại nói:
- Nhà
thơ Trần Tế Xương có mấy câu thơ:
"Một
trà, một rượu, một đàn bà,
Ba thứ lăng nhăng nó
quấy ta.
Chừa được thứ nào hay thứ ấy,
Có
chăng chừa rượu với chừa trà."
- Anh
hai có còn nhớ bốn câu thơ đó không?
Tôi
nói:
- Nhớ chứ dượng. Hồi còn học
sinh, đoạn thơ đó của thi sĩ Tú Xương ai mà không nhớ
và thuộc lòng, nhất là mấy ông, có điều ông nhà thơ
quả là: chơi chữ, và có chút khôn lõi rất là văn thơ
cũng như nịnh đầm phụ nữ nữa đó. Dượng nghĩ xem,
một khi hết rượu, hết trà không còn cái gì để uống
thì ổng phải chừa hai thứ lăng nhăng “trà, rượu”
đó trước, còn đàn bà thì không bao giờ ổng “chừa”
được! Ông ấy mà chừa đàn bà (vợ) thì lấy ai chi
tiền ra để đi mua rượu, mua trà cho ổng uống? Vậy là
ông Trần tế Xương ổng đâu có chừa “ba thứ lăng
nhăng” đó đâu. Đọc thơ là phải hiểu cái ý ẩn dụ
mới là tuyệt.
Nghe
tôi “bình” như vậy, người em rể vỗ tay cười khoái
chí, nói:
- Anh quả là người tinh tế,
hiểu ý người xưa. À, anh có còn nhớ bài ca dao “Cô
Gái Hái Chè” không?
Tôi
hỏi lai:
- Dượng
muốn nhắc tới cô gái hái chè nào? Có hai cô gái dính
tới chè đó nha! Một cô trong ca dao, một cô trong lịch
sử. Cô trong ca dao thì không thấy mặt, chứ cô “bà
chúa chè” Đặng Thị Huệ thì thấy mặt, lịch sử có
ghi rõ chuyện của cô:
Người
em rể, nói:
-
Hôm
nay rảnh, anh hai nói về cô gái hái chè cho em nghe đi.
Trưa nay, anh em mình làm lai rai vài xị cho ấm lòng, lâu
lâu anh hai mới về mà!
Nghe
nhắc tới nhậu là tôi khoái rồi! Tôi
nói:
-Thôi
được, anh sẽ nói tóm tắt, có gì thì dượng góp ý
nha! Trong ca dao có một cô gái hái chè, nhưng không tên
tuổi. Trong lịch sử, cũng có một cô gái dính
líu tới chè,
cô đó là người thật, tên của cô là (Đặng
Thị Huệ),
cô sống vào thời nhà Trịnh, người đời thường gọi
“Bà Chúa Chè”. Chuyện cô Huệ khi ở trong nội cung
(chánh
cung) không
biết chuyện xảy ra như thế nào mà người đời lại
viết hai câu lục bát: “Trăm quan có mắt như mờ, Để
cho Huy Quận vào sờ chánh cung”. Thôi, chuyện đó sẽ
nói lúc khác nha.
Bản
gốc “Cô Gái Hái Chè”, như sau:
Hôm qua em đi hái chè,
Gặp thằng phải gió
nó đè em ra.
Em lạy mà nó chẳng tha,
Nó đem đút cái mả cha nó vào.
Bấy giờ em biết
làm sao,
Nếu em càng giãy nó vào thêm sâu.
Cái gì như thể củ nâu
Cái gì như cái cần
câu vật vờ.
(ca dao).
Đọc
hết bài ca dao, ngẫm nghĩ mới thấy hơi lạ. Đồi chè
rộng lớn, theo thông lệ người chủ đồn điền mướn
nhiều các cô gái lên đồi trà hái trà (chè)
đồng loạt theo mùa vụ để ướp sấy rồi đóng bao đem
đi bán. Vậy cớ sao cô gái trong ca dao lại đi một mình?
Thời gian, không gian “gặp
thằng phải gió nó đè em ra”,
cô
gái hái chè không nói rõ buổi sáng, buổi chiều, trời
âm u hay mưa nắng? Cô gái có phải đi hái chè hay chỉ là
cái cớ để gặp tình nhân? Giả thiết là hai người đã
có hò hẹn từ trước để (đi đè) thì sao?
Người
em rể nghe tôi đặt vấn đề thì khoái chí, cười tủm
tỉm…, rồi đứng lên chạy vô nhà lấy ra mấy lon bia
với một bịch đậu phộng rang, nói:
- Anh
hai đặt vấn đề như một thám tử. Bình luận tiếp đi
anh hai:
Tôi
nói tiếp:
-
Cô
gái bị đè, tất nhiên phải (nằm ngửa), hẳn nhiên anh
chàng phải gió lúc đó như một con hổ đói rình mồi
chờ cô gái đi tới, bất thần nhảy ào ra dùng hết sức
mạnh ôm lấy cô gái, vật cô gái xuống... Anh ta (ngấu
nghiến) cô gái, lúc đó cô gái điếng hồn, bủn rủn
tay chân, miệng thì la làng, tay thì cào cấu, có cào cấu
cũng hết nổi. Vậy thì, cô gái làm gì có đủ thời
gian để mà quỳ: “em
lạy mà nó chẳng tha”?
Theo anh, cô gái hái chè “cò kè, nũng nịu” chứ không
lạy lục gì cả, ngược lại cô gái hái chè đã chuẩn
bị “bãi đáp” sẵn ở trong một cái chòi, và cô nằm
im lặng nhắm mắt thưởng thức cái “mả cha” của
thằng phải gió nó nhét vào. Thử đặt trường hợp
dượng mà có đi hiếp dâm con gái nhà người ta, dượng
cũng làm y chang như thằng phải gió vậy thôi, đừng để
cô ấy la làng, la làng là lòi chành té bứa! Phải không
nào?
Người
em rể của tôi lại cười ầm lên, nói:
-
Em
không dám hiếp dâm đâu! (cười). Nảy giờ nghe anh nói,
em mới biết đó thôi. Hiếp dâm, kiểu “ngấu nghiến”
gấp gáp, vội vàng như vậy thì có thú vị gì? Theo anh
hai, thì cô gái hái chè có cảm giác khi bị đè không
anh?
Tôi
cũng cười, và trả lời:
- Có
cảm giác chứ dượng, ăn vụng lúc nào cũng ngon mà!
Dượng hãy nghe cô gái hái chè “bây
giờ em biết làm sao”?
Nghĩa là khi bị đè, cô gái đã có cảm giác thích cái
“mả cha” đã lọt thỏm trong người - nên cô phân vân
suy tính rồi tự hỏi có nên - giẫy hay là không giãy?.
Đáng lẽ khi bị đè cô gái sẽ vùng vẫy kêu la, đàng
này cô không la mà còn nhắm mắt nằm im, tự hỏi “nếu
em càng giãy nó vào càng sâu”. Cô ngập ngừng..., đó là
dấu hiệu của xúc cảm, cô không giãy nó cũng vào càng
sâu thôi. Đó là sự đồng tình.
Người
em rể chăm chú nghe tôi giải thích quá hấp dẫn, cầm
lon bia lên uống một hơi cạn sạch, rồi nói:
- Trong
ca dao, tục ngữ, thành ngữ ẩn giấu nhiều ý nghĩa,
triết lý… Do đó, cần phải có người biết cảm nhận,
hơn nữa là phải có trình độ mới hiểu thấu hết ngọn
nguồn, bằng không cho dù có học thuộc lòng cũng chưa
chắc sẽ biết hết.
Vậy,
anh hai nói tiếp hai câu cuối đi. Người em rể thúc
giục:
- Dượng
muốn nghe hai câu cuối? Thì
đây: “Cái
gì như thể củ nâu, cái gì như cái cần câu vật vờ”?
Trước
tiên phải hiểu củ nâu là cái củ gì cái đã. Tên khoa
học của bộ củ nâu là (dioscoreales), ở Việt Nam có bộ
củ
nâu (dioscorea cirrhosa), khoai mỡ (dioscorea alata) củ mài hay
hoài sơn (dioscorea
persimilis).
Củ nâu là vị thuốc quý dùng để tăng cường sức
khỏe, bổ dương, hầm với: gà, chim, vịt…
Củ khoai từ có tên khoa học (dioscorea esculenta). Riêng
củ nâu (màu nâu) có hình hơi tròn tròn, vỏ nhăn nheo, có
rãnh nho nhỏ chung quanh, củ nâu mọc mầm, mọc hoang ở
các vùng: Lào
Cai, Quảng Ninh (Quảng Yên), Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây,
Thái Nguyên, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Nghệ An… Người
ta lấy màu nâu từ vỏ củ nâu để làm thuốc nhuộm vải
và xuất cảng.
Trở
lại vấn đề của cô gái hái chè.
Tôi
nói:
-
Người
bị hiếp dâm lúc nào cũng hoang mang, sợ sệt, việc xấu
hổ như vậy thì còn hơi sức đâu mà cúi mặt cúi xuống
săm soi “cái cần câu nó gật gù” của người đã hiếp
dâm mình? Chỉ có đôi tình nhân yêu nhau lâu mới tò mò
nghịch ngợm
như vậy.
Thiết nghĩ cô gái hái chè đã biết rành mạch “cái củ
nâu, cái cần câu” từ lâu rồi mới đem ra so sánh. (Có
thể cô ta đã từng hầm canh củ nâu với thịt cho thằng
phải gió ăn để tẩm bổ. Cô ta cũng từng đi theo câu
cá với thằng phải gió?).
Tôi
chưa nói hết ý, thì người em rể vội chặn họng, nói:
- Làm
sao mà anh hai biết cô bạn của cô gái hái chè, chưa có
chồng?
Tôi
cười và giải thích:
- Đơn
giản thôi
mà! Chính cô gái hái chè kể lại tất cả sự việc cho chị bạn đó thôi. Cô chị bạn gái đó nếu
đã
có chồng con rồi thì cần chi cô gái hái chè phải diễn
tả tỉ mỉ cái “củ nâu và cần câu vật vờ” làm gì
cho mất công. Cô gái hái chè vừa khoe chuyện mình bị
đè, vừa ý nhị kể cho cô chị bạn chưa chồng biết cảm
giác được đè rất thú vị như vậy đó...! Cô chị bạn của cô gái hái chè mà có chồng thì hơi đâu ngồi
nghe từng chi tiết bị hiếp dâm.
Thú
vị hơn nữa là cô gái hái chè không nguyền rủa kẻ đè
hiếp
mình
bằng thái độ giận dữ...!
Cô chỉ gọi nhỏ
nhẹ là (thằng
phải gió), người miền Nam, Sài gòn, gọi là “thằng ôn
dịch, “thằng mắc dịch, thằng trời đánh thánh đâm”.
Đó là các câu chửi hờn mát; chửi cho có chửi; chửi
cho bớt e lệ, chửi cho bớt mắc cỡ! Cô gái hái chè,
quả là một cô gái thông minh và thận trọng, không nói
rõ ràng tên thật người đè mình, mà chỉ nói bâng quơ
“thằng phải gió”. Giả dụ, cô bạn đó có đem câu
chuyện cô bị đè đó
kể lại tùm lum cho người khác biết có lẽ cũng chẳng
có ai tin, bởi “thằng phải gió” có hàng trăm thằng
phải gió thì biết thằng nào ra thằng nào mà đi tìm để
tra khảo?
Trong
mỗi con người bất cứ nam hay nữ đều có chứa dụng
cụ sinh tồn (tức là chứa đồ dâm trong người). Vậy,
có ai mà không dâm nào? Dượng nên nhớ, bất cứ chuyện
gì trong cuộc sống cũng (có buộc, có mở). Xưa nay luân
lý, đạo đức, tín ngưỡng, luật lệ xã hội, gia quy -
đó là những sợi dây thừng trói chặt người phụ nữ
từ khi mới lọt lòng cho tới lúc chết. Trong ca dao
dân gian ông bà xưa đã thấu hiểu nỗi cơ cực, vô lý
đó nên đã (mở) ra một lối thoát nhẹ nhàng pha lẫn
triết lý sống về sự luyến ái cho phụ nữ.
Chính
chuyên chết cũng ra ma
Lẳng lơ chết cũng đem
ra ngoài đồng
Chính chuyên chết phải đi không
Lẳng lơ chết có tiếng cồng, tiếng chiêng.
(ca dao)
Lẳng lơ chẳng một mình tôi
Thanh Lâm, Ðồng
Sớm cũng đôi ba người
Nói ra sợ chị em cười
Lấy chồng tháng chín, tháng mười đẻ con
(ca dao)
Bài
ca dao về chuyện cô gái hái chè, đó chính là tình yêu
lãng mạn, đó chính là vẻ lẳng lơ rất phụ nữ - rất
đàn bà - rất đậm đà tình ái. Dù “tình
cho không biếu không” cũng chẳng
làm mất đi sự trong sáng, phẩm hạnh của phụ nữ. Đừng
nghĩ rằng phụ nữ (lẳng
lơ) là xấu để rồi đánh giá một cách hồ đồ thiếu
công bằng. Định kiến nặng nề thâm căn cố đế vốn
khinh thường phụ nữ ở trong xã hội phong kiến đã nhìn
người phụ nữ với con mắt, soi mói, chỉ biết buộc
tội cho họ, từ: dáng đi, dáng đứng, cách ngồi, ăn,
uống, mặc, nói năng…! Khắt khe một cách không cần
thiết. Trong khi đó, đàn ông thì tự cho mình được cái
quyền tự do bay nhảy, tự do lập “phòng nhì, phòng
ba…”.
Định
kiến hủ lậu đã kìm hãm sự sáng tạo, kìm hãm tài
năng ở người phụ nữ. Định kiến hủ lậu đã làm
mất đi cơ hội gần gũi để học hỏi tính nhẫn nại,
điềm đạm và phán đoán sự việc một cách thông minh
sáng tạo ở nơi người phụ nữ. Phần nhiều đàn ông
đều coi thường “đàn bà biết gì mà nói”. Lối suy
nghĩ thiển cận là một tai họa đổ ập xuống đầu
phái nam, vậy mà cánh đàn ông vẫn chưa chịu khôn ra!
Người phụ nữ lẳng lơ hay lãng mạn là người phụ nữ,
tài giỏi… Phụ nữ không thua gì nam giới, họ để lại
cho đời nhiều giai thoại, nhiều công trạng trong lịch
sử, đó là phụ nữ đã từng cầm quân giết giặc. Phụ
nữ để lại nhiều áng thơ văn lừng danh kim cổ. Phụ
nữ có công ngang ngửa với đàn ông. Do đó mới có cậu
“đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”
Lẳng
lơ là một trong những nét duyên dáng rất đáng yêu, cũng
là nét thanh cao, trang đài ở người phụ nữ. Người phụ
nữ không biết lẳng lơ thì chẳng khác gì tượng đá
biết đi, hay một cái cây gỗ thiếu nước. Người phụ
nữ phải biết lẳng lơ để đem lại hạnh phúc gia đình.
Lẳng lơ là một món qùa trời ban cho người phụ nữ.
Lẳng lơ chính là sự gợi tình rất đáng yêu. Người
dân “nam kỳ luc tỉnh”, gọi là: ‘thả thính”. Vậy
lẳng lơ chưa phải là tội, và cho dù người phụ nữ có
ngoại tình cũng chưa hẳn là tội đáng chết. Chúa
Gie-su
nói với bọn người đàn ông ném đá người phụ nữ
ngoại tình, rằng: "Nếu
trong các người không có tội, thì hãy ném đá người
đàn bà ngoại tình nầy". Và
bọn họ đã bỏ đi.
Trong
Tự Điển: Chữ “lẳng”, (động từ). là ném một vật
dụng nào đó bằng cả hai tay. còn chữ “Lơ”, tiếng
Pháp (Bleu). là màu lam. Không biết, ai đã ghép hai chữ
“việt-pháp” thành lẳng lơ, để rồi gán ghép cho
người phụ nữ với nghĩa “không đàng hoàng, đứng
đắn?”. Lẳng lơ có thể hiểu là: biểu lộ tình cảm
bằng ánh mắt, bằng nụ cười, bằng lời nói, bằng một
câu thơ, bài thơ một cách dịu dàng, e ấp nhưng không
kém phần kín đáo và duyên dáng dễ thương.
Thật
ra, thì chính phái nam mới lẳng lơ nhiều. Đàn ông lẳng
lơ gấp chục lần nữ giới. Loài vật tới mùa động
cỡn cũng biết lẳng lơ.
Người
em rể của tôi nảy giờ ngồi im lắng nghe tôi nói. Đợi
khi tôi nói xong, mới có ý kiến, góp vui:
-
Theo
anh hai giải thích, thì hai chữ lẳng lơ chẳng qua là một
sự bày tỏ tình cảm cho nhau trong tình yêu một cách ý
nhị, ý tứ, trong sáng mà vẫn không xúc phạm thuần
phong mỹ tục. Em cũng thích người phụ nữ có chút lẳng
lơ, chính sự lẳng lơ đã đưa họ lên đài danh vọng.
Lẳng lơ trong chăn gối còn là hạnh phúc, bởi vậy cho
nên trong ca dao có nói: “lẳng
lơ chết có tiếng cồng, tiếng chiêng”.
Cảm ơn anh hai nhiều lắm!
Tôi
cười và nói:
- Tôi cũng cảm ơn dượng ngồi nghe tôi nói, và
biết đâu rằng: cái “thằng phải gió” ở trong bài ca
dao (anh ta chính là người chồng, là người yêu sắp cưới
của cô gái hái chè thì sao?). Có thể lắm chứ?! Lãng
mạn, lẳng lơ mà!
Ngày nay, không
biết cô gái hái chè có còn đi hái chè trên những ngọn
đồi thanh vắng để nhớ về kỷ niệm thuở xa xưa hay
là cô lại đi hái chè ở nơi phương trời xa lạ, mà cái
(thằng phải gió) là những người đàn ông ngoại quốc,
lạ hoắc, lạ hươ...?!
Nội
dung bài ca dao lục bát “cô gái hái chè” chỉ có tám
câu, nhưng đã gói rất nhiều ý tứ tâm lý chồng chéo
thật thâm thúy chẳng khác gì một bài thơ trứ danh.
Tôi nhớ cô - Cô gái hái chè!
Trang Y Hạ

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét