
BÀI THƠ CỨU RỖI.
“Làm
thơ là gởi tấm lòng vô thiên cổ chứ không phải lưu
danh nhất thời.”.
Trần
Tử Ngang
(661
– 702).
Buổi sáng sông Ui
sương rừng âm u dày đặc... Tôi ngồi co ro ở trong cái
chòi rẫy với bếp lửa khói bay mù mịt, ấm nước méo
mó nghiêng ngả trên ba cục đá ong tượng trưng cho ba ông
táo. Tháng mười một thời tiết hết mưa không khí lạnh
mùa đông ùa về lành lạnh cái lạnh của rừng núi lúc
nào cũng tê tái ảm đạm nhưng không thể nào so sánh
được với cái lạnh kinh hồn trên vùng cao nguyên DakTo,
KonTum.
Tôi
được ra
tù “cải tạo” sau bảy năm, - đó
là năm
một ngàn chín
tám mươi hai, - vừa
về tới nhà tận
mắt thấy cảnh cảnh
cửa nhà xiêu vẹo mục
nát... Mẹ tôi, mẹ
đã già lại góa bụa
từ lâu thân đơn
nuôi bầy con
khôn lớn nhưng
cũng may là thời Miền
Nam đi
học không phải bắt
đóng học phí, đã vậy
còn được phát sách vở cho
nên dù
đông anh em
chúng tôi vẫn
được cho
ăn học đàng hoàng. Đau
ốm chuyển
vô bệnh viện được bác sĩ y tá tận tâm chẩn
đoán trị liệu chứ
không đòi hỏi
phải đóng tiền
trước rồi mới cứu
chữa.
… Là người con trai
đầu tôi vội lao vô rừng tìm đất canh tác tạo ra lương
thực để giúp đỡ gia đình. Nhìn chung tất cả xã hội
đều nghèo đói như lời ông trưởng trại tù nhắc nhở:
“Các anh ra khỏi trại, các anh sẽ đối diện với
nhiều khó khăn bên ngoài xã hội, mong
các anh hiểu cho đất nước mới thống nhất
còn nghèo túng mà đừng có ý chống đối
cách mạng gây thêm tội lỗi như các anh đã
từng làm tay sai cho đế quốc Mỹ gian ác...!”.
Và lời nói thầm thì của người bạn tù cùng phòng còn
ở lại: “Thằng nào thoát được nhà tù nhỏ
bước ra nhà tù lớn thì tìm đường bay, chứ
họ thả chứ không hề tha.”.
Buổi sáng ở rẫy
sương núi lạnh tê tay tôi nhen bếp lửa lấy một nhúm
râu bắp đã phơi khô cho vô cái chén đất chế nước
sôi đậy kín chừng vài ba phút... Tôi uống nước râu
bắp thay trà uống đã lâu như vậy rồi! Ngày cuối tuần
về nhà đi dự lễ nhà thờ, ra quán cà phê với bạn hữu
mới được uống nước trà. Ngày Chúa Nhật về nhà cũng
đâu có được nghỉ thoải mái còn phải vác cuốc xuống
ủy ban xã mần công tác “xã hội chủ nghĩa”. (công
việc nầy chỉ áp dụng cho người tù cải tạo chưa có
quyền công dân.). Sáng ngày thứ hai đầu tuần lại đùm
gạo mắm muối đạp xe đạp thồ vô rẫy ở, nhịp điệu
thời gian xoay vòng vòng như cái đèn cù.
Khoảng gần cuối
tháng mười mùa mưa đã hết đó là lúc bận rộn gặt
hái... Ngoài ngày tức ra (tháng giêng) lại bận rộn công
việc nhổ mì xắt mì, phơi khô vô bao tời thồ về bán
cho tập đoàn hợp tác xã. Trong các loại nông sản thì
nhổ cây mì khá vất vả.
Sống dưới cõi trần
gian thiết nghĩ có người lấy linh hồn tạo ra của cải;
cũng có người lấy của cải để tạo ra linh hồn. Sinh
tử chẳng qua là một cuộc giao dịch trao đổi qua lại
khá sòng phẳng. Ở đời hễ bỏ ra cái gì thì sẽ gặt
hái được cái đó! Và, vận mệnh giống bàn cờ tướng
đã có bày trận sẵn. Tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã,
- tất cả đã được ấn định phần trách nhiệm, hoàn
thành hay không hoàn thành đó là phần phúc của người
cầm quân cờ. Do đó, phải mần đổ mồ hôi sôi nước
mắt thậm chí phải đổ máu ra tranh giành mới có ăn,
cái mặt.
Một buổi trưa đang
nằm nghỉ trên võng với con chó luôn quanh quẩn kế bên
như một người bạn hữu thân thiết... Tự nhiên nó vùng
dậy chạy ra ngoài gầm gừ... Tôi nhìn theo thấy một cô
gái đang chạy xe đạp về hướng chòi... Tôi nhận ra
ngay đó là cô em gái út. Không biết cô em chạy vô rẫy
mần chi mà trông bộ hấp tấp...? Không lẽ mẹ cho thức
ăn? Tôi nghĩ vậy!
Cô em dựng chiếc
xe đạp vô vách chòi rồi nói liếng thoắng:
- Em khát nước quá…!
- … Thì có nước
râu bắp trong ấm đó! Tôi nói.
Cô em cằn nhằn:
- Em không uống được
nước râu bắp đó đâu.
- Vậy thì có sẵn
nước sông Ui ở trong cái bình nhựa. Tôi chỉ tay về chỗ
đống bắp vừa mới lột vỏ.
Cô em gái vừa uống
nước vừa thuận tay lột vỏ bắp lai rai, nói:
- Anh hai…! Anh đi tù
“cải tạo” bảy năm là vì cái tội anh làm chức
“Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến” gì đó phải không…?
Tôi ngạc nhiên vì
cắt cớ chi cô em khươi lại chuyện cũ của tôi ra? Không
lẽ trên xã họ xuống làm khó dễ gia đình...? Tôi trả
lời:
- Đúng như vậy đó
em gái! Tại sao em lại hỏi vậy hử? Có chuyện chi không?
Cô em gái rút từ
trong túi áo ra một tờ báo xếp mần tư đưa cho tôi, rồi
nói:
- Vậy là có chuyện
cho anh mần rồi đây... Báo “Tuổi Trẻ Cười” đăng
rằng có một cuộc thi thơ “trào phúng” chi đó anh đọc
thử xem... Viết văn mần thơ là nghề của anh. Anh cứ
viết gởi đăng may ra trúng giải kiếm tiền thưởng vả
lại anh còn được xã trả “quyền công dân”; xã cho
vô “hộ khẩu”, lại được cho làm “chứng minh nhân
dân” mới. Còn chúng em xin vô ngành sư phạm chắc cũng
dễ dàng hơn. Em nộp đơn xin mấy lần đều bị họ từ
chối vì gia đình có người anh ruột đi mần “ngụy bán
nước cho đế quốc Mỹ cọp beo.”. Cô em gái nói một
mạch không nghỉ cứ như là đã có sắp xếp từ lâu ở
trong đầu rồi vậy.
Tôi nhìn em gái cười
rồi nói giỡn:
- Này cô Út. Anh nghe
thiên hạ kháo nhau rằng: “Chuột chạy cùng sào
mới vào sư phạm. Thầy giáo dứt cháo, Thầy giáo tháo
giày…!” kia mà! Trong xã hội ngày nay ngành giáo dục
là ngành có giá trị thấp nhất, bạc đãi nhất, các
thầy cô phải ra ngồi đầu đường xó chợ... - Cô giáo
thì mua đi bán lại rau trái kiếm từng đồng! Thầy giáo
ngồi vỉa hè vá xe, sửa xe đạp để mưu sinh cho qua ngày
đoạn tháng! Lương thì ba đồng ba cọc chẳng thấm đâu
vào đâu! Thậm chí đồ đạt bàn ghế của cải dành dụm
cũng đem ra ngoài đường bán kể cả nhẫn cưới... Sĩ
diện của người thầy trong (xã hội mới) còn thua xa một
người du kích. Vậy thì các em nhào dzô đó mần chi hỉ?
Cô em gái Út cười
lớn. Cười xong cô, nói:
- Anh quanh năm ở rẫy
mà cũng quan tâm để ý tới chuyện thế sự he! Vật đổi
sao dời lòng người cũng thay đổi theo mà anh! Người
chết đuối thông thường là người biết bơi! Cuộc sống
hiện nay nhìn kỹ thì làm chi có an bình, dẫu cho là có
an bình thì an bình đó đã có người khác lo giùm. Chúng
ta cúi đầu im lặng cúi đầu theo sự an bình của họ,
đó là an bình! Thôi, em đi về nhà đây! Anh phải nhớ
mần thơ đó nha! Ngày mai em vô em lấy bài thơ để đem
ra bưu điện gởi cho kịp thời gian ấn định.
Tôi nhìn cô em dắt
xe ra về mà nghe trong lòng dậy lên một nỗi buồn xa
vắng, buồn cho lớp trẻ có học vấn nhưng không chỗ
dung thân. Tự nhiên nhớ tới câu “Nhân sinh triêu lộ.”.
(Đời người như giọt sương sớm mai.) quay cuồng tan
biến dưới ánh nắng buổi sáng, điệp khúc cứ mãi quay
vòng tới vô tận. Cô em quay lại nhìn tôi với ánh mắt
tràn trề hy vọng lại đưa tay lên cứ như là biết chắc
chắn đã nắm phần chiến thắng. Tôi không ngờ rằng cô
em gái Út lại tin tưởng tài thơ văn của anh trai tới độ
như vậy.
Tôi đọc tóm tắt
nội dung thể lệ cuộc thi thơ của tờ báo “Tuổi Trẻ
Cười”, chủ đề: “Khuyến khích mọi người vô: Tập
đoàn, Hợp tác xã.”... Bài thơ gởi về số 161 Lý Chính
Thắng Quận 3. (Đường cũ là Tam Nguyên Yên Đổ, Sai
Gòn.). Mần một bài thơ có chủ đề “khuyến khích”
trào phúng như vậy thì không khó mấy, cái khó là tôi -
một người của bên “đầu hàng” bị tù đày nhiều
năm, tấm giấy tùy thân cũng chưa có. Nghĩ sâu xa hơn thì
họ chỉ (thả) ra khỏi nhà tù “cải tạo” chứ chưa
hề họ nói tha bổng. Bản án “ngụy” luôn đè nặng
lên bản thân gia đình! Con trai con gái đi học lo sợ
không dám khai ra lý lịch lai lịch của người cha đi tù
“cải tạo”! Thôi thì tạm an ủi, rằng: - Con người
đã và đang sống trên cõi đời nầy, thì sống ở bất
cứ nơi đâu, chẳng phải cũng là như đang ngồi trong nhà
tù đó sao?.
Nghĩ mà buồn, mấy
cái giấy tờ tùy thân ngày xưa Chánh phủ Miền Nam họ
cấp cho người dân rất dễ dàng, như: Tờ khai gia đình,
Thẻ căn cước, chưa khi nào chánh phủ quốc gia đặt
điều kiện hay mần khó dễ bất cứ ai. Ngày nay không
“hộ khẩu” là không thể có giấy khai sanh cho con,
không khai sanh thì con không thể đi học. Không hộ khẩu
là không thể mần giấy hôn thú được. Không hộ khẩu
thì không mua được lương thực, thực phẩm được…!
Nhìn chung, những cái giấy tờ tùy thân trong xã hội mới
này là cái dây thòng lọng...!
Lịch sử lưu lại
những thi sĩ mần thơ bị đảng phái, vua chúa bắt bỏ
tù, bị mất chức, bị buộc uống thuốc độc trong lao
tù, bị xử chém… Tiêu biểu như sau:
Thi sĩ Hữu Loan, trong
“cải cách ruộng đất” ở Miền Bắc, ông bị thất
sủng đành dẫn vợ con lên rừng chẻ đá bán để sống
qua ngày đoạn tháng vẫn bị theo dõi cho người âm thầm
thủ tiêu. Thi sĩ Hữu Loan may mắn thoát chết là bởi
người theo dõi ông đã có đọc thơ ông, mê thơ ông nên
“người đó” không xuống tay hạ sát!
Thi sĩ Trần Dần, có
câu: “Ta bước đi không thấy phố không thấy nhà,
chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ.”. Câu thơ tả
về hiện thực xã hội với tấm lòng nghĩ về quê hương
đất nước có sai đâu? Người ta cho rằng câu thơ quá
mẫn cảm đụng chạm tới (chỗ không nên đụng chạm.).
Từ đó ông bị hành hạ lên bờ xuống ruộng, thơ của
ông chỉ tồn tại trong lòng người yêu thơ ông.
Thi sĩ Quang Dũng với
câu thơ: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.” cũng
cùng chung số phận bị gán tội có tư tưởng “tiểu tư
sản.”. Ông cũng bị hành cho lên bờ xuống ruộng!
Trong
Thủy Hử... Tống Giang
bị đày đi
Giang Châu, lúc
tới Tầm Dương buồn đời uống rượu
mần thơ
đề trên vách…, nhưng không
may cho Tống Giang bị
tên Hoàng Văn Bính tố
cáo. Quan phủ
Giang Châu hàm hồ ra
lệnh bắt Tống Giang tống ngục vì
tội mần
thơ phản trắc.
Thời
Chúa Nguyễn, danh tướng Nguyễn Văn Thành là vị khai quốc
công thần nhà Nguyễn, ông có con trai đầu là Nguyễn Văn
Tuyên cũng là phò mã
của vua Gia Long. Tuyên làm bài thơ tặng cho một người
bạn, nhờ tên Nguyễn Trương Hiệu chuyển giùm. Tên Hiệu
đem thơ dâng lên vua Gia Long. Vua Gia Long đọc thơ rồi
phán rằng con rễ mần thơ có ý chống đối, liền ra
lệnh bắt Nguyễn văn Thuyên xử chém. Tướng quân Nguyễn
Văn Thành dù là cha ruột cũng liên can và bị tống giam
vô ngục, buộc uống thuốc độc chết.
Tôi
cũng hy vọng mần
thơ
bày tỏ chính kiến nói
lên sự thật hầu gặp
được sự may mắn cứu
rỗi
hay xuống địa ngục
như các thi sĩ tiền bối?
Trong một xã hội chỉ
biết nịnh bợ, rình rập vạch lá tìm sâu nhằm
hại nhau thì những tác
phẩm văn chương hàn lâm kinh điển sẽ không bao giờ
có, nếu có cũng không thể
tồn tại. Văn sĩ Goerge
Orwell, viết “Trong
một xã hội đầy rẫy sự gian dối, cất lên một tiếng
nói chân thật là một hành động cách mạng.”.
Câu danh ngôn của
Rimdranath Tagor, đã viết: “Kẻ yếu rất đáng sợ,
bởi vì họ điên cuồng tìm cách tỏ ra mình mạnh mẽ.”.
Đúng như vậy! Kẻ thắng lên làm vua dù có nói sai nói
hàm hồ cũng là chân lý. Bên thua trở thành giặc cướp
bị tù đày bị vu khống đủ thứ tội...! Bởi vậy, kẻ
yếu tìm mọi cách để “mạnh mẽ” nhằm nói ra sự
thật của kẻ gọi là chiến thắng, đã dùng mưu hèn kế
bẩn để thắng. Đó là quy luật “được, mất” chẳng
những đối với con người mà cả động thực vật cũng
tranh hơn thua.
Trong lòng lo nghĩ,
lịch sử là vòng tuần hoàn nên tôi do dự suy tính có
nên mần thơ gởi đi “dự thi” ở báo Tuổi Trẻ Cười
hay không? Tôi bây giờ như con chim sợ cành cây cong gặp
du kích ấp còn e dè, huống hồ là viết văn mần thơ!
Nhưng tôi lại ám ảnh bởi ánh mắt tràn đầy hy vọng
của cô em gái. Tôi không thể tàn nhẫn dập tắt đóm
lửa hy vọng mong manh đó của em gái được. Tôi không
say rượu như Tống Giang... Tôi tỉnh táo nhưng lại lo
ngại bài thơ mà tôi sắp mần ra có bị ai đó giống như
Hoàng Văn Bính và Nguyễn Trương Hiệu, vạch lá tìm sâu
mà ghép tội “phản động” chăng? Người đời là vậy,
muốn bắt tội một kẻ nào đó thì có muôn ngàn lý do
để bắt tội.
Người xưa nói: trâu
đạp cũng chết, bò đạp cũng chết. Vậy thì đàng nào
cũng tiêu đời thì cớ chi phải trốn tránh? Tại sao phải
sợ sệt? Tại sao không mạnh mẽ đối diện với thực
tại? Tự lên tinh thần nên cảm thấy phấn chấn rồi
bước ra khỏi cái chòi tranh vươn vai thở không khí núi
rừng... Đêm nay phải mần thơ, mần thơ mà thiếu rượu
quả là thiêu thiếu…! Tôi leo lên ụ gò mối nhìn qua
cái chòi của lão bạn rẫy hàng xóm hy vọng hỏi vay được
của lão nửa xị rượu đế. Chỉ cần vay được nửa
xị rượu đế thôi là quá đủ rồi! Vay rượu đế mà
thấp thỏm lo sợ mới là lạ! Túi thơ bầu rượu mà!
Thời gạo châu củi quế, giọt rượu thiêng liêng quí
báu ngang giọt nước thánh!
Dù ở bất kỳ hoàn
cảnh đau thương nào con người cũng cần có rượu ngay
cả ở trong tù. Bởi rượu là men của sự sống, rượu
là lễ, rượu là nghĩa để tưởng nhớ trời đất tổ
tiên ông bà cha mẹ, rượu là nhịp cầu giao hảo và cũng
để tạm xóa đi nỗi buồn nào đó…! Không có gạo, có
nếp thì nấu rượu bằng bắp, bằng khoai mì... Thời
buổi đảo điên “ngăn sông cấm chợ” người nấu
rượu cũng phải nấu rượu chui. Người mua rượu cũng
phải mua rượu chui. Mua được rượu đem về nhà nhậu
với bạn hữu anh em cũng phải nhậu chui trong im lặng…!
Người xưa nói đúng: “Vạn sự bất như bôi tại
thủ, Nhân sinh kỷ kiến nguyệt đương đầu.”.
(Mọi việc không gì bằng chén rượu đang cầm trong tay.
Cuộc sống nầy được mấy lần ngắm trăng rọi ngay
trên đầu.).
Cái chòi tranh của
lão hàng xóm trong rẫy cửa đóng then cài, con chó nhà lão
cũng không thấy. Quá thất vọng, đành quay trở vô chòi
lò mò tìm chai dầu hôi dụt trong góc chêm vô cái đèn để
tối nay thắp sáng lên mần thơ. Bất ngờ thấy cái bịch
nhựa tiện tay lôi ra mới biết có chút rượu còn sót.
(Thời gian sau giải phóng, dân nhậu đi mua rượu hay người
nhà đi mua rượu, nơi bán họ cho rượu vô trong túi ny
lon.). Người mua đem về nhà giữ chặt bịch rượu, dùng
miệng cắn đứt góc bịch rồi rót vô chai... Sở dĩ xài
bao ny-lon đựng rượu là để tránh ánh mắt theo dõi của
du kích, họ tưởng là đi mua dầu hỏa, mua dấm... Tôi
vuốt cái bịch đựng rượu cũ đã nhàu nhĩ từng giọt
rượu chảy ra vừa vặn một ly xây chừng. Đêm nay sẽ
nhâm nhi “nhả ngọc phun châu.”.
Buổi chiều nơi núi
rừng hoàng hôn xuống thật nhanh vài tia nắng vàng vọt
yếu ớt đọng trên mấy cây chuối, mấy bụi sả, mấy
cây đu đủ ở chung quanh chòi tranh vẽ lên một bức
tranh sầu tê tái...! Con chó đứng ngắm hoàng hôn đỏ ối
mê mẩn cùng tôi nhưng nó dửng dưng, nó dửng dưng bởi
tính của loài chó xưa nay chỉ vốn quen sủa trăng chứ
không thích sủa mặt trời. Tôi ngắm bóng chiều phủ
trên rẫy mì, rẫy bắp tư lự…, rồi nhướng mắt qua
núi Chứa Chan, trên đỉnh núi có đám mây trắng viền
quanh giống như vành khăn tang của người thiếu phụ...!
Quay mặt lại bất chợt thấy một con sóc nâu quen mặt
nhảy lên cây mì nơi có dây leo quấn quanh thân cây... Dây
leo đó là dây sương sâm, em gái thường hay hái lá sương
sâm vò nát ra làm thạch sâm uống giải khát. Tự nhiên
nhớ câu thơ “Sắm bìm chút phận con con.” ở
trong Truyện Kiều. Vậy là ý thơ hiện ra như một cái
phao cứu sống; như một bà tiên đẹp lộng lẫy hiện ra
ở trong căn chòi tranh te tua rách nát.
Tôi bưng nồi cơm ra
để trên cái khúc gỗ, nói là cơm chứ thật ra chỉ có
một ít cơm còn lại toàn là mì “sắn” tươi, khoai
lang. Một lon guigoz đựng mắm ruốc kho mở heo với sả
mẹ làm để ăn cho cả tuần! Tôi nhìn cái lon guigoz nhớ
lại những ngày ở trong tù, mỗi lần đi “thăm nuôi”
mẹ đều cho mắm ruốc như vậy! Đôi khi cũng hồi tưởng
lại những ngày xa xưa, mỗi buổi sáng ít nhiều hay lai
rai cũng có: “Tô – Ly – Điếu”. Tô tức là một tô
phở, một tô hủ tiếu, một tô cháo lòng... Ly tức là
một ly cà phê đen, một ly cà phê sữa đá, một ly trà!
Điếu tức là điếu thuốc Capstan, điếu thuốc Bastos...
Ngồi bên ly cà phê nhả khói nổi máu văn nghệ lấy tên
trên bao thuốc đặt câu văn, câu thơ: Capstan là (Con anh
phá sản tại anh ngu...). Bastos là (Buồn anh suốt tháng ôm
sầu.). Đôi khi nhớ tới hàng “PX” (Post Exchange), loại
hàng tiếp liệu của quân đội Hoa Kỳ...! Đôi khi nhớ
hàng “Quân Tiếp Vụ” loại hàng tiếp liệu của quân
đội Việt Nam Công Hòa. (Những loại hàng hóa đó người
dân có thể mua ở chợ trời.) Bây giờ tất cả chỉ còn
là ký ức vướng víu ở đâu đó trong dòng sông dĩ
vãng!
Tôi quay ra chỗ bụi
chuối nơi cất giấu bốn bao than, thì mới giật mình là
đêm nay đã có hẹn với lão bạn thồ than ra ngoài xã
bán. Nói thật lòng, ngoài mần rẫy bái ra tôi cũng len
lén đắp vài lò than kiếm thêm lợi tức, nhưng phải
ngụy trang thật kỹ. Có một nghịch lý là chủ vựa than
cũng là chủ của mấy chiếc xe đò chạy bằng than. Họ
mua than công khai, mua tự nhiên trước mặt cán bộ kiểm
rừng du kích mà không sợ bị bắt. Tôi đã có viết bài
“Màu Than Của Đêm” trình bày hoàn cảnh người đi bán
than khổ sở biết là dường nào!
Xe than nghĩa là xe
chạy bằng nhiên liệu than củi. Kể từ sau ngày “giải
phóng Miền Nam” lương thực thực phẩm đều thiếu thốn
tư bề, xăng dầu lại càng khan hiếm trầm trọng. Người
ta hàn một cái thùng sắt hình tròn đường kính cả một
thước, dài cỡ hơn hai thước để chứa than. Thùng sắt
to tổ chảng, to bành ki, to chà bá lửa đeo kè kè ở phía
sau xe. Nhà xe đổ than vô cái thùng sắt bự đó rồi mồi
lửa cho than nóng đỏ rực lên... Vậy là xe đò than sung
sướng được sưởi ấm áp rồ máy chạy bon bon trên
quốc lộ... Thỉnh thoảng chú lơ xe cầm cái khúc gỗ
“cục canh bánh xe” đập mạnh vô thùng sắt cho than nén
xuống... Hành khách được đi xe đò than... (thở) vui mừng
hớn hở, mặt mày lấm lem bụi đen như đi đốt than mần
rẫy.
Đi bán than cũng phải
hẹn với chủ vựa giờ giấc trước, thường là khoảng
bảy giờ tối cho tới chín giờ tối. Đi trễ hẹn, đứng
xớ rớ là bị kiểm rừng tịch thu cả than lẫn xe. Tôi
chất bốn bao than loại bao đay chỉ sọc xanh lên xe đạp
thồ, thồ ra chỗ hẹn. Lão bạn nói: “Bữa nay đi bán
chỉ có hai anh em chúng ta thôi, đã có dặn thằng con đi
thám thính dò đường rồi.”. Bán than xong nhìn đồng hồ
đã mười giờ đêm định ghé thăm nhà nhưng lại sợ
gặp mấy anh du kích ấp hạch sách thì nguy to! Về tới
chòi mình mẩy mồ hôi bụi than quyện nhau ngứa ngáy khắp
người... Bụng đói meo, mở nồi cơm ra cầm củ khoai mì
lạnh tanh đưa lên miệng nhai... uống vài ngụm nước,
nằm vật ra cái sạp gỗ với niềm vui lớn bán được
than. Ngày mai em gái vô đem tiền về cho mẹ.
Ánh trăng chưa tới
độ rằm mây mờ tù mù lẫn sương núi kéo theo hơi lạnh
ùa về mà sao trong lòng lại cảm thấy ấm áp lạ kỳ.
Đốt ngọn đèn dầu lên, ngọn đèn cháy le lói rọi vô
vách lá buông mọt đục loang lổ gợi nhớ lại một thời
tuổi thơ ngồi học bài ngủ gục cha ẵm vô trong buồng
ngủ lúc nào cũng chẳng hay. Đêm nay nếu không mần thơ
“dự thi” theo yêu cầu của em gái Út thì không bao giờ
thắp đèn dầu tù mù đó đâu. Mẹ mua cho một xị dầu
hôi cả nửa năm mới dùng hết phân nửa chủ yếu là để
rưới đuổi bầy kiến lửa vô mần tổ trong đống bắp,
đống mì.
Cố gắng tìm con dao
gọt cây bút chì để mần thơ. Cây bút chì chỉ dài bằng
một ngón tay trỏ, hình dáng trầy trụa nằm trơ trọi
trong túi xách. May mắn thấy miếng giấy cinemt nhăn nhúm
gói thức ăn vội đưa lên đùi lấy tay vuốt... vuốt...
cho bằng phẳng ra. Không bàn ghế đành ngồi xếp bằng
trên mấy mảnh ván bìa ghép, đó cũng là cái giường ngủ
bao năm qua! Ly rượu xây chừng đùng đục lắng cặn
xuống đáy ly trông rõ mồn một, ngụm một ngụm nhỏ
rượu có mùi chua... chua..., đăng đắng… Chất men vô
hình trung cũng là người đồng hành đi thăm nàng thơ mà
chẳng biết nàng thơ mặt mũi ra răng!
Tôi thầm xin lỗi cụ
Tiên Điền rằng đã mượn câu thơ “Sắn
bìm chút phận con con.” của ngài. Người ta đang ăn
cắp cả một lịch sử. Người ăn cắp cả một quốc
gia. Người ta ăn cắp cả một nền âm nhạc. Người ta
ăn cắp cả văn chương nghệ thuật…! Tôi không ăn cắp
giống như họ đâu, mong Cụ hiểu cho!
Màn đêm nơi núi rừng
lúc nào cũng âm u huyền bí, màn đêm là của loài loài
thú dữ, của loài côn trùng ăn đêm. Màn đêm là của
quỷ ma; của oan hồn uẩn tử hẹn hò gặp nhau tâm sự…!
Tối nay sẽ mần thơ tìm một lối thoát cho bản thân cho
các em trai em gái dù có lưỡng lự tìm nội dung cho bài
thơ ở tư thế trung dung (ba phải), không đứng nghiêng
hẳn về một bên nào. Bạn hữu có biết cũng không thể
nghi ngờ đã “giác ngộ cách mạng. Nghĩ lung lắm cho tới
khuya lơ mới viết xong bài thơ.
Bài thơ có tên là:
SẮN BÌM.
“Sắn bìm chút phận
con con, Ăn nhờ cơm vợ lại còn lang thang. Cửa nhà
anh chẳng ngó ngàng, Khuyên vô Hợp Tác tìm đàng anh bươn.
Ngày cử gió, tối kỵ sương. Nắng nghỉ, mưa ngủ chiếu
giường tri âm. Bảo ban anh hứa quyết tâm, Từ từ rồi
hãy làm ầm lên chi!Nhưng mà anh vẫn cứ lỳ. Mánh mung
nhậu nhẹt li bì bê tha. Thuở nhỏ sống với mẹ cha, Lớn
lên nhờ vợ, về già cậy con. Nuôi anh cho được vuông
tròn, Mặc ai cực khổ mất còn mặc ai. Thân anh xã hội
hết xài.”.
Bài thơ đọc phớt
qua quả là “trào phúng”, nhưng nghĩ kỹ thì không trào
phúng chút nào. Người đọc chịu khó liên tưởng sẽ
thấy có ngụ ý “ẩn dụ” bên trong. Người dân chẳng
một ai muốn gom hết đất ruộng đã có quyền tư hữu,
có “Bằng Khoán” hợp pháp từ thời cha ông đem cho tập
đoàn, nộp cho hợp tác xã để rồi mỗi buổi chiều về
mệt mỏi ngồi bình bầu ăn theo từng công điểm...? Công
điểm không đủ sống, người dân phải luồn lách buôn
bán hàng chợ đen, chợ trời trên các nẻo đường quê
hương. Người dân lén lút nuôi gia cầm, gia súc trồng
rau sau vườn để bán, để cho gia đình con cái được
bữa ăn có chất dinh dưỡng.
Trong khi đó tầng lớp
cán bộ không làm thì được ăn no, mặc ấm... Vậy mới
có câu “Xã viên làm việc bằng hai, để
cho cán bộ mùa đài mua xe.” hoặc “Nón
cời làm cho nón cối ăn.”. Trong tác phẩm Trại Súc
Vật (Animal Farm) của George Orwell "Các
con vật đều bình
đẳng nhưng có những con vật tự
cho mình được cái quyền bình
đẳng hơn những con vật khác.".
Thói ăn bám diễn tả trong bài thơ là những kẻ ăn bám
có “giấy phép được quyền ăn bám hợp pháp.”, không
một ai có thể đụng chạm tới họ. Người dân bất mãn
hằng ngày vác cuốc ra đồng mần theo kiểu - ầu ơ giấy
dầu, chờ tiếng nghe kẻng “thu quân” là ù té chạy về
nhà. Ông bà nói đúng - cha chung không ai khóc, - nhiều sư
nhiều sãi không ai đóng cửa chùa!
Cuối cùng hình thức
làm ăn tập đoàn tập thể tan rã, đất ruộng trả lại
cho người nông dân, nhưng đất ruộng lâu nay đã chia năm
xẻ bày cấp cho ông nầy bà nọ. Một phần lấy làm
“công trình công ích” như: chợ, trường học, trạm
xá, bệnh viện, công sở, bến xe… Người dân có nhận
lại đất ruộng cũng chẳng còn được bao nhiêu, thậm
chí số đất ruộng trả lại ở một nơi khác...!!!
Mần bài thơ xong cảm
thấy hài lòng, thong thả bước ra ngoài trời vươn vai
hít thở ngắm sao... May là sương đêm nay tan đi đâu mất
tiêu chỉ thấy mảnh trăng tàn chếnh chếch trên ngọn
núi Chứa Chan, đưa mắt tìm vì sao bắc đẩu nhưng không
thấy đâu. Tôi nghĩ cô em gái Út ngủ có mơ thấy anh
trai hoàn tất bài thơ! Dù thức khuya mần thơ nhưng sáng
ra phải dậy sớm nhổ hỏa tốc cả trăm gốc mì (loại
giống cây mì H.34) cho nhiều củ trước khi mặt trời lên
thiêu đốt ...
Nghe con chó gầm gừ...
Cô em gái đã vô tới léo nhéo ỏm tỏi:
- Anh hai ơi! Anh mần
thơ xong chưa? Em có đem canh khoai mỡ cho anh đây, anh vô
ăn canh còn đang nóng! Em gái đọc xong bài thơ, cười toe
toét, nói:
- Anh trai của em giỏi
quá đi!
Tôi nói rằng:
- Trong nhà chỉ mỗi
em viết chữ đẹp. Em đem về viết lại rồi gửi “cho
gió ngàn bay.”!
Cô em nhướng mắt,
sừng sộ:
- Mắc mớ chi gởi
cho gió ngàn bay hả? Gởi đi dự thi chứ!? Anh đừng có
xem thường và hạ thấp tài thơ văn của anh. Bây giờ
anh thất thời, nhưng chữ nghĩa trong đầu của anh con
nguyên đó...! Anh còn nhớ câu: “Hủ thảo
hóa vi huỳnh.”. (Cỏ mục hóa ra con đom đóm.) mà!
Thi sĩ Nguyễn Du cũng nói: “Xưa nay nhân
định thắng thiên đã nhiều.” đó thôi.
Chuyện
mần thơ dự thi ở báo
Tuổi Trẻ Cười hình
như đã quên mất.
Quên mất cũng
đúng thôi bởi còn quá nhiều thứ bận rộn lo toan từ
cơm áo gạo tiền... Tôi lén
nhìn thử
trong gương thấy thân thể cằn cỏi râu ria tua
tủa giống người tiền
sử dù tuổi đời chưa tới bốn mươi. Bất giác đọc
lại bài thơ đã mần:
“Nhìn lại thân
thùng thình trong bộ đồ dân sự. Tuổi
học sinh hiện về đau nhói cả tâm can. Con
ve sầu lánh mặt nằm im trong lòng đất. Phượng
vĩ đau bởi bầy mọt đục lụi tàn.”.
Bẵng đi cả tháng
sau đang ngồi trong chòi hốt mì lát khô cho vô bao tời,
con chó đánh hơi có người lạ vọt chạy ra ngoài nhưng
không sủa. Tôi nghĩ chắc lão bạn ở chòi kế bên ghé
chơi... Ai ngờ cô em gái vừa dựng chiếc xe đạp, vừa
la toáng:
- Anh hai ơi! Anh hai
ơi…! Anh được trúng giải thưởng thơ của Báo Tuổi
Trẻ Cười rồi! Cả xã cả nhà thờ ai cũng đều biết
hết!Tuần sau anh phải trực tiếp đi lên Sai Gòn nhận
tiền thưởng, tiền nhuận bút đó! Kỳ này chắc chắn
em được nhận vô ngành sư phạm! Tôi làm thinh, nhưng
nghĩ: Cô em gái vẫn thích “Chuột chạy
cùng sào mới vào sư phạm. Thích mần cô giáo dứt
cháo…!” quá rồi!
Cô em gái nói đi nhận
tiền thưởng nghe cũng mừng. Nhưng ngặt nỗi là mới đổi
tiền thì mần chi có tiền mà đi xe? Sau năm 1975, qua ba
lần đổi đổi tiền. (Lần thứ nhất: ngày 22-9-1975. Lần
thứ nhì: ngày 02-5-1978. Lần ba: ngày 14-9-1985). Đã quy ra:
500 $ Việt Nam Cộng Hòa bằng một đồng tiền Miền Bắc.
Tức là chỉ cần một đồng rưỡi tiền Miền Bắc lúc
đó đã đổi được một Mỹ Kim. Chuyện nầy (chỉ duy
nhất, đồng Bảng Anh mới làm được điều đó.). Thành
thật mà nói “đổi tiền” là một mưu kế nhằm lấy
tiền, lấy tài sản của của người dân chỉ có ở các
nước trong khối xã hội chủ nghĩa mới có hình thức
đổi tiền vô lối vô thiên như vậy.
Lần đổi tiền thứ
ba thực sự đã vắt kiệt túi tiền của người dân. Đổi
tiền hai lần trước tôi còn ở trong tù không tận mắt
chứng kiến như lần nầy. Tôi nghĩ chắc chắn hai lần
đổi tiền khi trước còn thê thảm hơn nữa. Đặc biệt
lần đổi tiền thứ ba, ngân hàng nhà nước cho in ra tờ
tiền giấy “Ba Mươi Đồng”. Theo tôi được biết nhà
nước Cộng sản Cu Ba cũng in ra đồng tiền “Ba Đồng”.
Tự nhiên một thời gian sau tờ tiền giấy Ba Mươi Đồng
trốn đi đâu mất tiêu.
Bởi không giấy tờ
tùy thân ngoài cái “Giấy Tha”. Tôi xuống xã xin giấy
chứng nhận hiện đang sống tại địa phương, lại cầm
giấy chạy lên huyện xác nhận thêm lần nữa. Không tiền
đi xe mẹ tôi bán hai thùng phuy bắp, khổ nỗi mới đổi
tiền thành ra thiếu tiền lẻ. Tôi lên xe cầm tờ năm
mươi đồng đưa ra chủ xe thấy... ngao ngán lắc đầu,
lắc đầu nhưng chủ xe không đuổi xuống đường. Xe
chạy tới Biên Hòa nhà xe mới đủ tiền lẻ thối lại.
Tôi lần mò tới địa
chỉ của tòa soạn báo trình giấy báo trúng giải thơ
Tuổi Trẻ Cười. Họ hỏi giấy tùy thân? Tôi đưa giấy
xác nhận của xã, họ dẫn tôi qua văn phòng tài chánh,
họ cho xem danh sách người đoạt giải. Không giải nhất,
chỉ có một giải nhì, một giải ba và giải khuyến
khích. Tôi đoạt giải khuyến khích. Tòa báo tặng tôi
hai số báo với số tiền mặt (ba trăm đồng). Họ cho
biết nếu muốn cộng tác với báo tiếp tục thì rất
hoan nghinh.
Tôi trở về nhà vẫn
vô rẫy như mọi khi. Khoảng một tuần sau trên huyện họ
cho cán bộ xuống tận nhà chụp hình mần “chứng minh
nhân dân” tại chỗ cho cả gia đình. Ủy ban xã trả
quyền công dân, nhập hộ khẩu cho tôi, cho em gái em trai
được vô ngành sư phạm. Xã mời tôi giữ chức trưởng
ban văn hóa hoặc tập đoàn trưởng sản xuất, họ cho
tùy ý chọn. Nói thiệt tôi chẳng có ham hố chi mấy cái
chức vụ đó nên mượn cớ từ chối thật khéo léo. Đôi
ba lần ve vãn không thành, xã lại nhờ tôi viết cho vài
ba vở kịch cho xã, cho huyện để trình diễn văn nghệ...
Tôi biết không cộng tác với họ họ sẽ tìm cớ quấy
rối (viết cũng chết, không viết cũng toi mạng.)! Bỗng
nhớ tới bài thơ đã viết từ lâu như một lời
tiên tri mà ớn lạnh “Duật
vân mộng ấy vô thường. Lương thời trôi dạt cuối
đường ai hay. Vân Tiên giấu mặt đường cày. Vương Tử
Trực gánh tai bay vạ đời.”!
Xã, họ mời cộng
tác chẳng qua là nhốt vô (cái lồng) để ngồi chơi mà
không dám hót cũng như tiện bề kiểm soát. Tôi lấy cớ
cuộc sống khó khăn xin đi làm công nhân ở “nông trường
cao su”, xã chấp thuận. Vậy là tôi đành ngậm ngùi ra
đi khỏi ngôi nhà thân yêu hầu giữ bình yên cho mẹ cho
các em. Dù gì thì các em bây giờ cũng đã là cô giáo,
thầy giáo. Tôi thương mẹ, nhưng cả cuộc đời tôi cuốn
hút bởi chiến tranh tù đày, thời gian ở gần bên mẹ
chẳng được bao nhiêu! Tôi cảm ơn cô em gái đã khuyến
khích tôi mần thơ và kết quả đã mỹ mãn. Bây giờ
công thành thì thân phải thối lui để giữ ân tình, giữ
mạng sống.
Một
thời gian sau tôi được đi
tỵ nạn chính trị ở
nước ngoài, các
em bám theo nghề dạy học trầm trầy trầm trật mấy
chục năm chừ
đã về hưu với số lương hưu ít ỏi. Đáo cuộc gia mê
các em cùng gia đình ra nước ngoài định cư.
Ngày
sum họp gia đình nơi xứ
người, các em của tôi thổ lộ tâm lòng: Ông
Ngô Đình Nhu,
đã nói:
“Giáo Dục Là Một Cái
Đền Thiêng.”. Trong
xã hội ngày nay
cái đền thiêng đó đã
không linh
thiêng nữa. Người ta
lấy đền thiêng ra làm
nơi kinh doanh buôn
bán chữ nghĩa để
làm giàu! Sở dĩ
em theo nghề giáo là hy vọng giữ lại “Tiếng Việt Hàn
Lâm”, theo nghề ông cố, ông nội chứ thừa hiểu nghề
giáo là cái nghề bạc đãi...! Giáo viên đứng trên bục
giảng có khác chi người máy! Họ không công nhận chữ
Việt là “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” như thời Việt Nam
Cộng Hòa. Chữ Việt bị đảo lộn lung tung từ văn phạm,
cú pháp, mạo từ … Đó là “Cái Chết Của Một Ngôn
Ngữ”. Cái chết của một ngôn ngữ chẳng khác chi cái
chết của quốc gia dân tộc! Giáo sư Hoàng Tụy cũng đã
nhắc nhở: “Không phải nền giáo dục của ta lạc
hậu đâu, lạc hậu thì ráng đuổi theo may ra còn kịp,
nó lạc hướng.”!
Bài
Thơ
Cứu
Rỗi
hay bài thơ đi xuống
địa ngục chỉ là một sát na. Tôi
mần thơ
trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng dù
chưa
bị chìm
xuống địa ngục là vì
học hỏi được kinh nghiệm quí báu của tiền nhân,
hiểu
thời hiểu
thế, hiểu
người hiểu
ta. Tôi biết
dừng lại
đúng thời khắc chẳng
cần so
kè chút hư danh
để
phạm sai
lầm không thể cứu vãn
thì có ích chi.
Tôi
xin mượn câu thơ của Thi
hào Đỗ Phủ nhằm kết
thúc bài văn: “Văn
chương thiên cổ sự , Đắc thất thốn tâm tri”.
(Văn chương vốn chuyện ngàn đời. Được mất ở tất
lòng mới hay.).
Trang
Y Hạ
Những
ngày mần rẫy ở Sông Ui, Xuân
Tâm (Xuân Lộc).