Trang Y Hạ
Thư viện
20/2/26
17/2/26
MÙA XUÂN Ở CỰU KIM SƠN.
MÙA XUÂN Ở CỰU KIM
SƠN
“Đoái
thương muôn dặm tử phần,
Hồn
quê theo ngọn mây Tần xa xa,”! (Kiều).
Cột đèn đứng treo mảnh
trăng cuối phố
con quạ vui buồn lẫn lộn
bồ câu
vàng trộn đỏ, vẽ khung
trời lỗ-chỗ
hơi nàng xuân âm-ấm họa
mấy màu.
Đông nấn-ná xúi vài hơi
gió mỏng
rủ hột mưa cành sót
xuống âm-ty
cô starbucks hiền khô đâm
gắt-gỏng
chắc tại vì xuân đáo
chẳng có gì.
Ngày kín tiếng chở thời
gian lẳng-lặng
giọt cường toan rệu-rã
kiếp trùng-lai
ngón tay trỏ vẽ mặt bàn
màu nắng
họa ra thêm hậu-duệ đẹp
hình hài.
Và cứ vậy, mỗi mùa
xuân biền-biệt
nén nhang thơm không dám
đốt trong nhà
trên túi áo gia tài còn
cây viết
nguệch vài dòng gởi về
cõi rất xa.
Bước lững-thững lọt
vô nơi phố Nhật
sợi ra-men thoang-thoảng
khói Phù-Tang
đang hiện diện Sài-Gòn
cớ chi mất
đang ngồi nghe nhức từng
phút điêu-tàn.
Tô hoành thánh phố người
Hoa nóng hổi
mắt mơ-màng vóc ngọc
đẹp Tây Thi
đèn lồng đỏ rung nét
xuân phơi-phới
kẻ đông vui lòng hiu hắt
nhị-tỳ.
Bún bò Huế rất thèm tô
mì Quảng
(người nấu cho không
biết ngụ nơi mô)
phố quen lạ ngóng bóng
ai lai vãng
đầu chưa ngu sao óc lại
mơ hồ.
Gió từ phía
Thái-Bình-Dương biếu lạnh
có gửi mùi xuân ấm tự
năm nao
có giải thích rõ ràng
rằng hai cảnh
ngồi trân mình cho sóng
vỗ cồn-cào.
Lời Gió Mưa:
“Nếu trong lòng đã có sự sợ hãi thì dù có thần thông hay tài giỏi bao nhiêu cũng trở thành vô dụng.” (Trần Phước Hân).
30/1/26
NGHĨ VỀ BỐN CHỮ “RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.
NGHĨ VỀ BỐN CHỮ
“RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.
Người
xưa nói: “Tu đâu
cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa”.
Hoặc: “Cha mẹ sống
không cho ăn, khi cha mẹ chết làm văn tế ruồi.”.
Bất cứ đạo giáo nào cũng dạy thờ cha kính mẹ là
“phúc đức” lớn nhất. Trong “Mười Điều Răn” của
Chúa, thì điều thứ nhất là: “Thảo
kính Cha Mẹ”. Từ
đó, mà người xưa đã nghĩ tới bốn chữ “Cửu
Tự Cù Lao” để
phân tích, diễn giải các giai đoạn mà cha mẹ đã vất
vả sinh con, nuôi dưỡng con nên người.
“Chiều
chiều ra đứng ngõ sau
Ngó
về quê mẹ ruột đau chín chiều.”
Và:
“Vẳng
nghe tiếng vịt kêu chiều
Bâng
khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.”
Tuy
vậy, nhưng lại có một nhạc sĩ lại sửa lời trong nhạc
phẩm “Dân Ca”, rằng:
“Chiều
chiều chim vịt kêu chiều, bâng khuâng nhớ “BẠN”
chín chiều ruột đau”. Bạn
bè không sinh bạn, cũng không nuôi dưỡng bạn, thì mắc
mớ chi phải nhớ bạn tới chín chiều ruột đau dữ vậy?
Tình yêu trai gái cũng không tới nỗi, nhớ tới chín
chiều ruột đau kia mà! Người nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ,
thiết nghĩ khi cầm viết để viết hãy suy tính cẩn thận
đừng bao giờ - sửa lời, sửa ý các câu: Thành ngữ.
Tục Ngữ. Cao dao. Bởi các câu đó tuy ngắn nhưng lại
chứa đựng nhiều ý nghĩa huyền vi, triết học thâm sâu.
Thời
xưa, ông Thầy dạy rằng: “Các trò lấy văn của người
khác khoảng bốn [4] chữ
là phải bỏ vô dấu ngoặc kép, còn nếu biết tên tác
giả thì ghi tên tác giả, - bằng không làm vậy sẽ bị
phạm tội đạo văn”. Ông thầy dạy đúng, vì bốn chữ
thì đã hình thành một câu thành ngữ. Ví dụ như các
câu thành ngữ “ăn chắc mặc bền”; “tay làm hàm
nhai”, “Dao cùn cứa thịt”... Vậy, nếu mà không bỏ
vô dấu ngoặc kép là chẳng phải ăn cắp sao...?!
Biết
rằng trong đời người, từ thuở bé cho tới lúc trưởng
thành và bước chân vào xã hội, dù (giàu, nghèo) đều
phải có bạn bè, bạn hữu. Nhớ bạn, thương là đúng,
nhưng nhớ bạn tới “chín chiều ruột đau” sao? Người
xưa, nói: Bạn bè dù chơi thân thiết tới bạc đầu vẫn
luôn đề phòng họ chứ không phải là chỗ dựa, là chỗ
đặt niềm tin yêu mãnh liệt ở họ. Duy nhất, chỉ có
cha mẹ ruột mới là nơi an toàn, nhà của cha mẹ là nhà
của các con, gia sản của cha mẹ ruột là của các con.
Tình thương yêu của cha mẹ dành cho con đó là tình yêu
không vụ lợi, cha mẹ hy sinh cho các con cả về tinh thần,
vật chất - không bao giờ tính toán thiệt hơn. Ngoài tình
yêu của cha mẹ ra thì không còn một tình yêu có thể so
sánh.
Chín
chiều có nghĩa là thầm nhớ tới công lao cha mẹ đã
sinh ra và nuôi cho khôn lớn; cho ăn học thành tài. Từ
đó, người xưa dùng “Cửu Tự Cù Lao” là chín Chữ
tiêu biểu cho việc khó nhọc khi sanh con ra và nuôi nấng.
Tuy vậy, cha mẹ cũng chưa bao giờ bắt các con phải trả
ơn mà ngược lại cha mẹ lại còn lo cho con của con, (tức
là cháu ngoại, cháu nội.).
Chín
Chữ:
*Một:
- Sinh = (chín tháng cưu mang và sanh đẻ). Sinh đẻ ví như
một lần chết đi sống lại. Từ đó mới có câu: “Đàn
ông đi biển có đôi. Đàn bà đi biển mồ côi một
mình,”.
*Hai:
- Cúc = (nâng đỡ, tận tụy, lo toan, chăm sóc yêu thương).
“Cúc cung tận tụy”, đôi khi người mẹ quên hẳn
bản thân dù đau ốm để lo cho con.
*Ba:
- Phủ = (vuốt ve, trìu mến, bao bọc khi trời ấm lạnh).
Kỷ niệm đẹp nhất của tuổi thơ là (cái gối êm ái)
khi trở về tuổi già. Mùi của mẹ còn vương vấn mãi
suốt cuộc đời của con. Mẹ chính là “cây dù” che
mưa, che nắng – cả nghĩa đen, nghĩa bóng.
*Bốn:
- Súc = (cho bú mớm, cho ăn uống). Khoảng thời gian con
còn đang bú là khoảng thời gian người mẹ mệt mỏi
nhất, khi cai sữa xong là tập cho con ăn, phải bón đút
từng muỗng.
*Năm:
- Trưởng = (nuôi cho con khôn lớn.). Giai đoạn con khôn
lớn cũng là lúc cha mẹ bận rộn lo toan cả vật chất,
tinh thần và xã hội.
*Sáu:
- Dục = (giáo dục, dạy dỗ theo nế nếp gia phong và
thuần phong mỹ tục.). Cho con học thành tài. Dạy cho con
biết nhân cách làm người, làm người không nhân cách,
lương thiện thì dù có học hành, có bằng cấp cao, có
quyền chức cao cũng trở thành có hại cho bản thân, xã
hội.
*Bảy:
- Cố = (chiếu cố, trông nom bất cứ lúc nào). Tự cổ
chí kim người mẹ lúc nào cũng xem con của mình là (con
nít) – dù rằng đã có chồng vợ, con cháu đầy đàn và
ra ở riêng. Gặp mặt lại con, là mẹ kêu: (Thằng Hai,
Thằng Ba… Con Tư, Con Năm…). Tiếng kêu yêu thương giống
y như những ngày còn sống chung dưới một mái nhà thời
còn bé.
*Tám:
- Phục = (xem bản tính, tính nết.). Tính tình của mỗi
đứa con đều khác nhau chứ không hề giống, bản tính
rất khó nhận ra. Nhưng người mẹ thì nhận ra tính tình
mỗi đứa con rất dễ, bởi người mẹ biết mỗi đứa
con yêu cầu (làm nũng) điều gì, muốn cái gì? Đứa nào
nóng tính, ưa gây lộn, đứa nào ít nói. Từ đó người
mẹ biết mà uốn nắn.
*Chín:
– Phúc = (không để con rách rưới, đói lạnh.). Người
mẹ nào cũng nói “Đi làm kiếm gạo tiền nuôi con”.
Người mẹ chỉ biết nuôi con, nhịn cơm cho con ăn. Theo
Hán Tự. Phúc là no (bụng).
Ngó
về quê mẹ! Ôi! Chữ “ngó”, sao buồn bã ảm đảm thê
lương…! Tại sao không “đứng trông” về quê mẹ mà
lại ngó? Ngó đây là (lén ra ngõ sau mà ngó) chứ không
dám ra trước nhà vì sợ chồng, sợ gia đình chồng, -
khoảng thời gian quá ít, rất ngắn - chỉ liếc mắt về
phương trời cũ cho đỡ nhớ rồi trở về với hiện
tại; trở về với hiện thực của cuộc sống gia đình,
của công việc hằng ngày... Còn “trông” là có một
khoảng thời gian nhất định (đứng trông), để hồi
tưởng lại thuở còn bé sống cùng cha mẹ anh chị em và
trong tâm lòng (dường như mơ hồ) - sẽ trở về thăm
cha mẹ.
Người
con gái (nông thôn) còn trẻ, lần đầu xa nhà về sống
bên nhà chồng thời ở một xa xưa; thời phong kiến lễ
nghi ràng buộc chung quanh người phụ nữ, do đó chỉ dám
chiều chiều (là ngày nào cũng ra ngõ sau len lén ngó), -
chớ không dám đứng trông thoải mái mỗi ngày vì biết
phận con gái một khi đã đi lấy chồng thì coi như “đứt
dây nôi”. Đứng trông hoài, – nỗi buồn càng hiện rõ
lên khuôn mặt thì nhà chồng ắt biết, họ sẽ tỏ thái
độ…! Và, chính bản thân cũng không tập trung làm tròn
nhiệm vụ người vợ. Người con gái chỉ âm thầm - ngó
về quê mẹ mà ruột đau chín chiều. Do đó mà người
con gái ngày xưa, van nài đấng sinh thành:
“Má
ơi đừng gả con xa,
chim
kêu vượn hú, biết nhà má đâu”.
Thời
đại văn minh với đủ loại phương tiện di chuyển –
đường bộ, đường hàng không và thông tin liên lạc qua
điện thoại, qua email…, quá dễ dàng nên người con gái
dẫu lấy chống xa cũng không tới nỗi thương nhớ quay
quắt. Tuy vậy, một số cô gái lấy chồng người ngoại
quốc: (Đài Loan Dân
Quốc, Đại Hàn Dân Quốc…) chỉ
vì mong thoát cảnh nghèo cho bản thân, cho gia đình mà
nhắm mắt đưa chân cầu may nơi xứ người - từ cuộc
hôn nhân do người khác “dắt mối” chỉ vì tiền chứ
không tình yêu. Người con gái là một món hàng mặc cho
các “chú rể” dị tộc săm soi lựa chọn giống như
người đi chợ lựa cá, một khi lựa xong là (chồng
tiền) đặt cọc, sau đó lễ cưới diễn ra tượng trưng
rồi theo về quê chồng ở bên kia bờ đại dương mà
không biết quê chồng ở phố hay ở quê. Cuộc nhân duyên
phó mặc cho số mệnh đẩy đưa đau khổ biết bao! Con
gái có mười hai bến nước, biết bến nào mà chọn?
Sống
ở nơi phương trời xa thăm thẳm đó, người con gái cũng
chỉ dám ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều, người
con gái ở bất cứ thời nào, khi về nhà chồng thì vẫn
nhớ cha mẹ có khác chi người con gái thời “phong kiến”
xa xưa là mấy!
Câu
ca dao diễn tả tình cảm người con gái khi lìa xa nhà,
lìa xa cha mẹ ruột để theo chồng mà đứt từng đoạn
ruột. Mối dây tình cảm gia đình sâu nặng trong tâm hồn
không bao giờ phai lạc. Và, sau nầy dù có con rồi cũng
vẫn tơ tưởng về quê ngoại, sóng gió cuộc đời hay
đói khổ hoặc cơm không lành canh không ngọt đều quay
trở về bên ngoại để tìm nguồn an ủi vỗ về... Nơi
quê ngoại, đó chính là nơi cưu mang mà không đòi hỏi
bất cứ điều kiện gì cả ở con gái, ông bà ngoại chỉ
mong vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng dẫu
có là ly dị hay chồng chết, muốn đi thêm bước nữa
thì cứ ẵm con về giao cho ông bà ngoại để mà an tâm
đi lấy chồng mới.
Ông
bà xưa, nói:
“Cháu
ngoại thương dại thương dột,
Cháu
nội chẳng vội gì thương.”.
Cháu
ngoại thương dại thương dột, thương vội vàng, thương
vội vã là đúng. Bởi thương cháu ngoại tức là thương
con gái, ôm cháu ngoại tức là ôm con gái. Con gái dẫn
con về thăm ngoại đôi ba bữa nửa tháng rồi cũng phải
trở lại nhà chồng, trở về bên nhà nội. Người xưa
nói “lá rụng về cội”, từ nguyên do đó mà bên nội
“chẳng vội gì thương”. Bằng cái lý do bất di bất
dịch truyền kiếp nên bên ngoại phải vội vàng “thương
dại, thương dột.” được lúc nào hay lúc đó. Đôi khi
ông bà ngoại nhớ cháu ngoại quá thì đành phải khăn
gói, quà cáp tới thăm.
Người
xưa, cho biết “Cửu Tự Cù Lao”, thiết nghĩ đã tích
lũy công lao cần cù của đấng sinh thành - chẳng những
là truyền giống, nối dõi mà còn là tình yêu sâu nặng
của cha mẹ dành cho con mênh mông như trời biển. Dù là
con gái hay con trai cũng là con và luôn đối đãi yêu
thương ngang bằng chứ không phân biệt đố kỵ như Khổng
Tử, dạy: “Nhất tử viết nam, thập nữ viết vô”
hoặc: "Tam niên vô tử bất thành thê.” một
cách khinh miệt, hạ thấp nhân phẩm của người phụ nữ.
Tạm
xài hai câu thơ để kết thúc bài văn:
“Công
cha như núi Chứa Chan,
Nghĩa
mẹ tựa suối trên ngàn chảy ra”.
17/1/26
KHÚC NHẠC LÒNG
KHÚC NHẠC LÒNG.
Nàng Y-Hạ, gùi măng
le, rau dớn
Xôi ống tre thơm mắt
biếc hương rừng.
Muội vẫn nhớ huynh dẫn
đi chụp ảnh
tiệm “Mỹ-Lai, Bác-Ái”
[đường] Lê-Thánh-Tôn
mưa mù mắt dựa nhau bên
hiên cửa
hơi con trai, âm ấm ngập
cả hồn.
Hôm lấy ảnh, buồn dâng
lên muốn khóc
(hối-hận vì, từ chối
đứng chụp chung)
tay run run ghi vài lời mến
tặng
chân bước đi, đi giống
một con khùng.
Vườn nắng ấm, Paradie
thêm ấm
tàng tre vươn che kín tuổi
hoa niên
hồ yên ắng tận hồn
vui dậy sóng
chú bướm vàng chồn chân
nụ hoa hiền.
Sương muối thấm vườn
bắp non nhu nhú
muội cùng huynh trốn tìm
lạc mấy năm
cánh chim én lượn lờ
nơi vách núi
trời còn thương cho gặp
ngắm đêm rằm.
Trại Nguyễn Huệ, huynh
đờn cho muội hát
dòng Dakbla chảy ngược,
chảy ngược thêm
kỷ-niệm đó kéo dài vô
tâm-khảm
muội là sông cho huynh
chảy êm đềm.
Cuối năm gió đẩy rung
chuông Cuenot
giờ tỉnh-tâm lởn-vởn
bóng hài nhi
tiền-đồn đó có khi nào
huynh hiểu
tuổi hai mươi, chuyển
động thật diệu-kỳ.
Luôn mơ mãi, có lần theo
huynh nhậu
ngồi “phá mồi” căng
bụng thở hắt ra
huynh chếnh-choáng, tỏ
vài lời bỏ lửng
gái khôn lanh, muội biết
tỏng rồi mà.
Vệ đường vắng, muội
ngồi bán bắp nướng *
cảnh trời khuya, sương ủ
bếp hết than
jacket lính huynh cởi
choàng vai nhỏ
lạnh cao-nguyên, giấc ngủ
có mơ-màng.
Một bữa nọ muội ghé
Konkrachot
nhịp chân theo, theo từng
điệu cồng chiêng
hơi thở nóng phả phía
sau nhè nhẹ
quay người nhìn, là huynh
- đứng như thiền.
Huynh cứ mãi chập-chờn
rừng với núi
mùi ka-ki còn đọng khóe
mắt nai
tới rồi đi, ví như cơn
gió thoảng
có và không, muội trút
hết lòng này.
Thỉnh thoảng ghé Hàng-Keo
ngồi đợi đợi
xoay ly sâm bổ lượng ngó
xa-xăm
trời đãi nắng tâm can
mờ ảm-đạm
lá keo rơi theo thế-sự
thăng-trầm.
Thanh-Bình rạp, bỏ lâu
không lui tới
kể từ khi huynh bận cẳng
phương nao
ngang Nhà-Đèn, nước tràn
ao rau muống
trở vô đường
Tăng-Bạc-Hổ cồn-cào.
Tin chiến-sự, mỗi ngày
nóng thêm nóng
rát làn da con gái, tuổi
học trò
thư muội viết, kbc
diệu-vợi
lá sân trường, từng
chiếc lá co-ro.
Mùa lãng mạn vệ đường
nâng quỳ đẹp
màu kiêu-sa, huynh chiều
chuộng hay không
loài hoa dại chẳng vì ai
mà nở
nở vì tình huynh muội đã
chất chồng.
Trang Y Hạ.
KonTum “Mùa hè Đỏ Lửa”,
1972.
Cước chú:
*
Cô gái bán bắp nướng trên đường Phan Thanh Giản.
Đường
Phan Thanh Giản KonTum.
Hai hàng phượng, đứng im
cau mày ngẫm,
Trường Teresa, tà áo vẫn còn
bay.
Dakbla chảy ngược dòng qua hồn thấm,
Bậu
nơi đâu, sương núi ướt lòng nầy.
8/1/26
TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.
TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.
Kẻ Sĩ Ngày Xưa:
Từ khi nhân loại biết dùng ký tự (chữ viết) và học hành thì chính là lúc đó đã có “kẻ sĩ”. Theo Hán Tự, chữ “SĨ” là người, (người có học vấn). Kẻ sĩ (士) là một danh xưng tôn kính chỉ về người có học vấn ở trong xã hội phong kiến Trung Quốc và các quốc gia phong kiến Đông, Tây. Kẻ sĩ, họ là những người có tài năng, có tri thức, có đạo đức, có trách nhiệm. Từ chỗ có học vấn uyên thâm: - họ đã cho ra đời rất nhiều công trình nghiên cứu và nhiều tác phẩm lừng danh.
Trong trường đời, đôi khi có những người họ không lấy được bằng cấp cao, nhưng họ vẫn là kẻ sĩ. Và, một khi kẻ sĩ nhận định sai - đi sai đường phục vụ cho bạo chúa, độc tài, hoặc “Quỳ Gối” trước kẻ ác để cầu danh lợi thì cũng đem lại nhiều khổ đau cho bản thân và xã hội.
Từ lý do đó, mà người xưa nói:
“Thiên hạ bổn vô sự, dung nhơn tự nhiễu chi.”. Tạm dịch: (Thiên hạ vốn bình yên, kẻ khờ tự khuấy động.).
Kẻ sĩ ngày xưa đóng một vai trò rất quan trong lãnh vực giáo dục, kẻ sĩ giữ khuôn vàng thước ngọc, cân bằng về đạo đức, gia giáo, phê bình cái xấu củng cố cổ vũ cái đẹp... Bởi vậy, không một chế độ nào muốn tồn tại mà không thể không dùng kẻ sĩ. Xã hội ngày xưa rất coi trọng “kẻ sĩ”, nên có câu: “Nhất sĩ, Nhì nông”. Sống trong chế độ phong kiến và quân chủ chuyên quyền, thiên hạ luôn trông chờ một đấng Minh Vương, một vị quan Thanh Liêm, nếu xã hội suy đồi loạn lạc cướp bọc thì chỉ biết dựa vào Hiệp Sĩ. Từ nguyên do đó mà bá tánh luôn coi trọng những kẻ sĩ có tâm, kẻ sĩ có nhân cách.
Thời chủ nghĩa cộng sản, thì “kẻ sĩ, trí thức”, đều thuộc thành phần tư sản “phản động” cần phải loại bỏ. Theo “Lenin Toàn Tập”. Bản tiếng Nga, thì:
“Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là CỨT (говно).”. Tiến Sĩ, Nguyễn Đình Đăng. Dịch.
Câu nói của ông Lenin cho rằng “Bộ Não Của Trí Thức Là CỨT” cũng có phần đúng, - hiểu theo cách nhìn của một lãnh tụ theo chủ thuyết “cộng sản vô thần”. Theo ngụ ý của ông Lenin, nghĩa là: (Trí thức, một khi chưa được “tẩy não” sạch sẽ để có một lòng trung thành tuyệt đối phục vụ cho đảng thì chẳng khác gì một cục cứt.).
Thật ra, nếu tẩy não trí thức đi theo một hướng như bầy cừu thì trí thức chẳng hóa ra “hèn” hết ư...?! Tại sao không nói trắng ra rằng: - phải “biết hèn để sống” bằng không sẽ bị loại trừ? Do đó, sống dưới thời phong kiến, thời độc đảng, độc tài thì - kẻ sĩ phải tự thích nghi, thay màu như con tắc kè để làm theo “tấm bảng chỉ đường” do người ta dựng sẵn.
Tong cuộc sống cũng có khá nhiều kẻ sĩ thích được “hèn”, bởi thích chủ thuyết hoặc mượn chủ thuyết để “mua quan bán chúc” mưu cầu hạnh phúc cho bản thân - bất kể liêm sỉ, bất kể nhân cách làm người, bất kể sự thật. Kẻ sĩ tự hạ mình thành kẻ “hèn”, thì - loại kẻ sĩ này rất nguy hiểm cho cộng đồng; cho gia đình, bạn hữu. Loại kẻ sĩ tự hèn, họ không tuân thủ bất cứ quy tắc đạo đức, trách nhiệm. Họ có thể bán đứng bất cứ thứ gì (có thể bán), - miễn đạt được mục đích, là: có quyền, có tiền nhằm vinh thân phì gia.
Loại kẻ sĩ lầm lạc nầy, tới một lúc nào đó sẽ chợt tỉnh ngộ ra rằng bản thân “cống hiến” quá nhiều, nhưng cuối cùng cũng bị “vắt chanh bỏ vỏ”, nên đâm ra (trở mặt) để tìm về vị trí cao quý của kẻ sĩ - dù có trễ. Điển hình, như: Vũ Thư Hiên với tác phẩm “Đêm Giữa Ban Ngày”, Nhạc sĩ Tô Hải với tác phẩm “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”. Trần Đĩnh với tác phẩm “Đèn Cù”. Xuân Vũ với tác phẩm “Đường Đi Không Đến”. Và còn nhiều tác giả nữa, cũng như kẻ sĩ không chịu khom lưng cúi đầu.
Thi sĩ Trần Tế Xương cũng đã từng làm thơ chế riễu:
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng."
Thời
Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam, - một nhóm trí thức (kẻ
sĩ), gồm mười tám [18] người, phần nhiều họ có bằng
tốt nghiệp đại học từ Pháp Quốc mà tổng thống Ngô
Đình Diệm rất kính trọng, Cụ Diệm, mỗi khi gặp họ
- Cụ xưng họ là “Ngài” với một tấm lòng ưu ái.
Họ, là trí thức, bác sĩ, luật sư... đã được Cụ
Diệm mời ra cộng tác nhưng họ chỉ cộng tác một thời
gian ngắn thì đòi ly khai, ly khai bởi chính quyền không
đáp ứng các yêu cầu theo “cấp tiến” của nhóm họ.
Tiêu biểu: (Trần
Văn Văn,
Phan
Khắc Sửu,
Trần
Văn Hương,
Trần
Văn Đỗ,
Nguyễn
Lưu Viên,
Linh
mục Hồ Văn Vui, Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát, và nhiều
người khác...
). Người đời
gọi họ là “Nhóm Caravelle”.
Thật
lòng mà nói, chính nhóm Caravelle này đã tạo tiền đề
cho các phe đảng, tôn giáo, tướng tá có lý do nổi lên
làm phản - tạo nên cuộc “đảo chánh” năm một ngàn
chín trăm sáu mươi ba [1963] xóa bỏ hoàn toàn nền đệ
nhất cộng hòa non trẻ dẫn tới sự sụp đổ miền Nam
về tay Cộng sản Bắc Việt sau này.
Người Hoa nói: "Quan lại mà tự do thì bá tánh sẽ khổ sở.".
Thời
Đệ Nhị Cộng Hòa, một số lớn trong nhóm caravelle đó
vẫn tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng
trong chính quyền. Điển hình: Thủ tướng Phan Huy Quát,
ký thỏa thuận cho quân đội Hoa Kỳ đổ quân vô miền
Nam năm một ngàn chín trăm sáu mười lăm [1965]) – Thời
đệ nhị nhóm kẻ sĩ đó, họ cũng không làm nên chuyện
gì nổi bật cho đất nước và dẫn tới ngày Bắc Việt
xóa sổ miền Nam. Ngày chế độ miền Nam không còn - một
số họ cũng chạy ra nước ngoài tỵ nạn, có người
viết hồi ký đổ thừa cho Mỹ “phản bội” hòng chạy
tội. Họ không dám quay đầu trở về với vị trí cao
quý của một kẻ sĩ như thuở ban đầu. Ngoài ra ở nước
ngoài, họ còn viết “Thư Ngỏ”, (Petetion) dâng lên đảng
Cộng sản Việt Nam xin xỏ, như sau:
“Thư
ngỏ nêu lên Ba [3] yêu cầu chính, ngoài việc từ bỏ chủ
nghĩa cộng sản, nhóm nhân sĩ trí thức còn yêu cầu Hà
Nội ngăn chận mưu đồ bành trướng của Trung Quốc,
thoát khỏi sự lệ thuộc của Bắc Kinh về cả kinh tế
lẫn chính trị và xã hội, đồng thời sửa đổi Hiến
Pháp, thực hiện các quyền tự do dân chủ của người
dân, xây dựng kỷ cương xã hội, sửa đổi luật đất
đai.”. (Theo: VOA).
Vậy
mới rõ rằng trí thức (kẻ sĩ), của người quốc gia
vốn thơ ngây, mơ hồ... - không hiểu một chút gì về
bản chất của “chủ thuyết cộng sản” toàn trị. Họ,
trước kia đã có một đất nước tự do; một thời phục
vụ chính quyền (Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa), do dân bầu
- hợp pháp, hợp hiến, hợp công pháp quốc tế. Đã có
tự do, Đã có tư hữu, Đã có nhân quyền, Đã có tự do
báo chí… Nhưng tiếc thay không biết quý
trọng, giữ gìn! Bây giờ thân bại danh liệt tỵ
nạn nơi xứ người - lại ngồi viết thư xin đảng Cộng
sản Việt Nam các thứ, - đi xin những thứ mà Cộng sản
Việt Nam không bao giờ có để mà cho - đi xin những thứ
mà không thuộc về mình.
Trong
xã hội phong kiến vua chúa và quân chủ chuyên chế, thì
chuyện học hành chỉ mong ra làm quan. May mắn, đậu Trạng
Nguyên thì vinh quy bái tổ về làng, đồng thời được
nhà vua trọng dụng, thậm chí gả công chúa làm vợ. Ngày
xưa, một khi thi đậu “Trạng nguyên, Bãng nhỡn, Thám
hoa, Cử nhơn, Tú tài”, tấm bằng đó là một gia sản
của cả cuộc đời, - dù không ra làm quan cũng trở thành
ông thầy giáo được người đời tôn vinh, kính nể,
được ăn trên ngồi trước.
Từ
cái mộng làm quan, cộng với công lao, tiền của của cha
mẹ lo cho ăn học - công ơn cao quý đó đã làm cho người
“kẻ sĩ” co mình trong cái ơn nghĩa phải báo đáp - cho
nên hầu hết kẻ sĩ thụ động, không dám dấn thân mà
chỉ trông chờ một “đấng minh vương” nào đó gầy
dựng cơ đồ là theo phò tá - tận trung, ngu trung tới
suốt đời. Kẻ sĩ thuở xưa, nói: “Thiên Hạ Hữu
Đạo Tắc Hiện”. Nghĩ là: (Thiên hạ có đạo thì
mới ra làm quan).
Và,
kẻ sĩ ngày xưa, cũng nói: “Đại ẩn tại triều,
trung ẩn tại thị, tiểu ẩn tại sơn”. Nghĩa là:
Đại ẩn tại triều: Người ở ẩn khôn ngoan, mưu sâu
là ẩn giữa chốn quan trường để chờ dịp mà hành
động. Ví dụ, như: Tư Mã Ý, ẩn thân làm quan cho Tào
Tháo, nhưng giấu kỹ mưu đồ soán ngôi. Tào Tháo dù biết
nhưng không bằng chứng nên đành chịu và hậu quả là
Tư Mã Ý tiêu diệt dòng họ nhà Tào. Hồ Quý Ly vốn
người đất Mân (Phúc Kiến) phò nhà Trần cũng tương tự
như Tư Mã Ý, - soán ngôi nhà Trần lập nên nước (Đại
Ngu). Kẻ sĩ có lòng phản trắc như Tư Mã Ý, Hồ Quý Ly,
Tần Cối... - đáo cuộc bản thân, gia đình đều bị
tiêu vong và để tiếng xấu cho hậu thế. Trung ẩn tại
thị, là người sống ẩn cư giữa chợ, nhìn thế cuộc
cầu may, Ví dụ: Bách Lý Hề, Nguyễn Trãi, Chu Văn An,
Nguyễn Bỉnh Khiêm... Tiểu ẩn, là người chạy vô trong
rừng sâu để sống. Ví dụ, như: Khổng Minh, Hứa Do, Sào
Phủ, Khương Tử Nha, Y Doãn... Họ trốn vô rừng, vô
ruộng rẫy, sông suối ở ẩn để chờ “thiên thời,
địa lợi, nhân hòa”, mới ló đầu ra đi tìm chức quan
hoặc nằm mong một ai đó, mời mọc, năn nỉ ỉ ôi, mới
chịu ra giúp…
Có
một điều đáng nói là các kẻ sĩ đi tìm Minh Vương để
phò tá, hoặc được đích thân các Minh Vương mời ra làm
quan, làm quân sự, - tới khi các đấng (minh vương) đó
đã hoàn tất việc chinh chiến tranh giành và nắm quyền
hành tuyệt đối trở thành Hoàng Đế, Vua Chúa thì kẻ
sĩ như: “cá nằm trên thớt.”. (Kẻ được phong
chức, kẻ bị tru di tam tộc, kẻ bị cho ngồi chơi xơi
nước, kẻ bị đày đi tù đày, kẻ mất chức về quê
đuổi gà cho vợ). Từ xưa, chỉ có hai công thần “kẻ
sĩ”, thoát khỏi tai ương đó. Một là: Trương Lương,
sau thời gian âm thầm giúp Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán
xong, ông không chờ nhận chức tước mà xin cáo lui về
quê với lý do - tụng kinh “Huỳnh Đình”. Hai là: Phạm
lãi, sau khi đã giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô
Phù Sai, ông cũng lặng lẽ rút lui cùng với Tây Thi ngao
du nơi Động Đình Hồ.
Số
phận thăng trầm của kẻ sĩ cũng bởi vì mộng công hầu
mà phải gánh tai ương; chịu vạ sát thân - chứ không
như “tu sĩ. Tu sĩ “Nhãn quán hình sắc nội vô hữu,
Nhĩ thính trần sự tâm bất tri.”. Tạm dịch: (Mắt
nhìn hình sắc, lòng không động, Tai vẳng chuyện đời,
dạ chẳng hay.).
Vua,
Không Xuất Thân Từ Kẻ Sĩ:
Từ
xưa, người lập nên nghiệp bá, đế vương phần nhiều
không xuất thân từ “kẻ sĩ”. Nhưng được nhiều kẻ
sĩ chạy theo phò tá rất đông. Tuy họ chỉ là người
bình thường, có khi là rất bình thường. Điển hình
như:
-
Lưu Bang là một trong vài người sáng lập triều đại
Nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc, xuất thân từ tầng
lớp nông dân chứ không phải là kẻ sĩ. Lưu Bang chỉ là
một “Đình Trưởng” nhỏ bé.
- Chu Nguyên Chương,
dựng nên Nhà Minh xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ,
phải đi giữ dê bò cho địa chủ. Thiên tai, dịch bệnh,
hạn hán nên cha mẹ, các anh chị của ông đều nối tiếp
nhau chết đói. Ông tới chùa Hoàng Giác làm thầy tu, đi
khất thực ba năm, trải qua quá nhiều gian khổ.
-
Thành cát Tư Hãn. Ông lớn lên trong cảnh nghèo khó nơi
sa mạc với các bộ tộc và bị ruồng bỏ sau khi cha của
ông chết sớm, ông lang thang trong cảnh túng thiếu nên
buộc phải chiến đấu để sinh tồn. Cuối cùng thống
nhất được các bộ lạc Mông Cổ. Từ đó ông được
tôn làm Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206, trở thành người
sáng lập Đế quốc Mông Cổ.
-
Hoàng Đế Toyotomi Hideyoshi
ở Nhật
Bản, người thống nhất đất nước và
Hoàng
đế Basil I
của Đế
quốc Byzantine, họ cũng xuất thân từng tầng lớp thấp.
-
Nhà Vua Trần. Họ Trần, tổ tiên của nhà vua là người
đất Mân, Phúc Kiến (Trung Quốc) di cư tới Tức Mặc,
phủ Thiên Trường, đời đời làm nghề đánh cá. Đặt
tên cũng đặt bằng tên của các loài cá. Ông Trần Thủ
Độ cũng đâu có biết nhiều chữ nghĩa, nhưng ông lại
là công thần hàng đầu dựng nên nhà Trần.
-
Lý Công Uẩn, dựng nên Nhà Lý (chú tiểu ở chùa). Theo
sách: “Mộng Kê Bút Đàm” của (Thẩm-Hoạt) đời Tống
thì Lý-Công-Uẩn vốn gốc là người Mân (Phúc-Kiến).
Và, Tiến sĩ Từ-Bá-Tường, người Quảng-Tây, nhà Tống.
Nội dung trong thư gửi cho Công Uẩn cũng nói: “Tiên thế
đại vương vốn là người đất Mân. Tôi nghe nói công
khanh ở Giao Chỉ cũng có nhiều người đất Mân.”.
Còn
nhiều người xây dựng cơ đồ hay lập nên nghiệp vương,
nghiệp bá mà họ không là “kẻ sĩ”. Tuy rằng các bậc
khai cơ, khai nghiệp lớn đó không học vấn cao thâm, thậm
chí rất ít học nhưng họ có cặp mắt “thần”. Họ,
- nhận biết người tài. Họ hiểu người tài. Họ biết
trọng dụng người tài. Họ biết đãi ngộ người tài…
Và, đặc biệt là có niềm tin mãnh liệt cũng như tầm
nhìn bao quát tình hình thế sự... Người xưa nói, họ có
“Chân Mạng Thiên Tử”. Người có chân mạng thiên tử
ắt sẽ có nhiều bậc trí sĩ ẩn cư tìm gặp, mang tài
cán ra giúp đỡ làm nên nghiệp đế vương.
Thiên
hạ từ xưa đã tự hỏi - “Tại sao kẻ sĩ có học vấn,
có tri thức và bằng cấp mà không tự đứng ra lập
vương, lập đế?”. Có nhiều nguyên do, nhưng tựu trung
chỉ có hai nguyên do chánh:
Thứ
Nhất:
Ngày
xưa, người đi học, học theo lối mòn từ một khuôn nắn
ra. Đó là chỉ biết “văn hay, chữ đẹp”!. Sĩ tử
quanh đi quẩn lại chỉ học sách của các bậc đi trước,
soạn sẵn, - một thứ “Kinh Sách” cố định một
chiều truyền từ đời này sang đời khác, cứ vậy mà
học theo lối mòn chứ không “cải cách” hay “khai
phóng”. Không dạy cách nhìn thực tiễn sâu rộng ra ở
bên ngoài xã hội và tranh luận, suy luận để tìm tòi.
Và hơn hết là sợ “thay đổi”. Đầu óc thủ cựu đó
thấm sâu vào não bộ, truyền lại các thế sau như một
“mệnh lệnh” vô hình ràng rịt tới mê muội.
Thứ
Nhì:
Học
là để làm quan, báo ơn vua, báo ơn cha mẹ dòng tộc...
Hơn nữa là chốn quan trường chẳng khác gì chiến trường
phải cạnh tranh khốc liệt để giữ mạng sống, giữ
địa vị nên không còn thời gian lo nghĩ chuyện cao xa.
Ngại dấn thân, bởi sợ thất bại, sợ bị vu khống tù
tội... Trong não kẻ sĩ chỉ biết vâng lệnh, không dám
mạnh dạn nêu ra ý kiến và đặt vấn đề tranh luận
đúng sai. Từ lý do đó mà hầu hết kẻ sĩ e dè không
dám phiêu lưu.
Kẻ
Sĩ Hiện Nay:
Kẻ
sĩ ngày xưa thì đã rõ ràng, còn kẻ sĩ hiện nay thì
khái niệm kẻ sĩ có vẻ mơ hồ và càng mơ hồ hơn. Tại
sao gọi là “mơ hồ”? Bởi kẻ sĩ thời nay không nhằm
phục vụ cho một thế lực nào cố định hay một lãnh
vực nào cố định. Kẻ sĩ ngày nay, họ có toàn quyền
lựa chọn nghành nghề; họ có quyền nêu ra vấn đề
“đúng, sai”. Họ có quyền xin thôi việc nếu bị chèn
ép. Họ cũng không bị áp lực phải trả ơn. Kẻ sĩ ngày
nay đa dạng và tự do tranh luận công khai. Họ không bị
gò ép phải đi theo một hướng. Thời đại văn minh, kỹ
nghệ, nên cuộc sống hầu như vội vã, suy nghĩ cũng thực
tế, thực dụng. Tất cả đều lo tìm tòi để theo kịp
đà phát triển của khoa học.
Tuy
vậy, kẻ sĩ sống dưới chế độ độc tài thì họ vẫn
là công cụ cho người khác sai khiến để phục vụ cho
một nhóm, một đảng phái. Do đó, họ cũng phải (biết
hèn) để tồn tại, cái hèn thời cuộc buộc phải hèn,
nhưng trong số kẻ sĩ không cam tâm hèn – để cúi đầu
khuất phục làm tôi mọi suốt đời mà họ vùng dậy đấu
tranh. Kẻ sĩ thời nay họ cũng biết “sai lầm”, dẫn
tới nguy hiểm cho bản thân, - cũng may là ở thời buổi
bùng nổ truyền thông, báo chí... - kẻ sĩ có chỗ tranh
luận bày tỏ chính kiến. Chính điều này mà đã làm cho
nhà cầm quyền độc tài e ngại, rồi từ e ngại không
kiểm soát nổi, nên đàn áp, bỏ tù. Điển hình: Vụ án
“Nhân Văn Giai Phẩm” là một bằng chứng.
Kẻ
sĩ ở trong “Nhân Văn Giai Phẩm” dù là nạn nhân nhưng
họ không “hèn”. Họ chịu bản án bất công và chịu
tù đày nhiều năm. Điển hình, như: Phan Khôi, Trần Dần,
Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Hữu Loan, Bùi
Xuân Phái, Lê Đạt, Nguyễn Bính, Nguyễn Mạnh Tường,
Văn Cao, Đào Duy Anh, Yến Lan, Trần Đức Thảo… Và còn
một số tên tuổi khác nữa. Đặc biệt là có nữ văn
sĩ Thụy An. Ngược lại, có nhiều “kẻ sĩ” cùng thời
lại vì sợ liên lụy tới bản thân gia đình mà bị
khuất phục đầu hàng trước cường quyền để rồi cam
tâm làm “đầy tớ trung thành” thậm chí còn
quay lại làm chứng gian tố cáo, vu khống bạn hữu
thân thiết đã một thời cùng cộng tác với nhau trên
các văn đàn. Đã như vậy rồi lại còn viết ra các tác
phẩm (thơ, văn) phục vụ cho chủ thuyết độc tài ngoại
lai mà không nhớ câu của người xưa nói: “Văn Dĩ
Tải Đạo”.
Với,
biết bao oan ức tới nỗi Nguyễn Hữu Đang phải thốt
lên, Câu đối:
-
“Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận
Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
-
Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế, quý cuộc
đời Nguyễn Trãi, Trương Lương. (Nguyễn Hữu Đang)
Và,
một Phùng Quán muốn “làm người chân thật”, nhưng
quá khó. Ông viết bài thơ:
Lời
Mẹ Dặn.
“Người làm xiếc
đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà
văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là
ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng
không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ
giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Trích thơ: (Phùng
Quán)
Tiêu
chí, mục đích của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đơn giản
chỉ là đòi “cởi trói” cho văn nghệ sĩ tự do sáng
tác văn chương thi phú; cởi trói cho nền văn học được
khai phóng. Nhóm chỉ vì hai chự “Tự Do” mà bị tù
đày.
Câu
nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”, của kẻ
sĩ ngày xưa vẫn còn có ý nghĩa và “hữu dụng” cho
tới tận ngày nay. Tại sao phải nói “hữu dụng”? Bởi
kẻ sĩ hiện nay khôn ngoan và thuận lợi hơn kẻ sĩ thời
phong kiến. Họ không cần “đấng minh vương”, cũng
không hẳn cúi đầu lâu dài phục vụ cho bọn “độc
tài, độc đảng”, họ biết thức thời để kiếm ăn,
làm giàu rồi tìm đường rút lui. Nghĩa là kẻ sĩ hiện
nay vẫn còn núp bóng “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”,
với một hình thức mới, hình thức tinh vi hơn với nhiều
biến tướng và che giấu kỹ lưỡng.
Kẻ
sĩ thời phong kiến, bị gò ép vào quá mức vào đạo
đức, truyền thống gia đình, xã hội và trung thành với
vua chúa nên không dám đòi hỏi quyền lợi quá đáng.
Ngược lại, kẻ sĩ thời bây giờ, họ cũng nhìn thế sự
thăng trầm ra sao rồi mới “tham chính”. Một khi đã
tham chính thì, - lại so kè, chạy vạy tìm đủ mọi cách
để được tiến chức; thăng quan thu được quyền lợi
nhiều hơn, nếu không đáp ứng đầy đủ thì quay ra
“phản phé” thoát ly, chạy trốn, lập phe nhóm riêng.
Ngày
nay các môn học đa dạng, kẻ sĩ hiện nay bằng cấp
nhiều hơn, mỗi người có năm bảy cái bằng tiến sĩ,
thạc sĩ, cử nhơn là chuyện bình thường. Tuy bằng cấp
có nhiều, còn tài năng thục học thì có khi theo không
kịp cái bằng, đôi khi bằng cấp lại là “bằng mua,
bằng giả” để hợp thức hóa một chức vụ, một cấp
bậc nào đó... Một xã hội suy đồi tha hóa đạo đức
thì kẽ sĩ - dù có trốn nơi trốn triều trung, có trốn
giữa chợ, có trốn vô rừng sâu, thiết nghĩ cũng đều
giống như nhau. Thôi, tốt hơn hết là đối mặt mà ngẫm
câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”.
Biết đây là biết thời, biết thế và rồi kẻ sĩ lại
chờ một “Đấng Minh Vương” mới để phò tá. Nhưng
khổ thay, cái đấng minh vương tự cổ chí kim chỉ có
đếm trên đầu ngón tay.
Nhìn
chung, (kẻ sĩ hay hèn sĩ) khoảng cách chỉ là giao thoa
mỏng manh của lý trí trước biến thiên phức tạp bí ẩn
của thời cuộc cũng như thực dụng và lý tưởng. Biết
vậy, nếu có tâm lòng ngay thẳng; có sự thông minh nhạy
bén thì có thể đi đúng hướng, để lại công trạng.
Thời buổi khoa học hiện nay hèn với không hèn cũng
chẳng qua chỉ còn là một khái niệm mơ hồ khó định
hình trừ phi có ai đó tự nói ra.
Thi
sĩ Nguyễn Du cũng đã từng báo trước:
“Trăm
năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét
nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy
mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong.”.
Dù gì, thì kẻ sĩ (hiện nay) vẫn là kẻ sĩ; kẻ sĩ vẫn có ích cho đời. Các chế độ độc tài, độc đảng mới e sợ kẻ sĩ có nhân cách, có đạo đức, có thực tài - những kẻ sĩ đó rất khó thuyết phục và khuất phục.
Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).
Quán Ven Đường Ngày Xưa.
25/12/25
MƯA GIÁNG SINH
MƯA GIÁNG SINH
“Ngâm
nga mong gửi chữ tình
Dường
này âu hẳn tài lành trượng phu!"
(Chinh
Phụ Ngâm Khúc)
Ngày chậm rãi lăng qua
khung trời cũ
nhìn kỹ ra thượng-đế
tuổi đã già
sờ nút áo, chỉ sứt còn
phân nửa
lảng-vảng đầu hình
bóng áo bà ba.
Ngã tư ngắm, mắt mòn
gần một kỷ
cột đèn run lập-cập
tiễn xe hơi
ngồi xe đẹp biết có ai
thầm-thỉ
đứng chồn chân trông
đợi, tới đã đời.
Mây thích kéo âm-binh loài
quân giặc
giọt rơi vui, lẫn lộn
giọt buồn gieo
nhớ bậu ẵm chiếc bóng
mờ hiu-hắt
không mơ giàu, thôi ráng
giữ kiếp nghèo.
Quán thanh vắng, ngắm
nghía cô starbucks
thèm nụ hôn nồng ấm
của năm nao
đường phố rộng, nẻo
về chật thêm chật
thương người thương
sống chết dạ cồn cào.
Cầm điện thoại,
ngập-ngừng đành bỏ xuống
chờ chuông reo ai đó ngụ
tứ phương
mong, giác-ngộ-hữu-tình
thêm luống-cuống
nại-lão-hà, khai-thị
diện vô-thường.
Ngồi một chỗ, ngắm mưa
mù bận cẳng
lội cao nguyên, núi thẳm
khói sương vây
lô-cốt đứng, thú tỉ-tê
xa vắng
chim hỏi thăm, vì sao đậu
đất nầy.
Ngồi một chỗ, nghe
man-man-trường-dạ
mùi súng gươm phảng phất
ngấm châu thân
mùi áo lính, mùi giày,
mùi đất lạ
mùi thư tình, mùi bồ kết
ân cần.
Ngã tư ngắm, lần hồi
ra ngã bảy
sông hậu tiền nhuốm căn
bệnh tương-tư
đò ngang dọc bến neo nào
đâu thấy
cõng hai mùa, mưa nắng
mệt đứ đừ.
Ghế hiểu chuyện, ghế
tỏa ra hơi ấm
bàn lạnh tanh tỳ tay
tưởng nỗi xưa
hiên mưa trước, hơi nhau
còn âm ấm
nghĩ huyên-thuyên kể ra
cũng chưa thừa.
Mưa rỉ-rắc, gió hắt
tường kiếng ẩm
có phân-vân, bốn ngả
hóa lưỡng-đồ
nhị lộ hướng, chẳng
lẽ làm tính nhẫm
lau mắt cô starbucks dõi
hư-vô.
Đã dạo hết, nửa đời
tầm tri-kỷ
nơi đâu là, diện-kiến
nối tri-âm
bài thơ gói bằng ngàn
lời hoa-mỹ
gởi thinh không, gửi vô
chốn âm-thầm.
Thánh-đường vọng, hồi
chuông già nức-nở
giáng-sinh mùa, giọt ướt
thấm hài nhi
nhân-gian đó - dẫu có
là: lầm, lỡ
lòng tin yêu, chẳng
vương-vấn chuyện gì.
22/12/25
17/12/25
NỬA ĐÊM NGÓ RA VƯỜN.
NỬA ĐÊM NGÓ RA VƯỜN
“Vạn
lý tình không, tuyệt vân cảnh,
Mãn
đàm trừng thủy hiển nguyệt minh.”
Nửa
đêm lạnh trở người qua đông-chí
sương
ngủ mê chẳng thèm biết mấy trời
jacket
nặng tuổi than rằng cũ-kỹ
khẽ
mỉm cười quên ngắt nhánh đơn côi.
Cây
một gốc lêu-nghêu mòn trong gió
đứng
trân mình gào thét nhức hai tai
chiếc
lá rụng chưa yên thân nằm ngó
vốn
mong-manh kiến mối đã an bày.
Phố
chưa thức starbucks nàng mở mắt
bậu
về không, rà soát nỗi căn nguyên
tuyết
không lạnh, nhớ tấm mền đau thắt
chưa
sa-di, dựa quán vắng tham-thiền.
Mấy
bụi tỏi, khóm hành lạnh giá quéo
hương
vị nồng ướp thấm tủy chưa tan
giờ
tan học, có còn ai lẽo-đẽo
áo
dài bay nắng ấm phủ địa đàng.
Mấy
bụi sả, liếp gừng chung số phận
ôn
lại khi lãnh noãn của những ngày
phương-phi
trẻ té ra đà lận-đận
vòng
xoáy đời, mặc kệ hổ mặt ai.
Lại
thương lắm đứng một mình, cây ớt
thân
co ro khi trái gió trở trời
cây
cần ấm cớ chi người hời hợt
đông
phải về để đông nhỏ sầu vơi.
Xót
khúc gỗ lềnh-bềnh chờ ai đó
đỗ
quyên hồn lơ lửng
thế nhân này
nhược
vấn thử, vọng hồi-âm trong gió
nửa
đêm nằm ngồi ngẫm nghĩ loay-hoay.
Gia
vị ấm: ớt, tỏi, hành, gừng, sả
bàn
tay tiên bậu ướp sưởi nội tâm
ngày
hạnh-phúc mưa rào qua vội-vã
mùi
còn lưu dưới gối phả hương trầm.
“Vạn lý tình không, tuyệt vân cảnh,
Mãn đàm trừng thủy hiển nguyệt minh."
Trang Y Hạ, Tạm dịch:
(Muôn dặm tình không, mây chẳng thấy,
Hồ đầy ngó xuống trăng sáng trưng).
LỜI GIÓ MƯA:
THU CÚC.
Cao tiết xung hàn phóng mãn sơn,
Độc siêu quần huỷ điểm thu nhan.
Hốt tư cựu tuế đông ly hạ,
Đối tửu xan anh tận nhật nhàn.
Thơ: (Ngô Thì Nhậm).
THU CÚC.
Lạnh về triền núi đầy hoa,
Sắc thu khác lạ mượt mà cỏ cây.
Tường đông, vườn cũ thương thay,
Thấm men, hương cúc trọn ngày đê mê.
Trang Y Hạ
Tạm: (Dịch Thơ).
TOKYO, CHỚM ĐÔNG
Loay hoay cạn kiệt một đời
Lắm khi chưa kịp mỉm cười, đã đi.
Trăm năm ngoảnh lại có gì
còn chăng chung với xanh rì cỏ rêu.
Đã từng: thương hận, ghét yêu
So đo cho lắm một chiều phủi tay
Giọt mù lỗ chỗ tóc mai
Bên tai, văng vẳng tiếng ai gảy đờn.
Thu Hương. (Tokyo).
11/12/25
MẤT WI-FI.
MẤT WI-FI.
“Vô tình nguyệt tuế
tăng trung giảm,
Hữu cảnh khổ tiền
lãnh hậu điềm”.
Wi-fi mất, thinh thinh con
chó lác
đầu lơ-ngơ than-thở
thủy triều dâng
mắt biếc đọng vài
hoàng-hôn nhợt-nhạt
bao lo toan chưa định
luống bần-thần.
Bậu bên nớ co-ro vùng
mưa bão
màu đỏ tươi cuồn cuộn
sóng bộn bề
bầu sữa cạn, ngực đau
đầu lão-đảo
ôm con thơ chờ thượng-đế
mỏi mê.
Thiên-tai định có khi nào
hoàn-mỹ
tuần hoàn vòng sinh diệt
tuần tự quay
từ tâm thiện bước lên
thuyền diệu-trí
tam khổ đeo, đòi đoạn
thế gian này.
Tưởng yên lặng, thẳm
sâu âm ỉ sóng
tưởng vững-vàng, ngờ
đâu bước khiêu khiêu
tưởng hợp phố, ai ngờ
xuồng hư-hỏng
tưởng giàu sang, nợ đống
réo đủ điều.
Wi-fi mất, mắt mù mờ
mịt mắt
đang sờ sờ hóa bóng
hoạt tử nhân
ở đâu có, phút sinh hồi
khởi sắc
đang sáng trưng đã hối
hả mây vầng.
Nhớ nhau cố dồn nhớ vô
tâm não
chắc thời-lai-phong-tống
sẽ đưa hương
đã ngán ngẫm, bọn
khuyển ưng vênh-váo
một đám quan, hai miệng
quả chán-chường.
Wi-fi mất, điện-thoại
nằm tê gió
hai tâm hồn, giữ hơi ấm
đôi bên
bậu gồng mình, đối
thân ngồi vò-võ
tuổi hoa niên, theo sóng
đỏ bồng-bềnh.
Bờ bên đó, dương liễu
trông ra biển
họa thiên-nhiên, họa từ
chỗ u-mê
tròng nặng cổ ai là
người thăm viếng
bát-đức đành theo gió
bão chẳng về.
- Bát-Đức,
Thuyết Phật là: (Hiếu – Để – Trung – Tín – Lễ –
Nghĩa – Liêm – Sỉ).
Lời
Gió Mưa:
Khể thủ thiên trung
thiên,
Hào quang chiếu đại
thiên.
Bát phong xuy bất động,
Đoan tọa tử kim liên.
Thơ: Tô Đông Pha
(1037 – 1101)
(Cúi đầu ngàn vái lạy
giữa trời,
Ngày lên ánh sáng chiếu
khắp nơi.
Tám hướng gió lùa
không lay nổi.
Bông sen ngồi ngắm quả
tuyệt vời.
Trang Y Hạ
(chuyển qua thơ Việt).
10/12/25
Thơ Phổ Nhạc. Mùa Giáng Sinh.
"Cuộc đời thì ai cũng có nhiều tiếc nuối, thôi đành ôm tiếc nuối đó để tiếp tục bước đi". (Trần Phước Hân).
Thơ Phổ Nhạc "Nghe Hơi Gió Nồm.
Đường Phan Thanh Giản KonTum.
Hai hàng phượng, đứng im cau mày ngẫm,
Trường Teresa, tà áo vẫn còn bay.
Dakbla chảy ngược dòng qua hồn thấm,
Bậu nơi đâu, sương núi ướt lòng nầy.
1/12/25
CHẠY
CHẠY
“Tẩu biến thiên
nhai tầm tri kỷ,
Vị tri nhược cá
thị tri âm”. (Hư Vân).
Vô rừng dạo, vướng bụi
cây
ghét người ong dữ một
bầy túa ra
không lý-lẽ, chẳng
giải-hòa
rựa, dao phang tới chạy
ba đỗi đường.
Thoát thai dòng dõi thiện
lương
không thèm chấp-nhất một phường lưu-manh
quạ trơ mắt ngó chẳng
hành
sóc chu mỏ gặm tập tành
du-côn.
Ngũ-liên sóng
hối dập-dồn
đày chàng linh-thú dại
khôn lưng còng
quê nhà còn có chi mong
tiếc cho thủa bé
thong-dong ra đồng.
Biết rằng kẻ nhớ người
trông
biết rằng con cá lòng
tong lạc loài
biết rằng vằng-vặc
trăng soi
biết rằng nói cuội cũng
coi như huề.
Hồn quyên ký-ngữ tỉ-tê
vô-tàm, giải-đãi khen
chê mặc tình
sinh chưa buông-thả, thấm
kinh
dật-dừ, chẳng nhớ nỗi
mình ra chi.
Lắng trong phương-vị
thầm thì
là nam, là nữ cố-tri đâu
tầm
hỡi người chung đụng
một mâm
gỗ trôi ai vớt, lỡ lầm
ai tha.
Ngồi nhà mà ngỡ xuất-gia
song-le, việc ấy kể là
sa-di
hỡi người thuở trước
cầm kỳ
bách-niên tao-ngộ, bỏ đi
mô rồi.
Thức nằm, mím chặt đôi
môi
thúc dòng ký-ức nổi
trôi về nguồn
đành mần khất-sĩ chân
suôn
không tu, an tụ tròn vuông
kiếp người.
Vô rừng vọc kiến nghĩ
vui
ba tâm, ý ngụ đã khươi
nhịp đều
đêm trì lắng giọng cú
kêu
lầu son gác tía, túp lều
khác đâu.
Chạy từ bắc tận nam
cầu
may rồi lại chạy biển
sâu đứt nguồn
bình tâm văng vẳng tiếng
chuông
từ trong sương tuyết gió
luồng hỏi thăm.
LỜI GIÓ MƯA:
KỆ.
Dĩ sanh vô hữu sanh
Vị sanh diệt vô sanh
Ly dĩ sanh vị sanh
Sanh thời tức vô sanh. (Bồ Tát Long Thọ)
KỆ.
Sanh đã có đâu phải cần sanh nữa,
Nếu chưa sanh kể ra cũng không sanh
Sự sanh cách cớ chi mong sanh lại
Khi đang sanh chưa chắc đã sanh thành.
30/11/25
NGHĨ VỀ CHỮ KIỀU
NGHĨ VỀ CHỮ KIỀU.
HOA KIỀU:
Ngày xưa vùng “Gia Định - Chợ Lớn - Sài Gòn” vốn gần như là “thuộc địa” hay “tô giới” của người Tàu. Người Tàu du nhập vô Việt Nam bằng nhiều hướng: Từ sông Dương Tử, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến, Hồng Kong, Đài Loan - bằng nhiều lý do từ: chính trị, thiên tai, kinh tế và lý do duy nhất (sau nầy) là trốn tránh sự đàn áp. Đàn áp do sự thay đổi triều đại từ khi triều đình Mãn Thanh thống nhất Trung Hoa. Một số nhân sĩ tinh hoa người Hán quyết tâm khởi nghĩa “Phản Thanh Phục Minh”, nhưng thất bại phải chạy qua Việt Nam tỵ nạn.
Tử
khi Pháp chiếm Đông Dương, với chính sách “chia để
trị”, đã nhận thấy hiện trạng như vậy và tiếp tục
công nhận đồng thời dung túng (một số đặc quyền)
cho người Tàu sinh hoạt buôn bán tự do theo cách riêng
của người Tàu. Nhưng có thể khẳng định ý đồ là
Pháp dựa vô thực lực và đầu óc kinh doanh mại bản
thiên bẩm của người Tàu để khống chế giới điền
chủ, giới tư sản của người Việt vốn ít ỏi để
thao túng buộc người Việt phải theo ý người Pháp.
Người Tàu Chợ
Lớn cần cù làm ăn, nên có câu:
“Quảng
Đông ăn cá bỏ đầu,
Phúc Kiến
lượn lấy đem về kho tiêu”.
Từ chỗ nghèo đói trở thành - có thế, có quyền, có tiền của khắp cả một vùng và rồi lại tỏ ra khinh thường người Việt. Họ (người Tàu), chiếm hữu tất cả ngành nghề của người Việt, mà ngành nghề đó người Việt vốn đã tồn tại từ lâu đời: Thợ rèn, thợ hồ, thợ mộc, thợ may, thợ tiện, thợ máy, thợ nhuộm, thợ đúc đồ đồng… Người Việt lúc bấy giờ chỉ còn làm những công việc nặng nhọc, như: Làm công nhân khuân vác, bốc vác nơi các bến cảng, bến tàu (sông, biển), làm công nhân hãng xưởng, kéo xe... Tất cả đều chịu sự điều khiển sai khiến của các xì thẩu, cai thầu người Tàu. Hơn nữa người Tàu làm ăn theo phương thức (phường, hội), Ngũ Bang (Tiều (Tiều Châu), Hải Nam, Quảng Đông, Hẹ, Phúc Kiến) nhằm để giúp đỡ lẫn nhau, họ thường chúc nhau “Thượng Lộ Bình An”, cho nên người Việt một phần thiếu “gắn kết”, vả lại cón thiếu vốn liếng không thể tranh đua với họ được.
Người Pháp rút ra khỏi Đông Dương, các Bang Hội người Tàu và các Trường Học của người Tàu từ từ bị giải tán hết. Năm 1954, chính quyền ông Ngô Đình Diệm, chấp chánh đã hiểu rõ người Tàu nắm tất cả huyết mạch kinh tế, thương mại của miền Nam kể cả xuất nhập cảng lúa gạo... Người Tàu từ bao đời nay họ cư ngụ chỉ là Tàu Kiều, nói chính xác là “HOA KIỀU” Chợ Lớn (nạn Hoa Kiều). Hoa Kiều tức là những người Tàu cư ngụ trên đất nước Việt Nam chứ họ không phải Công Dân Việt Nam. Do đó, chính phủ của ông Ngô Đình Diệm đã nhanh chóng đưa ra “Bộ Luật Quốc Tịch Việt Nam” vào cuối năm 1955. Trong điều thứ mười hai (12) ghi rõ: “Nếu là con chính thức, mà có mẹ là người Việt Nam, và có cha là người Tàu (Trung Hoa), nếu sinh đẻ ở tại Việt Nam thì đứa trẻ đó là người Việt Nam”. Và, vài tháng sau, thì “Bộ luật Quốc Tịch” lại quy định thêm: “Hoa Kiều sinh tại Việt Nam sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải khai nhận Quốc Tịch Việt Nam và làm Căn Cước, nếu không tuân thủ theo luật định thì có thể xin hồi hương về lại Trung Hoa trước ngày 31/8/1957”.
Bộ Luật Quốc Tịch Việt Nam ra đời, được xem như một cuộc cách mạng làm thay đổi vấn đề “HOA KIỀU đã sống tầm gửi từ lâu trên đất Việt mà không chịu sự quản lý về di trú tư pháp. Đó là các Dụ số 52 được ban hành ngày 29-8-1956, dụ số 53 ngày 6-9-1956. Cả hai sẽ chính thức áp dụng ngày 25-10-1956.
Dụ số 52 quy định rằng người Tàu “Hoa Kiều” định cư tại miền Nam (Gia Định – Sai Gon) bắt buộc phải nhập Quốc Tịch Việt Nam. Khi nhập quốc tịch, thì sẽ được bảo đảm tự do giao dịch, buôn bán, đi lại. Người Tàu phải dùng chữ Việt đặt tên họ như: (Quách, Mạch, Lâm, Trịnh, Tô, Trần, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trương, Ngô, Hồ...), và cũng không được dùng tên ngoại quốc hay tên gọi riêng như: A, Chú, Chế…, kể cả bí danh trong các văn kiện hành chánh, khai sanh, hôn thú... Tên trên bảng hiệu thương mại, tiệm chạp phô kể cả văn chương thi phú cũng phải viết bằng Chữ Việt.
Dụ
số 53 cấm người ngoại quốc không được kinh doanh mười
một (11) ngành nghề, như: 1- Buôn bán cá thịt, 2- Chạp
phô, 3- Than củi, 4- Nhiên liệu xăng dầu, 5- Tơ sợi, 6-
Trung gian mua bán, 7- Kim loại, 8- Lương thực xuất nhập,
9- Chuyên chở thủy bộ, 10- Xay gạo, 11- Dịch vụ.
Đạo
dụ chỉ áp dụng cho thành phần (chủ nhân, thương nhân,
thương lái) người Tàu và các ngành nghề thuộc về kỹ
nghệ và hành nghề tự do. Người Tàu lai Việt, có vợ
người Việt thì không ảnh hưởng quy chế chế tài, vẫn
được phép kinh doanh dưới tên người thân, nhưng người
thân (vợ, chồng) phải là người Việt Nam có quốc tịch
Việt Nam, hộ tịch khai sanh chính thức bằng bản văn tư
pháp của chánh quyền Việt Nam.
Chính
phủ ông Ngô Đình Diệm dứt khoát về vấn đề quốc
tịch để cho người Tàu “Hoa Kiều” được sống hợp
pháp trên đất Việt Nam. Một khi đã là công dân Việt
Nam thì họ sẽ được hưởng quy chế ưu đãi không khác
gì người Việt một cách công bằng và có nghĩa vụ quân
sự; có nghĩa vụ đóng thuế góp phần cho đất nước
cũng như chấp hành các nghĩa vụ công dân khác.
Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều suôn sẻ. Ngay từ đầu khi các dụ luật ra đời thì người Tàu Chợ Lớn phản ứng kịch liệt, dữ dội... – nhất là một số thương lái, thương nhân Tàu giàu có gọi là “đầu nậu” của một số ngành kinh doanh cỡ lớn không chịu khuất phục tuân thủ luật nhập quốc tịch Việt Nam. Họ đã tìm đủ mọi cách chống trả, họ lại liên hiệp với các nhà “tài phiệt” thế giới như: Hong Kong, Trung Hoa, Đài Loan... để làm áp lực với chính phủ Ngô Đình Diệm. Và cuối cùng họ nhận ra là không thể thắng, cho nên có (một số) ít trong số họ chọn cách rút lui về cố hương, hay còn gọi là hồi hương.
Chính phủ ông Ngô Đình Diệm không hề có chủ trương bài xích người Tàu hay có thành kiến đối xử không tốt đối với người Tàu. Chuyện yêu cầu người Tàu “Hoa Kiều” sống lâu đời phải vô quốc tịch Việt Nam là điều kiện hợp tình, hợp lý, hợp pháp, hợp hiến ở trong một quốc gia tự do dân chủ và cần phải nêu rõ quan điểm Chủ Quyền Quốc Gia để ổn định xã hội. Không chỉ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa mà các quốc gia khác trên thế giới cũng đã có luật tương tự nhằm bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo đảm trật tự xã hội, bảo đảm an ninh kinh tế tài chánh.
Công bằng mà nói thì người Tàu “Hoa Kiều” họ cũng đã có một số công trạng nhất định đóng góp to lớn cho vùng đất (Gia Định – Sai Gon) về văn chương thi phú cũng như theo phò triều đình Nhà Nguyễn khai hoang mở cõi một số địa danh Nam Kỳ, như các vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Dương Ngạn Địch, Trịnh Hoài Đức, Trần Thượng Xuyên, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản, Lý Văn Phức,…
Trong
thời gian theo phò Nhà Nguyễn, người Tàu cũng bị tổn
thât nhân mạng khá nhiều. Đó là vào năm 1782, quân Tây
Sơn vây đánh quân Nhà Nguyễn tại vùng Vườn Trầu -
Mười Tám Thôn Vườn Trầu (Gia Định). Tiền quân Tây
Sơn bị phục kích. Hộ giá Phạm Ngạn là một sủng thần
của Thái Đức Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Nhạc bị Chiến
tướng Trần Công Chương, quân của Hòa Nghĩa mà nghĩa
quân Hòa Nghĩa phần đông là người Hoa (Tàu), giết chết.
Vua Thái Đức hay tin dữ rất tức giận, bèn ra lệnh thảm
sát, truy sát người Hoa tại Gia Định thành để trả
thù.
VIỆT
KIỀU:
Ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy mươi lăm (30.4.1975), Cộng quân xâm chiếm miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa). Từ đó, họ gấp rút “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” bằng các giai đoạn: Đưa dân đi kinh tế mới nơi rừng sâu nước độc, mà người dân miền Nam gọi là “đem con bỏ chợ”. Đổi tiền ba lần gần như xóa sạch giá trị đồng tiền miền Nam.
Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa (1955). 35 $ Miền Nam = $1 Mỹ kim
-
Năm 1960 – 1970 khoảng 300 $ VNCH = $1 Mỹ kim
-
Năm 1970 -1975, khoảng 500 – 700 $ VNCH = $1 Mỹ kim. Trên mặt
các đồng tiền của Việt Nam Cộng Hòa chỉ in hình các
bậc tiền nhân chống giặc Tàu, cảnh trí quê hương và
hình ảnh cơ giới kỹ nghệ.
Sau
1975, qua ba lần đổi đổi tiền. (Lần thứ nhất: ngày
22-9-1975 - Lần thứ nhì: ngày 02-5-1978 - Lần ba: ngày
14-9-1985). Đã quy ra: 500 $ VNCH = Một [1] đồng Miền Bắc.
Tức là, chỉ cần một [1] đồng rưỡi tiền Miền Bắc
lúc đó đã đổi được một [1] $ Mỹ kim. Chuyện nầy,
thì (chỉ duy nhất, là [$] đồng Bảng Anh, mới làm được
điều đó).
Vậy,
thử hỏi rằng: Từ chỗ 1,5 $ đồng tiền Miền Bắc ăn
một [1] Mỹ kim thời năm (1975)… Vậy cớ gì sau năm mươi
[50] năm đồng tiền của Việt Nam tụt xuống tới 27.000
$ mới đổi được một $ [1] Mỹ kim? Đồng tiền Việt
mất giá tới – hơn mười sáu ngàn lần, gần áp chót
theo bảng xếp hạng của thế giới.
Từ
đó, người dân miền Nam mất tiền hưu kể cả tiền để
dành. Đánh tư sản mại bản công thương nghiệp các đợt,
hãng xưởng, hãng buôn mất sạch. Dồn người nông dân
vô các Tập đoàn sản xuất, Hợp tác xã nông nghiệp.
Thật ra, các hình thức đó chẳng qua là vơ vét tài sản,
tiền của, đất ruộng nhà cửa của người dân miền
Nam hầu xóa bỏ “Tàn dư tiểu tư sản”. Quân đội,
công chức miền Nam “đầu hàng” thì bị tập trung cho
vô các trại “cải tạo” tù đày nhiều năm, phải đi
lao động để nuôi thân, thiếu ăn, bệnh tật phải bỏ
xác nơi chốn rừng thiêng nước độc.
Xã
hội chủ nghĩa sung sướng chưa thấy đâu, nhưng trước
mắt đã thấy đói khổ triền miên trong nhiều năm, phải
ăn củ mì, củ sắn, bo bo... Di chuyển bị “ngăn sông
cấm chợ” lại không có xăng dầu, xe cộ phải dùng
nhiên liệu bằng than củi. Năm 1994 chính phủ Mỹ bỏ
“Cấm Vận” sau hai mươi năm bị cô lập. Từ đó, Hoa
Kỳ cho Việt Nam gia nhập “WTO” (World Trade Organization).
Tạm hiểu là kinh thế thị trường tự do tư bản, thì
kinh tế Việt Nam mới khởi sắc và giàu lên nhanh chóng
như hiện nay.
Người
xưa nói “Cọp beo không đáng sợ, cái đáng sợ là
quan lại độc ác tham ô”. Bị cướp đoạt hết
nhà cửa đất ruộng tài sản, người dân miền Nam, (kể
cả những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản) xúm
nhau nhào ra biển để đi tìm tự do ở các quốc gia tư
bản, bất kể sóng to gió lớn; bất kể hải tặc Thái
Lan... Năm 1979, chiến tranh sáu tỉnh biên giới phía Bắc,
do “Trung Cộng Anh Em” dạy cho cộng sản Việt Nam một
bài học thì người dân miền Bắc cũng ồ ạt tháo chạy
qua Hong Kong xin tỵ nạn.
Từ
đó, hai chữ “Việt Kiều” ra
đời.
Thử
tìm hiểu chữ Kiều, theo (Hán Tự- Hán Việt). Chữ Kiều
có nghĩa như sau: Kiều (Bộ Nữ) là: - Giai nhân đẹp,
người phụ nữ đẹp. Chữ Kiều (bộ mộc) là: - Cây
cầu, dùng chung cho các cây cầu. Chữ Kiều (Bộ cư, Bộ
nhân) là Người ăn nhờ, ở đậu, ở nhờ vùng khác,
làng khác hay nước khác gọi họ là kiều cư, kiều dân.
Theo (Bộ khẩu). Kiều là cây cao. Trong Hán Tự, không có
chữ “Kiều Bào”. Chữ Bào (Pào). Hán Tự có hai nghĩa:
Một, là: – Cái áo khoác bên ngoài. Chiến bào.
“Áo
bào thay chiếu anh về đất,
Sông
Mã gầm lên khúc độc hành”, Thơ: Quang Dũng.
Hai, là:
– Cái bị, cái bì, cái bao, cái bào thai… Chẳng có chữ
nào gọi là “Kiều Bào” ở trong “Tự-Điển Hán
Việt”.
Ngoài
ra, “Kiều” cũng không phải Kiều của Nguyễn Du.
“Kiều
còn sắc sảo mặn mà,
So
bề tài sắc lựa là phần hơn”. (Kiều Truyện).
Chữ Kiều trong “Việt Kiều” là chữ Kiều 僑 theo Hán Tự là viết như vậy đó. Chữ “kiều” còn có nhiều nữa, tùy theo ý nghĩa của mỗi bộ tự chữ Hán và cách xử dụng trong mỗi câu văn, câu thơ và hoàn cảnh tương ứng. Chữ Kiều, nếu là Động Từ, thì Kiều là chỗ ăn nhờ ở đậu. Ví dụ: “Kiều Cư”. Nếu là Danh Từ, thì Kiều chỉ là người sống nhờ. Ví dụ: “Hoa kiều” là người có quốc tịch Tàu, sống ở nước ngoài. Còn nếu là “Trợ Từ”, thì có nghĩa là tạm thời. Ví dụ: “Kiều Trí” là mượn tên một đất vùng này đặt tạm cho một vùng đất khác. Chữ “Kiều” là (bọt nước), nghĩa bóng là mộng mơ... “Mộng huyễn bào ảnh như thị hồ”. Chữ “Kiều”, cho dù đứng ở vị trí nào, tình huống nào thì chữ “Kiều” phần nhiều cũng hàm ý - là tạm bợ, là tạm thời; là trôi nổi; là linh đinh chứ chẳng “cắm dùi” ổn định lâu dài.
Từ lâu nay người ta vẫn dùng hai chữ “Việt Kiều” để gọi chung những người Việt Nam định cư ngoài đất nước Việt Nam, cách gọi này rõ ràng là quá hàm hồ, không thể gọi theo kiểu cá mè một lứa như vậy được. “Việt kiều”, hiểu cho đúng nghĩa thì đó là những người đang còn mang Quốc Tịch Việt Nam nhưng sống ở nước khác. Ví dụ: "Người làm trong bộ ngoại giao; Người đi làm thuê, làm mướn, ở các nước khác – gọi là “xuất khẩu lao động”; Du học sinh tới các nước khác học tập nghiên cứu...".
Người Việt vượt biên tìm tự do, Người Việt tỵ nạn cộng sản hoặc bất cứ hình thức nào mà đã đã được các quốc gia tư bản cho tỵ nạn lâu dài, đã thi đậu quốc tịch nơi đang định cư, sau khi tuyên thệ trở thành “công dân” của họ thì hoàn toàn không còn là “Việt Kiều” nữa, mà gọi là, Ví dụ: “Người Mỹ gốc Việt; Người Pháp gốc Việt; Người Anh gốc Việt…! Nhưng khi tới đời con, đời cháu sinh ra sau này (nơi cha mẹ đang sống) thì không còn là gốc Việt. Tuy nhiên, (trên danh nghĩa ngôn ngữ, xã hội - thông thường chỉ gọi chung chung là thuộc các nhóm: Asian; nhóm La Tinh; nhóm Africa…).
Cộng sản Việt Nam lâu nay gọi xô bồ người Việt định cư, người Việt tỵ nạn ở nước ngoài là “Việt kiều yêu nước, Khúc ruột ngàn dăm”, nhằm mục đích (gom góp) nguồn tiền của họ hay còn gọi là “kiều hối”. Khúc ruột nào mà dài tới cả ngàn dặm vậy? Đáng trách, đáng buồn, một câu nói sai nghĩa nhưng nói hoài, nói nhiều lần mà không ai chỉnh sửa, cứ để lâu ngày ắt sẽ trở thành đúng, thành chân lý...
Chữ Việt hiện nay cũng vậy. Ví dụ: Đánh người tới hộc máu mũi, thì nói “Tác động vật lý”. Tiệm tạp hóa, thì nói “Cửa hàng vật lý”. Cái chữ, cái nghĩa, nét chữ, thì nói “Con chữ”. Chữ mà có con được sao? Học sinh, học trò, thì nói “Con học sinh”. Học sinh (đang học) mà có con được sao? Viết từng "câu thơ, câu văn, câu vè, câu đối, câu ca...", thì gom chung, là "Câu chữ".
Bởi vậy, lâu nay người Việt định cư ở các quốc gia khác nhưng do quen miệng cũng tự nhận, là Việt Kiều. Đáng tiếc một số ít các ông bà: Văn sĩ, Thi sĩ, Ký giả... mỗi khi viết văn cũng “nhân danh” Việt Kiều! Mong rằng các vị người Việt có quốc tịch, hay là công dân ở các quốc gia tự do tư bản thì đừng có mà “hãnh diện” nhận lấy hai chữ Việt Kiều nữa!



















.jpg)
