Thư viện

16/5/26

TỪ TRONG "KHAI THỊ".

 



TỪ TRONG “KHAI THỊ”.

Trang Y Hạ

     - “Một khi Thiên Chúa không muốn xây nhà thì tất cả thợ nề đều làm việc uổng công.”. (Cựu Ươc Kinh).

     Chúa nói đúng! (Xây nhà ở dưới thế gian ắt sẽ bị mối mọt làm cho sụp đổ.) - “Xả bất liễu tử, hoán bất liễu sanh; Xả bất liễu giả, thành bất liễu chân.”. Tạm hiểu: (Bỏ không được cái chết, thì không đổi được sự sống; Bỏ không được cái giả, thì chẳng có được cái thật!).

     Một lần tôi tới thăm viếng: “Viện Đại Học Pháp Giới – Vạn Phật Thánh Thành”, ở Burlingame, California. (Nơi đây cũng là nơi dịch thuật và xuất bản sách.). Diện tích viện đại học rộng hàng mấy mẫu tây. Tôi đi lần vào Thư Viện; Thư Viện Pháp Giới quy mô với các loại sách xếp ngăn nắp. Vị quản thủ thư viện biếu cho tôi sách “Khai Thị” của Hòa Thượng Tuyên Hóa – người sáng lập Viện Đại Học – (Ngài đã viên tịch từ lâu.).

     Nói thật, tôi không hiểu chút gì về giáo lý Phật; kinh Phật. Biết là không hiểu nên tôi cố gắng tìm hiểu. Tôi thích đọc các bài: (có thể là Thơ; có thể là Kệ.) vì trước đây - một Sư ca già có tặng cho tôi một cuốn Kinh Lăng Nghiêm (bản cũ).

     Tuy vậy, dù thơ hay kệ thì tôi vẫn đọc... - đồng thời nghiền ngẫm suy ra may ra tìm được một sự tương giao giữa tâm hồn và huyền nhiệm – Chúa, Phật đều hướng tới “Chận – Thiện – Mỹ” - hơn nữa là – vốn ham mê viết lách – tôi xin trích dịch qua văn vần Tiếng Việt một số bài thơ bên dưới. Đầu đề “Vô Đề” là tôi tự đặt.

1.
Vô Đề.
Phú quý ngũ canh xuân mộng
Công danh nhất phiến phù vân
Nhãn tiền cốt nhục dĩ phi chân
Ân ái phản thành cừu hận
Mạc bả kim già sáo cảnh
Hưu tương ngọc tỏa triền thân
Thanh tâm quả dục thoát hồng trần
Khoái lạc phong quang bổn phận. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Giàu sang kéo năm canh dài xuân mộng
Mảnh công danh lơ lửng bóng mây trôi
Bày trước mắt cốt nhục nào đâu thật
Đang yêu đương hóa giận ngẫm sự đời
Vàng tròng cổ đeo đầy chỉ làm kiểng
Ngọc quý nhiều thêm nặng trĩu châu thân
Dẹp tham vọng cho tâm lòng thanh thoát
Đón gió êm giữ phận chẳng nợ nần.
Dịch: (Trang Y Hạ)
2.
Vô Đề.
Nhân sanh nhất trường mộng
Nhân tử mộng nhất trường
Mộng lý thân vinh quý
Mộng tỉnh tại cùng hương
Triêu triêu tại tác mộng
Bất giác mộng hoàng lương
Mộng trung nhược bất tỉnh
Uổng tác mộng nhất trường. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Nhân sinh cõi chẳng qua là giấc mộng
Người mất đi nào khác giấc mộng dài
Thân trong mộng tưởng rằng đang giàu có
Tỉnh mộng rồi mới thấy trắng hai tay.
Mỗi sớm sớm cảnh mộng mơ trờ tới
Giật mình ra mới rõ mộng kê vàng
Giữa mơ mộng đầu chập chờn chẳng tỉnh
giấc mộng dài tác động quả tiêu tan.
Dịch: (Trang Y Hạ).

3.
Vô Đề.
Nhân thân nan đắc kim dĩ đắc,
Phật pháp nan văn kim dĩ văn.
Thử thân bất hướng kim sinh độ,
Cách hướng hà sinh độ thử thân. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ
Thân người khó được nay đã được,
Thuyết giáo khó nghe nay đã nghe
Chẳng lẽ kiếp này ai tế độ
Chờ tới phương nào độ chở che.
Dịch: (Trang Y Hạ).

4.
Vô Đề.
Nhân thân hảo tỷ nhất gian phòng,
Khẩu vi môn hộ nhãn vi song.
Tứ chi hảo tỷ phòng tứ trụ,
Đầu phát hữu tượng sơn phòng thảo.
Sấn trước hảo thời cần tu bổ,
Mạc đãi hoại thời trước liễu mang. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ
Thân người đó ví như căn phòng đẹp,
Mắt miệng là cửa sổ với cửa ra.
Bốn góc giữ kể là bốn cây cột,
Tóc trên đầu làm rơm cỏ lợp nhà.
Hãy sốt sắng sửa sang khi còn tốt,
Đừng đợi khi mọt đục mới lo xa.
Dich: (Trang Y Hạ).

5.
Vô Đề
Đãn đắc bổn, mạc sầu mạc,
Như tịnh lưu ly hàm bảo nguyệt.
Ký năng giải thử như ý châu,
Tự lợi lợi tha chung bất kiệt. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Lo bón gốc, chứ đừng lo tỉa ngọn,
Tấm gương trong giữ sáng ánh trăng thanh.
Ngọc như ý suy ra đà hiểu được.
Lợi cho thân cho kẻ khác trọn lành.
Dịch: (Trang Y Hạ).

6.
Vô Đề.
Sừ hòa nhật đương ngọ,
Hãn trích hòa hạ thổ.
Thùy tri bàn trung xan.
Lạp lạp giai tân khổ! (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Trời đứng bóng ruộng bừa không ngơi nghỉ,
Giọt mồ hôi trộn đất đá mặn chua.
Bưng một bát cơm đầy ai có hiểu,
Hạt lúa vàng gian khổ mới được mùa!
Dịch: (Trang Y Hạ).

7.
Vô Đề
Mộng đổng truyền mộng đổng
Nhất truyền lưỡng bất đổng
Sư phụ hạ địa ngục
Đồ đệ vãng lý cỗng. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ
Thầy mù mịt dạy học trò mộng ảo
Cả hai người kết quả có ra chi
Thầy khăn gói xuôi về nơi địa ngục
Trò theo sau số phận chẳng ra gì.
Dịch: (Trang Y Hạ).

8.
Vô Đề
Dữ thiên địa hợp kỳ đức
Dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh
Dữ tứ thời hợp kỳ tự
Dữ quỷ thần hợp kỳ kiết hung. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Cùng thiện địa ắt hợp thành với đức
Cùng ngày trăng ắt hợp ánh sáng hơn
Cùng bốn mùa ắt xoay vòng tuần tự
Cùng ma tiên kiết hung ắt chờn vờn.
Dịch: (Trang Y Hạ).

9.
Vô Đề.
Thiên bách niên lai oán lý canh,
Oán thâm tự hải hận nan bình.
Dục tri thế thượng đao binh kiếp,
Thí thính đồ môn dạ bán thanh. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Ngàn năm ngập bát canh đầy thù hận,
Ân oán sâu chìm đáy biển khó tan.
Lòng thử hỏi tại sao gây chiến loạn,
Nửa đêm nghe lò mổ thịt mơ màng.
Dịch: (Trang Y Hạ).

10.
Vô Đề.
Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa,
Trí huệ xuất, hữu đại ngụy.
Lục thân bất hòa, hữu hiếu từ.
Quốc gia phân loạn, hữu trung thần. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Đạo lớn mất ắt người ngay sẽ hiện,
Có người khôn ắt có kẻ gian manh.
Gia đình rối ắt con hiền có mặt,
Quốc gia phân ắt có bậc trung thành.
Dịch: (Trang Y Hạ).

11
Vô Đề
Dĩ sanh vô hữu sanh
Vị sanh diệt vô sanh
Ly dĩ sanh vị sanh
Sanh thời tức vô sanh.

KHÔNG ĐỀ.
Sanh đã có đâu phải cần sanh nữa,
Nếu chưa sanh kể ra cũng không sanh
Sự sanh cách cớ chi mong sanh lại
Khi đang sanh chưa chắc đã sanh thành.
Dịch: (Trang Y Hạ).

     Chữ “đạo”! Hán Tự là đường, là con (đường ngay nẻo chánh) dẫn tới thiện tâm. Muốn đi tới thiện tâm chỉ có con đường thôi thì chẳng bao giờ đi tới đích mà cần phải biết hướng đi. Vậy, hướng đi đó chính là niềm tin là tín lý và giữ lời dạy của người đi trước (mở đường, dẫn đường). Tuy vậy, cũng có khi tự tu thân, tức tu tại nhà. Ông bà xưa, nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa.”. Hoặc nếu muốn phụng sự “pháp giới” tu tại nhà thì giới Phật gọi là: “Ưu bà tắc”. (cận sự nam). “Ưu bà di”. (cận sự nữ.).

     Tóm lại, phải hiếu rằng: “Thiện thí nhất lạp mễ, trọng như Tu Di Sơn. Ngật liễu bất tu đạo, phi mai đái giác hoàn,”. Tạm hiểu: (Nhận một hạt gạo, ơn nặng như núi Tu Di, Ăn rồi không tu thân, thì đội lông mang sừng mà trả.).

Trang Y Hạ
San Francisco, 2015.


Áo Trắng Ngày Xưa.


VƯỢT BIÊN: "ĐI BÁN CHÍNH THỨC".

 



VƯỢT BIÊN: “ ĐI BÁN CHÍNH THỨC.”.

          “Người nách thước, kẻ tay đao,
        Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.”. (Truyện Kiều)

     Tôi đã mua và đọc sách của các tác giả, như: “Đêm Giữa Ban Ngày” của (Vũ Thư Hiên), “Đèn Cù” của (Trần Đĩnh). “Chuyện Kể Năm 2000” của (Bùi Ngọc Tấn). “Hoa Xuyên Tuyết” của (Bùi Tín). “Những Thiên Đường Mù” của (Dương Thu Hương). “Nhật Ký Rồng Rắn” của (Trần Độ). “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” của (Tô Hải).”Đường Đi Không Đến” của (Xuân Vũ). “Bên Thắng Cuộc” của (Huy Đức)...

     Nhìn chung, thì tất cả nội dung giống như một “Goulug” quá thâm cung bí sử, như đi lạc vào thời kỳ tiền sử, cái thời còn ăn lông ở lỗ... Tuy vậy, các tác giả cũng đã trình bày rất rõ ràng khúc chiết một giai đoạn lịch sử (không tình người) đối với đồng bào trong “Cải Cách Ruộng Đất” ở miền Bắc giết hàng trăm ngàn địa chủ, giết luôn cả đồng đội. Và hơn nữa là tranh giành ảnh hưởng giữa hai phe: - “Phe thân Nga, phe thân Tàu mà chà đạp lẫn nhau không thương tiếc trong suốt cả nhiều năm.”. (Trần Đĩnh).

     Dẫu gì thì các tác phẩm đó vẫn tồn tại với lịch sử với thời gian mặc kệ sự sụp đổ như: Liên Xô, Đông Âu cũng chẳng hề hấn gì – cứ xem là “nghĩa khí tương giao” mà nơi giấu hạt cát tốt nhất là ở sa mạc. Xin cảm ơn các vị tác giả.

     Tôi chỉ trích một số ý để diễn nghĩa thêm một số đoạn từ “bên thắng cuộc”, chứ không bàn hay bình luận - cũng không bình luận các tác phẩm bởi vì khi mỗi người đọc sách thì sự thẩm thấu nhận định nhận thức tùy thuộc vào trình độ riêng biệt chứ không ai giống ai. Đôi khi cũng có vài điều rất tế nhị là “Đạo bất đồng bất tương vi mưu.”.

     Thời cuộc biến chuyển. Ngày 30.4.1975, Bắc Việt chiếm Sài Gòn bởi do Dương Văn Minh đầu hàng – (lúc nầy không còn quân đội Mỹ.). Tại sao người dân miền Nam phải vượt biên nhào ra biển để rồi bị hải tặc Thái Lan sát hại cũng như sóng dữ nhận chìm chiếc thuyền gỗ mỏng manh. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc thì khoảng 600 ngàn người vượt biên bỏ xác ngoài Biển Đông. Tại sao “thống nhất” đất nước mà nhà cầm quyền tổ chức cho đi vượt biên gọi là “bán chính thức”? Phải chăng đây là một cái bẫy?

          “Trải qua một cuộc bể dâu,
        Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”. (Kiều).

     Nhà triết học nổi tiếng nước Pháp và thế giới là văn hào Jean Paul Sartre, nói: “Kẻ nào chống cộng sản là con chó.”. Thế nhưng khi thấy tình cảnh người dân miền Nam Việt Nam vượt biên chạy trốn cộng sản, ông mới ngẩn người ra! Từ đó, ông gom góp tiền của ông, mượn của bạn hữu mua một chiếc thuyền chạy ra biển cứu người tỵ nạn.

     Cuộc vượt biên cho người Hoa do nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tổ chức hợp pháp dưới cái tên - “Đi Bán Chính Thức.”. Đi Bán Chính Thức hay còn gọi là “Phương Án 2” . Từ sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng ngày càng gay gắt và quyết liệt do CsVN nghiêng hẳn qua phía Liên Xô để nhận viện trợ... Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và Trung cộng muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, CsVN xem người Hoa là một đạo quân (tình báo) thứ năm và họ muốn “té nước theo mưa” để trả lại người Hoa Chợ Lớn về với mẫu quốc.

      Hơn nữa là chính sách “Đánh Tư Sản Mại Bản” và “Cải Tạo Công Thương Nghiệp”, cùng với Ba Lần Đổi Tiền: - (Lần thứ nhất: ngày 22-9-1975 - Lần thứ nhì: ngày 02-5-1978 - Lần ba: ngày 14-9-1985). Đã quy ra: 500 $ VNCH = Một [1] đồng Miền Bắc. Tức là, chỉ cần một [1] đồng rưỡi tiền Miền Bắc lúc đó đã đổi được một [1] $ Mỹ kim.(Chuyện nầy, chỉ duy nhất trên thế giới làm được là đồng [$] đồng Bảng Anh.).

     Đó là nguyên do chính đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ trắng tay và không tìm ra lối thoát, - Và, họ quyết định vượt biên qua các quốc gia tư bản tỵ nạn thay vì phải về với Trung Cộng mà đối với họ về với Trung Cộng thì chẳng khác gì xuống chốn địa ngục. Người Hoa ra đi vượt biên ngày càng nhiều, chết trên biển cả cũng rất nhiều. Cs Việt Nam bị thế giới chỉ trích... Để đối phó, Việt Nam cho phép (người Hoa) ra đi bán chính thức, ban đầu có thể xem ra là một (thiện chí.) xoa dịu ngoại giao đối với Trung Cộng.

     Kế hoạch ra đi bán chính thức giữ kín, chỉ phổ biến nội bộ khoanh vùng tại thành phố HCM. Tuy vậy, một thời gian sau thì kế hoạch này lộ thông tin rộng ra ở các tỉnh thành phía Nam. Theo đó, công an các tỉnh đưa giá thu lệ phí vượt biên, từ: 8-10 lạng vàng cho một đầu người, họ dùng một phần số vàng để mua tàu, đóng tàu, lập bến bãi - đẩy người Hoa vượt biên ra khơi với cam kết không bắt tàu ra đi của họ còn ở trong lãnh hải Việt Nam.

      THỰC CHẤT CỦA “ĐI BÁN CHÍNH THỨC.”.

     Một khi những thuyền nhân đã đi đến được các nước tư bản tự do an toàn thì chuyện “bí mật” cho người Hoa ra đi bán chính thức không còn giấu được với truyền thông thế giới. Do đó, Nhà cầm quyền bắt buộc cho dừng kế hoạch lại vào tháng 12/1978. Tuy vậy, phải đợi tới tháng 5/1979 mới được có hiệu lực vì phải lo tiêu thụ cho hết số tàu đã đóng còn tồn đọng cả hàng trăm chiếc.

          “Mặt trông đau đớn rụng rời,
        Oan này còn một kêu trời, nhưng xa.
        Một ngày lạ thói sai nha,
        Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”. (Kiều)

     Kế hoạch cho người Hoa ra đi bán chính thức ban đầu chỉ áp dụng cho người Hoa Chợ Lớn nhưng những người Việt có giấy tờ của người Hoa cũng ra đi vượt biên rất nhiều. Ở các tỉnh không có bờ biển cũng xin cho người dân ra đi bán chính thức như một dạng kinh doanh. Nhà cầm quyền nhận thấy kế hoạch khó kiểm soát, ngày 20/03/1981 ông Trường Chinh đã cho lập “Ban Kiểm Tra 69” kiểm tra việc thu vàng. Kết quả điều tra khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ.

     Theo dữ liệu của “Bên Thắng Cuộc” thì từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi chở theo 134.322 ngàn người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ (Mỹ Kim), và nhà cửa ruộng đất được đóng thay cho vàng để được vượt biên. Có 105 sĩ quan công an bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều vướng phải tội gian lận và lập quỹ riêng cho tỉnh. Nghiêm trọng là phải kể đến Tỉnh Minh Hải, giấu: 48.195 lượng vàng, Tỉnh Cửu Long giấu: 27.000 lượng, Tỉnh Nghĩa Bình giấu: 27.000 lượng, Tỉnh Phú Khánh giấu: 10.987 lượng…”.

          “Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
        Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.”. (Kiều)

     Các tỉnh thu vàng mỹ kim nhưng lại thất tín, số người bị lừa tiền vàng lên đến 18.435 người. Kế hoạch ra đi bán chính thức thực sự dẹp bỏ khi công an các tỉnh giao cho các thuyền nhân số tàu thuyền không an toàn, đã không an toàn lại dồn số lượng người vượt biên quá tải trọng của tàu. Bởi lý do đó mà tàu bị chìm ngay khi mới rời khỏi bến. Trường hợp đắm tàu ở Cảng Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép kinh doanh.

     Điều hiển nhiên dù không ai nói ra, nhưng mọi người cũng có thể hiểu rằng một khi ra đi vượt biên tìm tự do thì hẳn nhiên đã có tiên liệu dự trữ Mỹ Kim, vàng giấu trong người, trong tàu thuyền để phòng thân.

           TANG THƯƠNG Ở CẢNG CÁT LÁI.
  
     Vào một ngày thứ bảy, trời quang mây tạnh giữa năm 1979, từ Cảng Cát Lái người ta huy động rất nhiều công an canh gác vòng trong, vòng ngoài. Ở bên trong một con tàu vượt biên có chiều dài khoảng ba mươi mét, rộng chừng mười mét, gồm có ba tầng. Tàu này vốn là một chiếc tàu kéo trong khoang nhằm chứa đá - được thay thế cho khoang chứa nước uống khi ra khơi. Thật ra là tàu cũ thiết kế lại để chứa được nhiều người. Động cơ cũng được thay mới mạnh hơn để tăng sức đẩy. Người đóng tàu chỉ quan tâm làm sao chở được nhiều người chứ không tính toán về tải trọng của tàu khi ra khơi đối diện với sóng to gió lớn.

     Đúng giờ hẹn, số người đi đã nằm chờ suốt đêm tại Cảng Cát Lái và bắt đầu nôn nao hồi hộp... Bỗng người trưởng tàu đi ra cầm loa phóng thanh điểm danh theo danh sách. Hai trăm tám mươi [280] con người mừng rỡ lũ lượt chen chân xuống tàu, thân tàu chao đảo. Những thuyền nhân ngồi ở khoang dưới khoang đáy không chịu nổi sức nóng, ngạt thở phải leo trở lên trên mui làm cho con tàu thêm nghiêng ngả... Thuyền trưởng, do không kinh nghiệm sông nước đã bắt đầu hoảng loạn vội tìm đường thoát thân. Không còn thuyền trưởng chỉ huy, con tàu tự do từ từ chúi mũi xuống sông. Tiếng kêu la, tiếng kêu cứu từ trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương ảm đạm cả một vùng sông nước. Tiếng khóc uất nghẹn của cư dân sống trên bờ sông Cát Lái, họ than trời: - Trời ơi...! Mất hết cả rồi...! Chết hết cả rồi...!

           “Long lanh đáy nước in trời,
        Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.”. (Kiều).

     Nhà cầm quyền có điều động cần cẩu từ Vũng Tàu vào trục vớt con tàu. Người ta đếm có tất cả 227 người chết và hơn 40 người còn sống trở về từ cõi chết nhưng tất cả họ đều như những người loạn trí vì đã chứng kiến thảm cảnh gia đình tan nát còn bản thân từ nay là kẻ bơ vơ không nhà... Suy ra, chỉ có trâu bò kiến mối mới đi thành đàn, còn mãnh thú thì đi một mình!

     - Ai đã đem cho thêm một cái Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?!

     Các người khâm liệm kể rằng trong số xác chết được vớt, người ta thấy có BỐN [4] Người Mẹ Trẻ ôm chặt đứa con của mình trong lòng như những cố gắng cuối cùng với một tia hy vọng rất mong manh là giữ cho kỳ được đứa con thơ dại để hai mẹ con còn có thể cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Người ta chứng kiến kính trọng tình mẫu tử thiêng liêng, nên các người khâm liệm đã để cho hai mẹ con của họ yên nghỉ cùng nhau trong một cỗ quan tài thê lương lạnh lẽo. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất ở gần cầu Giồng Ông Tố.

            “Đoạn trường là số thế nào,
         Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.” (Kiều).

     Nỗi đau không chỉ có một cảng Cát Lái bị tai họa. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng chưa đầy một năm đã có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử kiểm tra lại vài trường hợp đau lòng khác như sau: Ở Bến Tre có một tàu chìm với 54 người chết đuối, ở Long An có một tàu chìm với người 38 chết đuối, ở Nghĩa Bình một tàu chìm với 78 người chết đuối. Và kinh khủng nhất là ở Tiền Giang có ba [3] tàu chìm đem theo 504 người chết đuối.”.

     Câu hỏi mà nhiều người người đặt ra là tàu ra khơi bị trục trặc kỹ thuật máy móc mà bị chìm hay có bàn tay “bí ẩn” đánh chìm để lấy tài sản?! Cái giá của việc đi tìm tự do quá thảm khốc. Tuy vậy, dù thảm khốc tới đâu thì người dân miền Nam vẫn tìm mọi cách để ra đi. Và hơn nửa thế kỷ sau lớp trẻ vẫn mong muốn được ra đi, - dù là ra đi để làm thuê, làm mướn hay ở đợ cũng cam chịu ra đi.

     Những sự kiện vượt biên bán chính thức hay chạy trốn khỏi quê cha đất tổ diễn ra lắm cảnh tang thương của hơn năm mươi năm về trước đã dự báo một bức tranh ảm đạm cho Việt Nam ngày hôm nay. Một nén nhang, nghiêng mình cúi đầu cầu cho các linh hồn uẩn tử về nơi an nghỉ.

Trang Y Hạ.
San Francisco – một ngày mùa đông.


LỜI GIÓ MƯA:

     Từ phương án cho người Hoa vượt biên “bán chính thức” nảy sinh ra một vụ án lừng danh thiên cổ đó là vụ án Nguyễn Hữu Giộc, tức Mười Vân giám đốc công an tỉnh Đồng Nai. Mười Vân gom góp hơn nửa tấn vàng và đã tra tấn 82 người tới thân tàn ma dại. Mười Vân chỉ là bề nổi, không biết có còn bao nhiêu Mười Vân khác nữa? Thử đặt vấn đề tại sao các chuyến đi vượt biên trước đều ra khơi bình an, số còn lại chưa ra khỏi hải phận là đã bị chìm? Câu trả lời có lẽ là của những người còn sống sót.

     Có một điều thú vị là khi kêu án tử hình (Mười Vân và Vũ Cao Thanh) thì tôi chợt nhớ ra là ngày tôi vào trại tù “cải tạo” K-4 năm 1975. Nhóm anh em chúng tôi đã thấy Vũ Cao Thanh, ông ta mặc áo bà ba, mang dép râu ra đón chúng tôi. Ông múa tay múa chân quát tháo nên anh em chúng tôi cứ nghĩ ông là “cán bộ” của trại tù. Một thời gian ngắn chúng tôi không thấy ông ta ở trong trại nữa. (Ông Vũ Cao Thanh là công chức hành chánh VNCH tại Bà Rịa.).

     Tòa tuyên án tử hình Nguyễn Hữu Giộc và Vũ Cao Thanh sau ba ngày xét xử. Mọi người vui mừng…! Nhưng không một phiên tào nào xử bồi thường thiệt hại cho hàng ngàn người bị chết oan dưới lòng sông, cho người còn sống trong các vụ đánh chìm thuyền để lấy vàng ở thành Tuy Hạ và các nơi khác.

Buồn và đau đớn thay!

Trang Y Hạ.



1/5/26

MỘT BUỔI SÁNG.

 


MỘT BUỔI SÁNG THÁNG NĂM.


          “Chàng từ đi vào nơi gió cát,

       Đêm trăng nầy nghỉ mát nơi nao”

                              (Chinh Phụ Ngâm Khúc).


Một buổi sáng bước lên xe đi tù “lao cải”

bậu đứng co ro bên mương nước đục ngầu

cơn mưa đầu tháng năm, thay cho dòng nước mắt

trở về nhà bậu hóa đá đợi bao lâu.


Đôi mắt mỏi dán qua khung cửa kiếng

vẫy tay chào hết sinh khí thần hồn

xe lăn bánh ngỡ như lăn vào nơi địa ngục

xác thân còn, tưởng co ro trong nấm mồ chôn.


Đoạn đường cũ thân quen, mỗi mùa qua ấm áp

nhìn về đâu cũng ngập ngụa khói nhang bay

hàng cây đứng ven đường, cũng cúi đầu im lặng

người lại qua ôm chiếc bóng dõi theo ngày.


Bác tài xế tuổi đời ước chừng đà hoa giáp

đoán biết rằng đã từng lái xe nhà binh

mặt khắc khổ giống một vị sư già khổ hạnh

chẳng hở một câu, bậm môi nói với mình.


Nhìn lại thân thùng thình trong bộ đồ dân sự

tuổi học sinh hiện về đau nhói cả tâm can

con ve sầu lánh mặt nằm im trong lòng đất

phượng vĩ đau bởi bầy mọt đục lụi tàn.


Màu mưa miết vẽ khung trời thêm ảm đạm

núi Chứa-Chan mây tang viền đỉnh đầu

rừng cũng khóc, khóc thay ngôi đổi chủ

đất linh-thiêng văng-vẳng nhịp vó câu.


Xe mệt mỏi chạy lòng vòng đi tìm bến đậu

ngồi trong xe lòng lo lắng phận hàng binh

thuốc độc mạnh đó chính là thù hận

chỉ còn mong thần thánh đoái thương tình.


Không kêu án, người tù biết bao giờ đoàn tụ

bậu cô đơn từng đêm gió hú úa dung nhan

đêm lạnh cẳng thân tù tỉ tê cùng đàn rệp

ngọn huân phong hy vọng giấc mơ màng.


Một buổi sáng dồn lên xe đi vào tù “lao cải”

siết đôi tay thay ngàn lời tiễn đưa nhau

bậu trở lại vô ra trong ngôi nhà lầm lũi

khắp núi đồng mong mỏi lá xanh màu.


Trang Y Hạ

(Trần Phước Hân).

Xuân Tâm, 1975.


Lời Gió Mưa:


Tôn Quyền trọng dụng Lữ Mông làm quân sư. Quan Vũ có ý coi thường, nói: “Lữ Mông đó chỉ là một võ tướng bình thường chẳng tiếng tăm, chẳng biết gì mưu lược...?”. Vậy mà không lâu sau chính Lữ Mông đã bày ra kế sách để cho Tôn Quyền đánh úp lấy lại Kinh Châu từ tay Quan Vũ một cách dễ dàng. Để mất Kinh Châu chóng vánh, Quan Vũ quá kinh ngạc, ngửa mặt lên trời thở dài: “Người bình thường lâu ngày không gặp, phải nhìn bằng con mắt khác.”.

Trần Phước Hân (Sưu Tầm).



26/4/26

THÁNG BA NHỚ NGÀY GIỖ CHA

 


THÁNG BA NHỚ NGÀY GIỖ CHA.

Cha về nằm đất đã lâu,
Dư âm đọng giọt ơn sâu nghĩa dày.
Câu thơ Đỗ Mục tạm vay,
Thanh minh một chén rượu cay ấm tình.
                                               (Trang Y Hạ).

THANH MINH
Đỗ Mục - 杜 牧 (803 - 853) Vãn Đường.

Nguyên Tác:
清明時節雨紛紛,
路上行人欲斷魂.
借問酒家何處有?
牧童遙指杏花村.



Phiên Âm:
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.
                                               
Dịch Nghĩa:
Thanh minh thời tiết mưa rơi lất phất,
Người đi đường trong lòng buồn bã thê lương.
Tìm hỏi thử có chỗ nào bán rượu?
Mấy đứa giữ trâu trỏ về hướng thôn Hạnh Hoa.


Dịch thơ:
Thanh minh rưới giọt mưa phùn,
Người đi buốt giá đường hun hút sầu.
Hỏi thăm tiệm rượu nơi đâu?
Trẻ chăn trâu nói trên lầu Hạnh Hoa.

                                            Trang Y Hạ (Dịch Thơ.).
Lời Gió Mưa:
Hãy coi chừng những tiên tri giả, chúng đến với các ngươi trong lốt chiên, nhưng bên trong là bầy sói hung dữ. Các ngươi nhận biết chúng qua những việc làm của chúng.” (Matthew 7: 15 – 16.).

"Những kẻ bách hại Hội Thánh tồi tệ nhất là những giám mục, linh mục và tu sĩ thiếu lòng tin. Sự đối nghịch từ phía bên ngoài thì khủng khiếp, nó cho chúng ta nhiều thánh tử đạo. Nhưng kẻ thù kinh khủng nhất của Hội Thánh là những kẻ phản bội trong lòng Hội Thánh!". (Đức Giáo Hoàng Pio XI).
Trần Phước Hân (Sưu Tầm).





21/4/26

SƯƠNG MẶN

 



SƯƠNG MẶN

     “Khi Vô Tích, khi Lâm Tri,
    Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương.”. (Kiều).


Giọt sương mặn lơ-ngơ vin cành mới
mắt tỏ mờ sự thế ngẫm thời qua
nắng thủa trước sót sưởi vài ngọn cỏ
mảng rêu vàng úa bám chặt cây già.

Cựu-binh dạo âm thầm vùng thất thập
ngửa bàn tay cứa chằng chịt chỉ tay
chiếc lá ghẹo sợi đầu pha hột bụi
công viên rừng ôn ấm vết nhăn mày.

Con sóc sọc mắt láo liêng nịnh bợ
bánh nửa phần chia sớt nỗi gian-nan
bầy kiến đói đánh hơi về hội-tụ
hóa ra là loài vật cũng cơ-hàn.

Cô cháu lớn Âu-Cơ trông quen mắt
có phải là Babylift hay không
quê ngoại gánh tuổi thơ ngây lận-đận
quê nội gồng gian khổ lắm chất chồng.

Cô cháu lớn Âu Cơ ngồi tư-lự
bóng người cha xứ Mỹ nhận không ra
phép mầu đợi từ phương thiên gửi tới
phận mồ côi may mắn nhận món quà.

Giọt sương mặn phủ mờ con đường muối
khay tâm hồn chưng tứ quý bao dung
bậu vượt biển nổi chìm thân nhợt-nhạt
quăng giáo gươm nào có phải anh hùng.

Công viên ẩm lạnh Hứa-Do, Sào-Phủ
có lẽ nào duyên-tập cõi lai-sinh
lũn-chũn bước chim già kêu khàn đặt
vọng (âm-dung) ngỡ gặp lại dáng hình.

Ân cựu thấm ấm buồng tim ắp-lẵm
giọt tinh anh rửa sạch lớp ứ-nê
nhả nhả ngọt, dành phần thơm hậu-duệ
bốn phương đi chỉ một hướng quay về.

Sương mặn đếm buổi tiễn trời mãng-mãng
ly sầu đong từng khúc biệt nga-nga
trót mông muội bậu có về kiến-giải
sông xanh dòng tâm khảm đậm ái-hà.

Trang Y Hạ.
(Trần Phước Hân).

Lời Gió Mưa:

 




22/3/26

ALCATRAZ, CỰU KIM SƠN.

 



ALCATRAZ, CỰU KIM SƠN.


       Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

      Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”.

                         (Bà Huyện Thanh Quan).


Hải âu rộn điểm trời Alcatraz

chỉ một tôi bận tai mắt đả-thinh

chân luýnh-quýnh đánh hơi mùi tù-rạc

chỉ một tôi đè bẹp dí bóng mình.


Sóng hiền vỗ bạch thuyền than hối-hả

chỉ một tôi lần mây bạc tỉ-tê

cặp mòng trẻ hàn ôn dường thong-thả

chỉ một tôi tịnh khẩu ngẫm tứ bề.


Lụa là khách xuống lên bờ tiên cảm

chỉ một tôi tọa vẽ bức không gian

thanh-bình ngủ xác giặc rình vây hãm

chỉ một tôi vô-tích-sự giả nhàn.


Đà sấu-nhược lẽ nào mơ hàm-tạng

chỉ một tôi “ngộ-giả-tự-đắc” di

mắt dồn mắt xé kim-cô hữu hạn

chỉ một tôi khai triển khổ diệu-kỳ.


Alcatraz ký ức dồn minh-ký

chỉ một tôi thấm tù quảy lất-lây

gươm rỉ-sét thân tâm mòn tác-ý

chỉ một tôi dàn trải sự đã này.


Cửa chánh-niệm thiền tâm xua phóng-dật

chỉ một tôi lẩn-quẩn dại khéo khôn

chữ “phân, tâm” - nhập vô lòng hóa (phẩn)

chỉ một tôi đối-diện khối u hồn.


Điệu nhạc khởi hút dồn con mắt đứng

chỉ một tôi tập tành thử nỗi vui

bồ câu tụ ăn theo mặt hí-hửng

chỉ một tôi lành đất thoáng bùi-ngùi.


Ly bia ngập vệt nắng loang man-mác

chỉ một tôi tiễn thuyền nhập mù khơi

nghĩ bậu ghé cận kề niềm tín-thác

chỉ một tôi cầm gió-xát-mưa-dồi.


Alcatraz thiên hạ sờ mó thử

chỉ một tôi tự nhủ thủa trong lao

ai thương cảm, ai giở chương cổ sử

chỉ một tôi hành-khổ bến-giác nào.


Ngày cạn nắng gom sầu miên ngấn biển

chỉ một tôi trầm trầm thủy-mộ-quan

ước sẽ gặp gặp bậu cười mắt biếc

chỉ một tôi tỉnh-giấc mộng dã-tràng.


Trang Y Hạ

(Trần Phước Hân). San Francisco, 2008.

Cước chú:

- Alcaratz, đảo tù ở Pier 39, San Francisco.

- Chữ “phân & chữ tâm” = (chữ phẩn).









6/3/26

SÁNG SỚM ĐI DẠO Ở PHỐ IRVING.

 



SÁNG SỚM ĐI DẠO Ở PHỐ IRVING.


     “Cổ lai đa thiểu anh hùng hán,

    Nam Bắc sơn đầu ngọa thổ nê.”. (Thơ cổ.).


Sương sớm vẽ oằn cành chim nín đợi

nắng hẹn lên soi rõ cảnh hững-hờ

phố Tàu nhỏ ẩn thân mây vời-vợi

giữ lòng vui ngẩng mặt bước bơ-vơ.


Tóc dính khói rừng Kon-Tum lốm-đốm

núi Dak-Tô gốc rễ bám nhức đầu

cổ-thụ mỏi canh dốc đèo lồi-lõm

bóng người xưa mờ tỏ diện đêm thâu.


Cô bé đẹp da vàng tóc râu bắp

dẫn chó cưng thong-thả gặp tương-lai

đầu gối mỏi níu khung-trời xuống thấp

bậu ở đâu, hàn ôn kỷ-niệm ngày.


Đi mấy đỗi trố mắt soi Muội-Hỉ

sắc y nguyên sắc đẹp tựa trăng sao

Nhà Hạ oán oán than bao thế-kỷ

họa hồng nhan cớ chi trách má đào.


Nhi nữ phận lưu hồn câu phồn-thể

tự hiểu giùm, nhi nữ chẳng thường tình

mương lạch hẹp lật thuyền bởi khinh dễ

mất tự tin, chạy cầu cứu thần linh.


Đi đỗi nữa nheo mắt nhìn Đắc-Kỷ

ông Tỷ-Can, vấn sự chuyện vô tâm

thế thái nát, đức tài ra vô vị

ưu-bà-di, sám hối nhận lỗi-lầm.


Dạo đã đuối, ngắm cựu hoàng Lưu-Thiện

say chơi “game” loạn tam quốc phân tranh

lật sử lịch điểm một thời miên-viễn

kích-trầm-sa, mộng vương bá không thành.


Quay mặt gặp Từ-Thứ ôm mả mẹ

ký ngữ dòng lệ ngọt thấm khăn tang

vò đất tổ ẩn đời suy lặng-lẽ

tâm thường minh di-xú ngậm bẽ-bàng.


Liễu-sanh-tử, có thể nào có thể

bỉ-ngạn-tề, lãnh noãn vọng viễn-ly

nhân-trung-thánh, nhân sinh tầm đâu dễ

dược-thọ-vương, vấn lệ xót hạn kỳ.


Mùi gió cựu âm phong hờn đất trích

quy tội đồ chịu khiển-trách lưu thân

đang lành lặn tai ương mùa ôn-dịch

đang an vui mắc mớ lại (bào phần).


Gánh quốc nhục, hoạt-tử-nhân ngơ-ngác

thèm nén nhang lơ-lửng ấm mộ hoang

gió biển xát xát muối đau đau rát

hơi thở ra lửa khói lửa điêu-tàn.


Dầm bậu xót khua hai bờ Bến-Nghé

sông Sài-Gòn dòng nước mải chia đôi

biết sao gặp nói mấy lời cặn-kẽ

lời nhạc êm thêm ray-rức bồi-hồi.


Hơi Starbucks quyện Brodard dịu ngọt

bậu vờn qua tà áo xé nát hồn

mưa Đại-Lộ hắt vô lòng từng giọt

nắng có về tìm lại dấu hoàng-hôn.


Trời còn sớm thân xa đà hết sớm

phố Irving quanh-quẩn ngắm thời qua

đường bằng-phẳng đi hoài bong lởm-chởm

trải bản-đồ chấm tọa-độ về nhà.


Trang Y Hạ.

(Trần Phước Hân).







CHỮ "MÌNH" & CHỮ TÔI".


CHỮ “MÌNH” & "CHỮ TÔI".

     “Mình ơi tôi gọi là nhà,
       Nhà ơi tôi gọi mình là nhà tôi.”
. (Bùi Giáng).

     Một nữ thi hào gởi cho tôi bài thơ và nói: - “Mình mới làm xong bài thơ, bạn mình đọc rồi cho mình biết ý kiến nha!”. Tôi trả lời rằng: - “Cô thi sĩ ơi! Tôi với cô nào có phải là tình vợ chồng thắm thiết chi mô mà cô xưng hô (mình) với tôi ngọt như mía lùi vậy hử…?”.

CHỮ MÌNH:

     Trong bài viết nầy tôi không cần phải giải thích, phân tích gì thêm về “chữ mình” trong cách xưng hô như thế nào nữa, bởi vì tự xưa nay ai cũng biết chữ mình - đại từ xưng hô thân mật giữa hai người (nam, nữ), mà phần nhiều là ở trong tình vợ chồng. Theo: Hán Nôm: Chữ mình(𠵴, 𨉟) là một cách xưng hô âu yếm, tự thân nó đã nói lên sự yêu thương, sự chung tình tuyệt đối gần như bất di bất dịch - ranh giới đó không thể tan rã ra như sương buổi sáng. Và, cũng có thể nói đó là sự khẳng định (luật bất thành văn) không một ai chen ngang qua lằn ranh đó. Chữ mình trong sâu thẳm là một sự cô độc, cô độc giữa đằm thắm, diệu vợi, hy vọng nhưng lại ẩn giấu tự trong bản thân. Từ đó, một khi cất tiếng gọi “mình ơi” là màn sương cô đơn biến mất, một hơi nắng ấm tràn về từ cái nhìn, từ tay trong tay, từ cái nghiêng đầu dựa vào vai nhau - giây phút nồng ấm là một sự hồi sinh, sự rung động mãnh liệt của cả hai thực thể… - đó là hạnh phúc; đó là che chở.

     Tiếng gọi “Mình ơi” không thảng thốt giục giã; không ồn ào giống tiếng búa bổ đinh tai nhức óc mà là tiếng của tâm lòng; của tình thương yêu vô cùng dịu êm thánh thiện. Tiếng gọi mình ơi kèm theo từng ánh mắt nặng trĩu ân tình; từng cử chỉ trân trọng, bày tỏ…, không gian lúc bấy giờ chỉ còn là nhịp đập của hai trái tim.

     Theo: Hán Nôm, nếu viết thêm chữ "một" (
) kèm theo thì sẽ thành ra chỉ có “MỘT MÌNH”, có nghĩa là “chìm mất, lặn mất (mặt trời).”. “Từ khước thiên biên nguyệt, một nhân tri”. (Ngoại trừ bóng trăng trên trời, chỉ có một người biết.). Do đó lúc đã ở một mình thì sự cam chịu ẩn kín trong lòng nỗi cô đơn, nỗi cô độc – khoảng vắng chính là nét dịu dàng là tha nhân, tất cả biến thành im lặng, - chẳng có một ai để đối thoại hay đối thoại với người nơi cõi xa xôi, với người ở phía “hằng hữu”. Lúc nầy chỉ có (cảm) chứ không thể (nhận), - không nhận không có nghĩa vô tình, mà “tình trong như đã…”. Tuy vậy, “một mình” tự vấn nghe ra có vẻ đơn độc, song le nếu hiểu thấu ra không phải là không có ai bên cạnh - mà “đã có” một ai đang chờ, họ có đầy đủ, hoàn hảo, kiên nhẫn chờ…! Thăm thẳm sâu trong “một mình” sẽ “liễu nhiên ư tâm”. (sáng tỏ trong lòng). Những điều kỳ vĩ từ vũ trụ bao la không có nghĩa là sẽ không gặp lại – một chu trình khép kín sẽ từ từ mở ra.

    Chữ “mình” thiêng liêng, trìu mến, hạnh phúc đã đi vào ca dao chứa đầy sự tha thứ, sự bao dung đùm bọc lẫn nhau bằng một tình yêu sâu đậm vô điều kiện, chứ không phải lòng trắc ẩn thương hại.

  • Mình nói với ta mình hãy còn son,
  •  Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
  •  Con mình những trấu cùng tro,
  •  Ta đi xách nước rửa cho con mình.”. (Ca Dao).

    Hoặc: - Trong lòng lo lắng, hụt hẫng chẳng biết nhớ cái gì cho phải lúc bịn rịn ra về mà đành hỏi bâng quơ, hỏi cho có hỏi, như:

     “Mình về có nhớ ta chăng,
      Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.”.

Không nhớ cái gì cho (đáng nhớ), lại đi nhớ hàm răng của nàng làm chi không biết nữa...!?

     Đã có một Thúy Kiều khóc trước mả Đạm Tiên – khóc cho một người con gái tài hoa đã chết từ xa xôi diệu vợi chưa hề một lần diện kiến. Tiếng khóc của cô Kiều là tiếng khóc của sự “đồng cảm”, của tức cảnh sanh tình.

     “Khóc than khôn xiết sự tình,
       Khéo vô duyên bấy là mình với ta!”
(Kiều)

     Định mệnh hay số phận tự xưa cho tới hôm nay không bao giờ chịu đứng yên một chỗ. Duy chỉ có tình chồng vợ là sắt cầm hòa minh được nâng lên “ĐẠO VỢ CHỒNG”, nếu giữ được trọn đạo vợ chồng là coi như hoàn thiện một kiếp nhân sinh phù hợp với trời đất, phù hợp với giáo lý của các tôn giáo. Và, một khi đã thấy được “số mệnh” thì đừng có bận tâm cho đường về.

     Tuy vậy, hiện nay nhiều người hiểu sai ý nghĩa chữ “MÌNH” và viết sai chữ mình trong thơ văn cũng như khi đối thoại... Tôi đọc nhiều bài thơ, bài văn thấy các tác giả lấy chữ “mình” để diễn tả nội tâm, trò chuyện thân mật nơi chốn đông người, nơi diễn đàn văn thơ rất bình thường như chồng vợ yêu thương thỏ thẻ với nhau nơi chốn riêng tư.

     Biết rằng, chữ “MÌNH” nếu là “Danh Từ” thì: - Mình là bộ phận cơ thể của người, của động vật (không kể đầu chân tay.). - “Để mình trần.”, - “Đau mình nhức mẩy.”, - “Gieo mình xuống sông.”. Cá nhân, thì: - “Sống cho hết mình.” và “Một thân một mình.”. Bộ phận tạo ra hình dạng: - “Con thuyền đắm mình trong mưa to gió lớn.”, - “Con cá dày mình.”. Còn “Đại Từ: (khẩu ngữ) gọi chung lại một cách thân thiết: - “Bạn đi với mình.”, - “Bọn mình học chung trường.”. “Mình ba đứa hôm nay gặp nhau nâng ly cà phê ngát mùi hương ngọt ngào. Chiều thu về gió lạnh đìu hiu thấy tâm tư dạt dào thấy buồn buồn làm sao…”. Nhạc phẩm (Ly Cà Phê Cuối Cùng). Còn dùng để chỉ cho bản thân, thì: - “Lúc nào cũng nghĩ cho riêng mình.”, - “Mình làm mình chịu còn trách cho ai.”.

CHỮ TÔI:

     “ Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng
        Thương về con nước ngại ngùng xuôi
        Những người em nhỏ bên kia ấy
        Ai biết chiều nay có nhớ tôi.”.

                        Trích thơ: (Hoàng Trúc Ly).
Và:

      “Tôi trở lại căn nhà xưa đổ nát
        Tìm mồ chôn tình sa-mạc hoang-vu
        Kỷ-niệm nào tan theo vùng ảo-giác
        Tôi đứng bâng-khuâng vuốt mắt sương mù.”.

                           Trích thơ: (Trang Y Hạ.).

      Ngày nay chữ “TÔI” biến mất trong văn chương, trong giao tiếp hằng ngày kể cả trong hành chánh, công sở và trên các trang mạng xã hội… Tất cả đều xưng (Anh, Em). Đáng nói hơn là mỗi khi gặp cấp trên đều xưng Anh, Em với vẻ khúm núm, cúi đầu... Đáng lo ngại hơn là xử dụng chữ mình một cách thiếu giáo dục, thậm chí có thể nói là “Mất Dạy, mất lịch sự”, mỗi khi tới nhà người khác thì nói trống không, nói không chủ ngữ. Ví dụ điển hình, như: - “Chào cả nhà.”, - “Chào mọi người.”, - “Mời mọi người.”, - “Mời cả nhà.”, - “Mình chào mọi người.”; - “Mình chào cả nhà.”. Hoặc: - “Mọi người có đọc thơ, văn của mình viết không?”. “Ngày mai mình có hẹn đi chơi.”; “Mình đang viết văn, làm thơ.”; “Mình không rảnh để nói chuyện với mấy người.” “Mình quay YouTube nầy cho các người xem.”, “Mình cảm ơn mọi người quan tâm tới mình.”, “Mình mời mọi người cùng ăn.”. (Phát ngôn không phân biệt lớn nhỏ, không kêu đích danh ai, chỉ nói trống không, ai hiểu thì hiểu.).

     Thẳng thắn mà nói: - Những người kém học thức, mất nhân cách, thiếu tự trọng thì có thể bỏ qua, nhưng các vị trí thức; các vị có bằng cấp cao, các vị: thi hào, văn hào, ký giả xài mấy câu văn đó trong ở trong tác phẩm thì thiết nghĩ không thể chấp nhận được. Thậm chí là làm hư hỏng tiếng Việt.

     Ngày xưa, dưới mái trường miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), học sinh được dạy “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” – qua môn “Công Dân Giáo Dục & Môn Đạo Đức”. Ví dụ: Đi ra đường gặp người lớn phải cúi đầu chào, gặp đám tang đi qua phải đứng lại dở nón cúi đầu… Đi thưa, về dạ - xưng hô lễ phép. Ví dụ: Kính thưa quí vị! Kính chào quí vị! Kính chào quí ông bà! Kính thưa quí ông bà anh chị em! Kính mời ông bà bác chú cô dì dượng cầm đũa ăn bữa cơm lấy thảo! Thân mến chào bạn hữu xa gần…! Kính mời quí vị xem buổi trình diễn của chúng tôi… Những câu xưng hô lễ phép lịch sự tôn trọng còn nhiều lắm…!

Giải Thích Thêm Về CHỮ LỄ:

      (Thuyết Nhà Phật, có: “BÁT ĐỨC” là: (Hiếu, – Để, – Trung, – Tín, – Lễ, – Nghĩa, – Liêm, – Sỉ). Nghĩa là chữ “LỄ” đã có từ rất lâu ở trong thuyết nhà Phật, chứ chẳng phải do ông Khổng Tử viết ra sau này. Theo Hán Tự, chữ “Lễ” = Đối xử bình đẳng chứ không cậy quyền thế, ỷ thế để bắt phải giữ lễ. Chữ Lễ (phồn thể) gồm hai phần: - Bên trái là bộ Thị “示”(Kính) - Tượng trưng cho các đấng thần linh, tôn giáo... Bên phải là chữ Phong “豊”. (Gói) : Biểu tượng cho lễ vật để cúng tế trời đất, tổ tiên ông bà cha mẹ…! Bản chất của chữ Lễ là không khoanh tay cúi đầu khúm núm trước kẻ hèn, kẻ độc ác bất nhân mà đánh mất lòng tự trong, nhân phẩm, nhân cách, tư cách và danh dự mà đó là sự THÀNH TÂM. Chữ “Lễ” qua giản thể “礼”thì mất chữ “Phong”. Do đó chữ Lễ không còn thần linh thiêng liêng, đạo lý cũng không cúng tế lễ vật. Chữ lễ Giản Thể có thể nói là “Vô Thần”….).

     Tốt nhất là: “Biết giữ chừng mực với những ai không tôn trọng với ta đó là cách ta giữ Lễ ”禮”với bản thân.”.

      Chữ “TÔI” (Hán Nôm) là đại danh xưng ngôi thứ nhất khẳng định ví trí vững vàng tự tin trước người đối diện dù người đối diện có cấp bậc chức vụ lớn ở trong xã hội cũng mặc kệ. Xưng “TÔI” là tự xác nhận Bản Lĩnh trước sự sợ hãi cũng như nể nang... Và, nếu có bắt tay thì phải bắt một tay, mắt nhìn mắt người đối diện, đứng thẳng người - tuyệt đối không cúi gập lưng khúm núm sợ sệt. Chữ TÔI khi xưng hô trước công chúng - nghĩa là xác định: - Nhân Cách, Tư Cách, lòng Tự Trọng của chính bản thân và Tự Hào, Hãnh Diện trước cộng đồng xã hội kể cả kẻ có quyền lực, còn nếu ở một nơi riêng tư chỉ có [hai người] hay ở trong gia đình thì muốn xưng hô cách nào thì tùy ý.

  • "Mình ơi, tôi vẫn đợi mình,
  •  Mình ơi, tôi vẩn chờ mình đợi tôi.".
  •                      Thơ: Trang Y Hạ).

     Chữ “MÌNH”, nghĩ theo cách nào, viết theo cách nào thì cũng chỉ quanh quẩn trong cái khung tình cảm nồng ấm rất tế nhị mà nhiều nhất là ở trong tình nghĩa vợ chồng. Còn chữ “TÔI” chữ đó mới là cái chữ hun đúc ý chí trung trực, giữ lại danh dự trách nhiệm cho bản thân, cho xã hội, cho văn chương thi phú... Chữ TÔI đem lại cho con người niềm tự hào, tự tại, khảng khái, hào sảng ngẩng cao đầu với nhân gian với trời đất.

     Tôi mượn mấy câu thơ trong bài “Hai sắc Hoa Ti Gôn”, để tạm dừng bài văn tại đây.

     “Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
       Một mùa thu trước rất xa xôi
       Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
       Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi.”.
(TTKH).

  • Trang Y Hạ. (Trần Phước Hân).
  • San Francisco.

LỜI GIÓ MƯA:

- “Giáo dục là cái đền thiêng.”. (Ngô Đình Nhu).

Vậy là, một khi cái Đền Thiêng đó không linh thiêng nữa thì lũ quỷ sứ sẽ làm loạn.

- “Văn chương Việt Nam sau “giải phóng” như nước lọt xuống rá.”. (Sơn Nam). Ý là, văn chương viết theo “Tấm bảng chỉ đường nơi cuối phố”, với thứ ngôn ngữ quái đản, dị hợm.

- “Đất nước mất còn có thể lấy lại được, Văn hóa mất là mất hết.”. (Tưởng Giới Thạch).

Trần Phước Hân. (St).