Trang Y Hạ
Thư viện
30/7/26
24/5/26
CƯU KIM SƠN CÒN ĐÓ.
CỰU KIM SƠN CÒN ĐÓ.
“Đánh tranh chụm
nóc thảo đường,
Một gian nước biếc mây
vàng chia hai.”.
(Nguyễn
Du).
Phố vắng ngắt, dội
bước chân khách trú
Cựu-Kim-Sơn ẩn mình nén
trùng-sinh
giọt dĩ-vãng trở mùa
rây sương phủ
nấp tàng cây ráp nối
mảnh dáng
hình.
Jacket ứa gót quân-hành
rừng thẳm
chẻ ưu tư tâm phát chẩn
u hoài
thân trống hoác thủy-triều
dâng ắp-lẵm
tủi lá vàng chao động
đáy nước soi.
Trăng cổ độ lần dò
đôi bờ vắng
tầm nguyệt sa sống
chết ngụ nơi đâu
dẫn xác khuyết soi bến
đò yên ắng
tầm cây dầm chịu gánh khổ úa nhàu.
Tôi cổ độ lạc qua vùng
đất trích
Gia-Định thành ký ức
bám rong rêu
hồn đại-lộ ngựa xe
chìm tịch-mịch
thương lục bình chiều
con sóng phập phều.
Cô da đỏ giọt sầu chìm mắt biếc
có giận hờn xua đuổi
kẻ phương xa
đã mất đất lẽ nào không hối tiếc
lại cưu mang thêm một kẻ không nhà.
Tâm muốn phẳng giấu
trong đầu đèo dốc
răng bỏ hàm gối lỏng
tóc trổ hoa
đồi trơ trọi cành chờ chi ra lộc
trời Văn-Lang vệt nắng
chói chưa nhòa.
Soi nghiệm số suy
phương-trình hai bậc
cầu Cổng Vàng nhìm-nhịp
giỡn thời gian
sương dẻo-nhẹo quện
xuống đầu váng-vất
nẻo từ tâm ai đó thúc
vội vàng.
Tay siết chặt vòng eo cô
starbucks
sờ đáy mò hàng chữ dẫn
“careful” *
hơi nồng sưởi tội cảnh
đời lây-lất
chân còn xài, dò dẫm xuống metro.
Kim Sơn Cựu vấn an tình
cố cựu
phố già tồn, tôi
du-ngoạn thiên-cung
chân thành cảm mối
tương-giao hiện hữu
hẹn mai kia kỳ-ngộ ắt
tương-phùng.
* - “Careful, the beverage you’re about to injoy is extremely hot. Do not microware.”.
*- Cựu Kim Sơn = (San Francisco).
ĐỌC; KIẾM HIỆP DÃ SỬ.
ĐỌC: KIẾM HIỆP DÃ
SỬ.
“Tay
trỏ xuống, một phen bạc phơ đầu lũ giặc
Vươn
mình cao trăm trượng Sóc Sơn kia.”.
(Trần
Thúc Vũ).
Trang Y Hạ
Tôi đọc truyện kiếm hiệp “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” gồm bốn [2] cuốn. Tác giả: Trần Phiên Ngung và thi phẩm “Dựng Cõi”, của Tác giả Trần Thúc Vũ. Cả hai “đầu sách” tôi nhận từ chị Hà Tuyết Vân ở Anaheim gửi tặng. Thật ra: (Trần Phiên Ngung - Trần Thúc Vũ. Tuy hai, nhưng cùng một tác giả.).
Từ lâu, khi nhận
được sách tôi đã có ý nghĩ viết đôi dòng như một
“lời phi lộ” hầu bày tỏ chút (tương giao) cảm nhận
lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn bày tỏ trong tác
phẩm kiếm hiệp dã sử và thi tập như một lời cảm
ơn. Tuy vậy, muốn thẩm thấu một tác phẩm trường
thiên tiểu thuyết kiếm hiệp nổi danh trong một thời
gian ngắn không phải chuyện ngày một ngày hai... Bây giờ
ngồi viết cũng chỉ là lướt qua ý tưởng như người
“cởi ngựa xem hoa” chứ không dám nói “bình văn, bình
thơ” đối với một tác phẩm đồ sộ như vậy.
Tóm tắc lai lịch sau
bìa sách: “Thi sĩ Trần Thúc Vũ sinh năm 1941 ở Thái
Bình. Cựu thiếu tá không quân VNCH, đi tù “cải tạo”
ngoài Bắc mười hai [12] năm; đi tù đợt hai năm
[5] năm. (Tổng cộng là mười bảy [17] năm.).
Trục xuất ra khỏi nước năm 1999, được định cư ở
Anaheim California (Hoa Kỳ) cho tới khi qua đời.”.
Tựa sách “Nam Thiên
Nhất Tuyệt Kiếm”, tạm hiểu là (Cõi trời phương Nam
có một tay kiếm lừng danh.). Tuy rằng, cốt truyện dã sử
là hư cấu, hư cấu nhưng không hẳn là muốn nói gì thì
nói; nói không mục đích; nói không chủ đề. Tư tưởng
cốt yếu trình bày trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”,
chủ đích tác giả gợi lại lòng yêu nước, lòng quyết
tâm giữ nước của tiền nhân và người dân Đại Việt
trải qua hàng ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm
phương Bắc. Đồng thời tác giả cũng dẫn chứng ra các
âm mưu thâm độc mà phương Bắc đồng hóa dân tộc Đại
Việt qua các tổ chức, giáo phái bí mật có tên “Thất
Sát Đoàn”... Hơn nữa, tác giả cũng nhắc lại cho hậu
thế tên tuổi của các đấng anh hùng Đại Việt cũng
như các địa danh xảy ra cuộc chiến chống quân phương
Bắc.
(Truyện kiếm hiệp dã
sử dựa vào sử Đại Việt, tác giả viết trong thời
gian còn ở quê nhà, biết rằng nội dung không đụng
chạm, nhưng lại đụng chạm tới giặc Tàu nên không cho
xuất bản trong nước.).
Ngày xưa (ở miền
Nam) tôi đã từng say mê đọc tiểu thuyết kiếm hiệp:
“Đồ Long Đao”; “Anh Hùng Xạ Điêu”; “Võ Lâm Ngũ
Bá”; “Tiếu Ngạo Giang Hồ”; “Lộc Đỉnh Ký”…
Đọc xong có thể nói là để giải trí chứ chẳng lưu
lại gì nhiều ngoại trừ tên của một vài nhân vật
chính dễ nhớ hoặc một vài môn võ: “Giáng long thập
bát chưởng”. “Cửu âm chân kinh”. “Hàm mô công”.
“Nhất dương chỉ”. “Càn khôn đại nã di”. Đả cẩu
bổng pháp”. “Thiết bố sam”…”. Và, các loại độc
dược: “Thập Hương Nhuyễn Cân Tán” của Triệu Mẫn.
“Xà Vương Độc” của Tây Độc Âu Dương Phong. “Hủ
Thi Độc của Đinh Xuân Thu” “Tâm Thi Não Thần Đan”
của Nhậm Ngã Hành. “Sinh Tử Phù” của phái Thiên Sơn
Đồng Hủ. “Cốt Xuyên Tâm Cao” của Ngũ Độc Thánh
Cô.
Tất cả các thứ võ
công, độc dược trong tiểu thuyết kiếm hiệp chỉ là
để (gà nhà bôi mặt đá nhau.) của người Tàu. Trong
“Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” cũng có nhiều bí kiếp
võ công thượng thừa: “Sát na vô lượng thần công”.
Một tuyệt kiếm của Hưng Đạo Vương trong “Vạn Kiếp
Bí Truyền”. “Bạch hạt kiếm”. “Ưng dực trảo
pháp”. “Thái ất long hình công”... Những môn võ nầy
dùng để đánh giặc phương Bắc, diệt kẻ phản quốc…,
chứ không sát hạn đồng bào ruột thịt. Còn các loại
độc dược độc địa thì trong Nam Thiên Nhất Tuyệt
Kiếm tuyệt đối không dùng. Bọn tiểu nhân, bọn độc
ác mới chế độc dược tiêu diệt đối thủ có võ công
thượng thừa để giành chiến thắng mà không hao tốn
binh lực.
Đọc “Nam Thiên Nhất
Tuyệt Kiếm”, tác giả xử dụng cách hành văn miền Nam
để diễn tả nội tâm nhân vật - dằn xé giữa sự trắc
trở tình yêu trai gái; tình yêu gia đình; tình yêu tổ
quốc và diễn tả các sự kiện lịch sử xung đột nội
tình thế sự trên quê hương trước họa xâm lăng từ
ngoại bang... Tác phẩm đậm tính văn học, văn chương
tiểu thuyết. Tuy vậy, tác giả có xử dụng một số địa
danh và nhân vật (tượng trưng) trong truyện kiếm hiệp
của văn sĩ Kim Dung.
Trích đoạn:
“Từ ngày lớn
khôn Uyển Thanh hiểu được rằng, cha nàng tuy bề ngoài
bình thản, nhưng tự trong lòng ông chất chứa một nỗi
đau đớn khôn nguôi. Dù ông chẳng hé răng kể một lời
về mẹ nàng, nhưng nàng biết ông yêu thương bà vô hạn.
Uyển Thanh lớn lên, không được lưu một chút nào hình
ảnh về người mẹ, những lúc buồn phiền, nàng ước
mong có mẹ để được thổ lộ, để được cảm thông.
Nàng biết cha yêu thương nàng, nhưng tình cha con dẫu đằm
thắm, dẫu dịu dàng vẫn có điều gì xa cách, ông không
thể thay thế một người mẹ trong tâm hồn nàng. Nàng
làm sao ngỏ cùng cha những biến chuyển tâm tư của một
đời thiếu nữ. Hằng đêm, nàng thao thức thương nhớ
mẹ, dẫu rằng nàng chỉ có cái cảm giác thật là quá
mơ hồ về một người mẹ, một người mẹ nàng không
biết mặt, nàng chẳng còn nhớ được một kỷ niệm
nào của những ngày thơ ấu, tất cả ký ức thuở ấu
thơ như một đám mây mù.”.
(Cô Uyển Thanh cũng
là nhân vật chính cùng với Nguyên Huân ở trong truyện.).
Trong “Nam Thiên Nhất
Tuyệt Kiếm”, nhân vật chính là Trần Nguyên Huân. Tôi
nghĩ (nhân vật Trần Nguyên Huân có thể là hậu duệ của
dòng họ Trần.) - đã ba lần đánh tan quân Nguyên. Nhân
vật Nguyên Huân, đưa tôi đi diện kiến các vị anh hùng
tài trí Đại Việt: (Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn, Trần
Nguyên Đán, Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo,
Trần Ngỗi...) và nhiều vị khai quốc công thần khác
nữa. Tôi còn được ngồi ngắm cảnh sương mù lạnh
lẽo trên Ải Chi Lăng hùng vĩ. Được ngồi lắng nghe
tiếng vó ngựa của đoàn quân giặc phương Bắc và tiếng
trống thúc quân tiến công của nghĩa quân Đại Việt...
Được ngồi lắng nghe tiếng hò reo chiến thắng của
nghĩa quân Đại Việt. Được ngồi lắng nghe vong hồn vị
tướng Liễu Thăng than thở vì bỏ mạng trên xứ người…!
Từ trong tâm khảm,
Tôi lại còn nghe văng vẳng lời thì thầm bên tai của
các vị tiền nhân Đại Việt, rằng:
- “Này, chú em hậu
bối. Chú mầy đọc “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” thì
phải nhớ kỹ câu “Bắc Môn Tỏa Thược”. Nghe rõ
chưa?”.
Tôi mừng rơn vì hồn
thiêng sông núi Đại Việt vẫn còn linh hiển chứ chưa
hẳn là tan biến mất. Đại Việt là quốc gia nhỏ bé
sống cạnh một ông hàng xóm to lớn. Năm ngàn năm qua,
ông ta ỷ bự con lấy thịt đè người coi khinh Đại
Việt. (Hàng xóm bất lương không thể nhận là “anh em”
được.).
Trích đoạn:
“Giữa lúc đó
Trần Trí và Phương Chính “tướng Tàu” đem đại quân
từ Nghệ An tiến lên Trà Long, dùng cả thủy quân ngược
sông Lam mà tiến. Địch đến bờ nam của Khả Lưu, chuẩn
bị tiến đánh lên bờ bắc. Đây là trận đánh then
chốt, lần đầu tiên một trận chiến, có thời gian cho
hai bên chuẩn bị, có sự tham chiến cả hai quân thủy
bộ. Quân địch rất đông, mà nghĩa quân quân số
chỉ chừng ba mươi ngàn, nên cuộc đọ sức phải bằng
mưu trí và tinh thần quyết tử của nghĩa quân Lam Sơn
hơn là thực lực.”.
Lang thang trong truyện,
tôi có gặp các môn phái: “Không Động, Võ Đang, Thiếu
Lâm, Côn Lôn, Nga Mi, Hoa Sơn, Cái Bang…”. Có thể nói -
tôi vui nhất là gặp anh chàng Trương Vô Kỵ! Gặp anh ta
tôi nhớ lại cha mẹ của anh là Trương Thúy Sơn, Hân Tố
Tố cùng người sư phụ Kim mao sư vương của họ, Tạ
Tốn. Văn sĩ Kim Dung cho họ trôi ra Băng hỏa đảo và
Trương Vô Kỵ được sinh ra ở đó. Tôi không biết Băng
hỏa đảo ở biển nào? Đọc truyện kiếm hiệp của tác
giả Kim Dung, ông không nói biển nào? Tôi nghĩ văn sĩ Kim
Dung có biết và biết rất rõ, bởi trong tiểu thuyết của
ông có nhân vật Trần Hữu Lượng – vốn dòng dõi nhà
Trần, Đại Việt lưu vong. Chu Nguyên Chương không cướp
công, - thì Trần Hữu Lượng đã lên ngôi làm vua. (Sách
tái bản, văn sĩ Kim Dung loại bỏ nhân vật Trần Hữu
Lượng ra khỏi sách?).
Tôi cũng có thể
tưởng tượng; tôi cũng có thể hư cấu như văn sĩ Kim
Dung... Tôi tưởng tượng, tôi hư cấu: - Băng hỏa đảo
có thể là Hoàng sa. Hoàng sa nghĩa là (cát vàng, cát vàng
hợp với “hỏa”, màu lửa đỏ). “Lấy lửa thử
vàng, lấy vàng thử đàn đàn, lấy đàn bà thử đàn
ông.”. Biển Đông rộng lớn mênh mông, ai kiểm soát
biển đông thì tự do tung hoành.
Trong tiểu thuyết văn
chương thi phú không ai bỏ công lao ngồi viết ra toàn
những thứ chữ vô nghĩa, nội dung trống rỗng, khô khan
cho mất công... Ai cũng hiểu điều đó. Và, từ đó suy
ra...
Đọc: Nam Thiên Nhất
Tuyệt Kiếm, tôi gặp mặt chưởng môn nhân các
phái. Ngày nay họ hiền khô, mặt mày hết bặm trợn, -
một thời họ đã từng kéo đệ tử đi gây chiến, đi
trả thù với các bang phái khác, với các quốc gia khác -
gây ra xáo trộn giang hồ đồng đạo; xáo trộn đời
sống xã hội khắp nơi... Bây giờ, họ biết trách nhiệm;
biết đoàn kết thương yêu cùng nhau phục vụ cho quê
hương của chính họ, hơn là cứ gà nhà bôi mặt đá
nhau. Đi gây chiến xâm lấn với các quốc gia láng giềng.
Tôi nghĩ, Trần Nguyên Huân đã giải thích đạo nghĩa làm
người cho họ, nêu lên chính nghĩa Đại Việt cho họ
hiểu, nên họ mới thức tỉnh mà “hồi đầu thị
ngạn”...!?
Trích đoạn:
“- Điều nầy vãn
bối đã hiểu, tình người không phân biệt chủng tộc,
màu da, tiếng nói, phong tục. Cái đạo làm người là yêu
mến mọi người, chữ Nhân kia lớn biết bao! Xin lão
trang chủ chớ bận tâm áy náy. Đau thương, máu lửa,
càng giảm đi được chừng nào, thì vận nước càng hưng
thịnh, cái Nhân càng sáng tỏ…”.
Tôi viết tới đây
thì… (sức tàn, lực kiệt) - thôi đành chống gậy đi
vô chốn vườn thơ: “Dựng Cõi” để nâng ly, ngâm vịnh
vài ba bài thơ của tác giả Trần Thúc Vũ nhằm lấy lại
sức... Tôi đọc một thôi hết cả tập thơ, chẳng những
không lấy lại sức lực mà còn ngẩn ngơ ra với những
câu thơ:
“Trên chót vót
đỉnh buồn ta đã tới. Cho một đời thoắt chốc những
hư không. Dòng nước mắt này đây xin giữ lại. Tặng
riêng em ngày tháng nặng khôn cùng.”! Trích
thơ: (Trần
Thúc Vũ).
Và: “Về Đâu”.
“Muôn sau con cháu
thay màu mắt. Đo hộp đầu lâu có ngẩn ngơ. Ngàn năm
“gène” cũ còn hay mất? Có xót thương gì lũ thất cơ.
Trích:
“Về Đâu”. Trần Thúc Vũ.
“Thần kiếm sắc bình chân Nam Quan Ải,
Dòng kinh trong nâng chén ngắm Cà Mau.”.
Trích thơ: (Trang Y Hạ).
16/5/26
TỪ TRONG "KHAI THỊ".
TỪ TRONG “KHAI THỊ”.
Trang Y Hạ
- “Một khi Thiên
Chúa không muốn xây nhà thì tất cả thợ nề đều làm
việc uổng công.”. (Cựu Ươc Kinh).
Chúa nói đúng! (Xây nhà ở dưới thế gian ắt sẽ bị mối mọt làm cho sụp đổ.) - “Xả bất liễu tử, hoán bất liễu sanh; Xả bất liễu giả, thành bất liễu chân.”. Tạm hiểu: (Bỏ không được cái chết, thì không đổi được sự sống; Bỏ không được cái giả, thì chẳng có được cái thật!).
Một lần tôi tới
thăm viếng: “Viện Đại Học Pháp Giới – Vạn Phật
Thánh Thành”, ở Burlingame, California. (Nơi đây cũng
là nơi dịch thuật và xuất bản sách.). Diện tích viện
đại học rộng hàng mấy mẫu tây. Tôi đi lần vào Thư
Viện; Thư Viện Pháp Giới quy mô với các loại sách xếp
ngăn nắp. Vị quản thủ thư viện biếu cho tôi sách
“Khai Thị” của Hòa Thượng Tuyên Hóa – người sáng
lập Viện Đại Học – (Ngài đã viên tịch từ lâu.).
Nói thật, tôi không
hiểu chút gì về giáo lý Phật; kinh Phật. Biết là không
hiểu nên tôi cố gắng tìm hiểu. Tôi thích đọc các
bài: (có thể là Thơ; có thể là Kệ.) vì trước đây -
một Sư ca già có tặng cho tôi một cuốn Kinh Lăng Nghiêm
(bản cũ).
Tuy vậy, dù thơ hay
kệ thì tôi vẫn đọc... - đồng thời nghiền ngẫm suy
ra may ra tìm được một sự tương giao giữa tâm hồn và
huyền nhiệm – Chúa, Phật đều hướng tới “Chận
– Thiện – Mỹ” - hơn nữa là – vốn ham mê viết
lách – tôi xin trích dịch qua văn vần Tiếng Việt một
số bài thơ bên dưới. Đầu đề “Vô Đề” là tôi tự
đặt.
1.
Vô
Đề.
Phú quý ngũ canh xuân mộng
Công danh nhất phiến phù
vân
Nhãn tiền cốt nhục dĩ
phi chân
Ân ái phản thành cừu
hận
Mạc bả kim già sáo cảnh
Hưu tương ngọc tỏa
triền thân
Thanh tâm quả dục thoát
hồng trần
Khoái lạc phong quang bổn
phận. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ.
Giàu sang kéo năm canh dài
xuân mộng
Mảnh công danh lơ lửng
bóng mây trôi
Bày trước mắt cốt nhục
nào đâu thật
Đang yêu đương hóa giận
ngẫm sự đời
Vàng tròng cổ đeo đầy
chỉ làm kiểng
Ngọc quý nhiều thêm nặng
trĩu châu thân
Dẹp tham vọng cho tâm
lòng thanh thoát
Đón gió êm giữ phận
chẳng nợ nần.
Dịch: (Trang Y Hạ)
2.
Vô
Đề.
Nhân sanh nhất trường
mộng
Nhân tử mộng nhất
trường
Mộng lý thân vinh quý
Mộng tỉnh tại cùng
hương
Triêu triêu tại tác mộng
Bất giác mộng hoàng
lương
Mộng trung nhược bất
tỉnh
Uổng tác mộng nhất
trường. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ.
Nhân sinh cõi chẳng qua là
giấc mộng
Người mất đi nào khác
giấc mộng dài
Thân trong mộng tưởng
rằng đang giàu có
Tỉnh mộng rồi mới thấy
trắng hai tay.
Mỗi sớm sớm cảnh mộng
mơ trờ tới
Giật mình ra mới rõ mộng
kê vàng
Giữa mơ mộng đầu chập
chờn chẳng tỉnh
giấc mộng dài tác động
quả tiêu tan.
Dịch: (Trang Y Hạ).
3.
Vô
Đề.
Nhân thân nan đắc kim dĩ
đắc,
Phật pháp nan văn kim dĩ
văn.
Thử thân bất hướng kim
sinh độ,
Cách hướng hà sinh độ
thử thân. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ
Thân người khó, kiếm được
nay đã được,
Thuyết giáo nghe, khó nghe nay
đã nghe
Chẳng lẽ ngó xác thân không tế
độ
Chờ đợi chi mới có sự chở che.
Dịch: (Trang Y Hạ).
4.
Vô
Đề.
Nhân thân hảo tỷ nhất
gian phòng,
Khẩu vi môn hộ nhãn vi
song.
Tứ chi hảo tỷ phòng tứ
trụ,
Đầu phát hữu tượng
sơn phòng thảo.
Sấn trước hảo thời
cần tu bổ,
Mạc đãi hoại thời
trước liễu mang. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ
Thân người đó ví như
căn phòng đẹp,
Mắt miệng là cửa sổ
với cửa ra.
Tay chân khỏe kể là bốn
cây cột,
Tóc trên đầu làm rơm cỏ
lợp nhà.
Hãy sốt sắng sửa sang
khi còn tốt,
Đừng đợi khi mọt đục
mới lo xa.
Dich: (Trang Y Hạ).
5.
Vô
Đề
Đãn đắc bổn, mạc sầu
mạc,
Như tịnh lưu ly hàm bảo
nguyệt.
Ký năng giải thử như ý
châu,
Tự lợi lợi tha chung bất
kiệt. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ.
Lo bón gốc, chứ đừng
lo tỉa ngọn,
Tấm gương trong giữ sáng
ánh trăng thanh.
Ngọc như ý suy ra đà
hiểu được.
Lợi cho thân cho kẻ khác
trọn lành.
Dịch: (Trang Y Hạ).
6.
Vô
Đề.
Sừ hòa nhật đương ngọ,
Hãn trích hòa hạ thổ.
Thùy tri bàn trung xan.
Lạp lạp giai tân khổ!
(Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ.
Trời đứng bóng ruộng
bừa không ngơi nghỉ,
Giọt mồ hôi trộn đất
đá mặn chua.
Bưng một bát cơm đầy
ai có hiểu,
Hạt lúa vàng gian khổ
mới được mùa!
Dịch: (Trang Y Hạ).
7.
Vô
Đề
Mộng đổng truyền mộng
đổng
Nhất truyền lưỡng bất
đổng
Sư phụ hạ địa ngục
Đồ đệ vãng lý cỗng.
(Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ
Thầy mù mịt dạy học
trò mộng ảo
Cả hai người kết quả
có ra chi
Thầy khăn gói xuôi về
nơi địa ngục
Trò theo sau số phận
chẳng ra gì.
Dịch: (Trang Y Hạ).
8.
Vô
Đề
Dữ thiên địa hợp kỳ
đức
Dữ nhật nguyệt hợp kỳ
minh
Dữ tứ thời hợp kỳ tự
Dữ quỷ thần hợp kỳ
kiết hung. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ.
Cùng thiên địa ắt hợp
thành với đức
Cùng ngày trăng ắt hợp
ánh sáng hơn
Cùng bốn mùa ắt xoay
vòng tuần tự
Cùng ma tiên kiết hung ắt
chờn vờn.
Dịch: (Trang Y Hạ).
9.
Vô
Đề.
Thiên bách niên lai oán lý
canh,
Oán thâm tự hải hận
nan bình.
Dục tri thế thượng đao
binh kiếp,
Thí thính đồ môn dạ
bán thanh. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ.
Ngàn năm ngập bát canh
đầy thù hận,
Ân oán sâu chìm đáy biển
khó tan.
Lòng thử hỏi tại sao
gây chiến loạn,
Nửa đêm nghe lò mổ thịt
mơ màng.
Dịch: (Trang Y Hạ).
10.
Vô
Đề.
Đại đạo phế, hữu
nhân nghĩa,
Trí huệ xuất, hữu đại
ngụy.
Lục thân bất hòa, hữu
hiếu từ.
Quốc gia phân loạn, hữu
trung thần. (Khai Thị).
KHÔNG
ĐỀ.
Đạo lớn mất ắt người
ngay sẽ hiện,
Có người khôn ắt có kẻ
gian manh.
Gia đình rối ắt con hiền
có mặt,
Quốc gia phân ắt có bậc
trung thành.
Dịch: (Trang Y Hạ).
11
Vô
Đề
Dĩ sanh vô hữu sanh
Vị sanh diệt vô sanh
Ly dĩ sanh vị sanh
Sanh thời tức vô sanh.
KHÔNG
ĐỀ.
Sanh đã có, đâu phải cần
sanh nữa,
Nếu chưa sanh, kể ra cũng
không sanh
Sự sanh cách, cớ chi mong
sanh lại
Khi đang sanh, chưa chắc đã
sanh thành.
Dịch: (Trang Y Hạ).
Chữ “đạo”! Hán
Tự là đường, là con (đường ngay nẻo chánh) dẫn tới
thiện tâm. Muốn đi tới thiện tâm chỉ có con đường
thôi thì chẳng bao giờ đi tới đích mà cần phải biết
hướng đi. Vậy, hướng đi đó chính là niềm tin là tín
lý và giữ lời dạy của người đi trước (mở đường,
dẫn đường). Tuy vậy, cũng có khi tự tu thân, tức tu
tại nhà. Ông bà xưa, nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa.”. Hoặc nếu
muốn phụng sự “pháp giới” tu tại nhà thì giới Phật
gọi là: “Ưu bà tắc”. (cận sự nam). “Ưu bà di”.
(cận sự nữ.).
Tóm lại, phải hiếu
rằng: “Thiện thí nhất lạp mễ, trọng như Tu Di
Sơn. Ngật liễu bất tu đạo, phi mai đái giác hoàn,”.
Tạm hiểu: (Nhận một hạt gạo, ơn nặng như núi Tu Di,
Ăn rồi không tu thân, thì đội lông mang sừng mà trả.).
VƯỢT BIÊN: "ĐI BÁN CHÍNH THỨC".
VƯỢT BIÊN: “ ĐI BÁN
CHÍNH THỨC.”.
“Người
nách thước, kẻ tay đao,
Đầu
trâu mặt ngựa ào ào như sôi.”. (Truyện Kiều)
Tôi
đã mua và đọc sách của các tác giả, như: “Đêm Giữa
Ban Ngày” của (Vũ Thư Hiên), “Đèn Cù” của (Trần
Đĩnh). “Chuyện Kể Năm 2000” của (Bùi Ngọc Tấn).
“Hoa Xuyên Tuyết” của (Bùi Tín). “Những Thiên Đường
Mù” của (Dương Thu Hương). “Nhật Ký Rồng Rắn” của
(Trần Độ). “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” của (Tô
Hải).”Đường Đi Không Đến” của (Xuân Vũ). “Bên
Thắng Cuộc” của (Huy Đức)...
Nhìn
chung, thì tất cả nội dung giống như một “Goulug” quá
thâm cung bí sử, như đi lạc vào thời kỳ tiền sử, cái
thời còn ăn lông ở lỗ... Tuy vậy, các tác giả cũng đã
trình bày rất rõ ràng khúc chiết một giai đoạn lịch
sử (không tình người) đối với đồng bào trong “Cải
Cách Ruộng Đất” ở miền Bắc giết hàng trăm ngàn địa
chủ, giết luôn cả đồng đội. Và hơn nữa là tranh
giành ảnh hưởng giữa hai phe: - “Phe thân Nga, phe thân
Tàu mà chà đạp lẫn nhau không thương tiếc trong suốt
cả nhiều năm.”. (Trần Đĩnh).
Dẫu
gì thì các tác phẩm đó vẫn tồn tại với lịch sử
với thời gian mặc kệ sự sụp đổ như: Liên Xô, Đông
Âu cũng chẳng hề hấn gì – cứ xem là “nghĩa khí
tương giao” mà nơi giấu hạt cát tốt nhất là ở sa
mạc. Xin cảm ơn các vị tác giả.
Tôi
chỉ trích một số ý để diễn nghĩa thêm một số đoạn
từ “bên thắng cuộc”, chứ không bàn hay bình luận -
cũng không bình luận các tác phẩm bởi vì khi mỗi người
đọc sách thì sự thẩm thấu nhận định nhận thức tùy
thuộc vào trình độ riêng biệt chứ không ai giống ai.
Đôi khi cũng có vài điều rất tế nhị là “Đạo bất
đồng bất tương vi mưu.”.
Thời
cuộc biến chuyển. Ngày 30.4.1975, Bắc Việt chiếm Sài
Gòn bởi do Dương Văn Minh đầu hàng – (lúc nầy không
còn quân đội Mỹ.). Tại sao người dân miền Nam phải
vượt biên nhào ra biển để rồi bị hải tặc Thái Lan
sát hại cũng như sóng dữ nhận chìm chiếc thuyền gỗ
mỏng manh. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc thì khoảng
600 ngàn người vượt biên bỏ xác ngoài Biển Đông. Tại
sao “thống nhất” đất nước mà nhà cầm quyền tổ
chức cho đi vượt biên gọi là “bán chính thức”? Phải
chăng đây là một cái bẫy?
“Trải
qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy
mà đau đớn lòng.”. (Kiều).
Nhà
triết học nổi tiếng nước Pháp và thế giới là văn
hào Jean Paul Sartre, nói: “Kẻ nào chống cộng sản là
con chó.”. Thế nhưng khi thấy tình cảnh người dân
miền Nam Việt Nam vượt biên chạy trốn cộng sản, ông
mới ngẩn người ra! Từ đó, ông gom góp tiền của ông,
mượn của bạn hữu mua một chiếc thuyền chạy ra biển
cứu người tỵ nạn.
Cuộc
vượt biên cho người Hoa do nhà cầm quyền Cộng sản
Việt Nam tổ chức hợp pháp dưới cái tên - “Đi Bán
Chính Thức.”. Đi Bán Chính Thức hay còn gọi là “Phương
Án 2” . Từ sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu
thuẫn giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng
ngày càng gay gắt và quyết liệt do CsVN nghiêng hẳn qua
phía Liên Xô để nhận viện trợ... Trung Cộng lên án
Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và Trung cộng muốn đem Hoa Kiều
về nước. Trong khi đó, CsVN xem người Hoa là một đạo
quân (tình báo) thứ năm và họ muốn “té nước theo
mưa” để trả lại người Hoa Chợ Lớn về với mẫu
quốc.
Hơn
nữa là chính sách “Đánh Tư Sản Mại Bản” và “Cải
Tạo Công Thương Nghiệp”, cùng với Ba Lần Đổi Tiền:
- (Lần thứ nhất: ngày 22-9-1975 - Lần thứ nhì: ngày
02-5-1978 - Lần ba: ngày 14-9-1985). Đã quy ra: 500 $ VNCH = Một
[1] đồng Miền Bắc. Tức là, chỉ cần một [1] đồng
rưỡi tiền Miền Bắc lúc đó đã đổi được một [1]
$ Mỹ kim.(Chuyện nầy, chỉ duy nhất trên thế giới làm
được là đồng [$] đồng Bảng Anh.).
Đó
là nguyên do chính đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ
trắng tay và không tìm ra lối thoát, - Và, họ quyết định
vượt biên qua các quốc gia tư bản tỵ nạn thay vì phải
về với Trung Cộng mà đối với họ về với Trung Cộng
thì chẳng khác gì xuống chốn địa ngục. Người Hoa ra
đi vượt biên ngày càng nhiều, chết trên biển cả cũng
rất nhiều. Cs Việt Nam bị thế giới chỉ trích... Để
đối phó, Việt Nam cho phép (người Hoa) ra đi bán chính
thức, ban đầu có thể xem ra là một (thiện chí.) xoa dịu
ngoại giao đối với Trung Cộng.
Kế
hoạch ra đi bán chính thức giữ kín, chỉ phổ biến nội
bộ khoanh vùng tại thành phố HCM. Tuy vậy, một thời
gian sau thì kế hoạch này lộ thông tin rộng ra ở các
tỉnh thành phía Nam. Theo đó, công an các tỉnh đưa giá
thu lệ phí vượt biên, từ: 8-10 lạng vàng cho một đầu
người, họ dùng một phần số vàng để mua tàu, đóng
tàu, lập bến bãi - đẩy người Hoa vượt biên ra khơi
với cam kết không bắt tàu ra đi của họ còn ở trong
lãnh hải Việt Nam.
THỰC
CHẤT CỦA “ĐI BÁN CHÍNH THỨC.”.
Một
khi những thuyền nhân đã đi đến được các nước tư
bản tự do an toàn thì chuyện “bí mật” cho người Hoa
ra đi bán chính thức không còn giấu được với truyền
thông thế giới. Do đó, Nhà cầm quyền bắt buộc cho
dừng kế hoạch lại vào tháng 12/1978. Tuy vậy, phải đợi
tới tháng 5/1979 mới được có hiệu lực vì phải lo
tiêu thụ cho hết số tàu đã đóng còn tồn đọng cả
hàng trăm chiếc.
“Mặt
trông đau đớn rụng rời,
Oan
này còn một kêu trời, nhưng xa.
Một
ngày lạ thói sai nha,
Làm
cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”.
(Kiều)
Kế
hoạch cho người Hoa ra đi bán chính thức ban đầu chỉ
áp dụng cho người Hoa Chợ Lớn nhưng những người Việt
có giấy tờ của người Hoa cũng ra đi vượt biên rất
nhiều. Ở các tỉnh không có bờ biển cũng xin cho người
dân ra đi bán chính thức như một dạng kinh doanh. Nhà cầm
quyền nhận thấy kế hoạch khó kiểm soát, ngày
20/03/1981 ông Trường Chinh đã cho lập “Ban Kiểm Tra 69”
kiểm tra việc thu vàng. Kết quả điều tra khác xa với
báo cáo của Bộ Nội Vụ.
“Theo
dữ liệu của “Bên Thắng Cuộc” thì từ tháng 8/78 đến
tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi chở theo 134.322 ngàn người,
thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ (Mỹ
Kim), và nhà cửa ruộng đất được đóng thay cho vàng để
được vượt biên. Có 105 sĩ quan công an bị kỷ luật.
Tất cả các tỉnh đều vướng phải tội gian lận và
lập quỹ riêng cho tỉnh. Nghiêm trọng là phải kể đến
Tỉnh Minh Hải, giấu: 48.195 lượng vàng, Tỉnh Cửu Long
giấu: 27.000 lượng, Tỉnh Nghĩa Bình giấu: 27.000 lượng,
Tỉnh Phú Khánh giấu: 10.987 lượng…”.
“Đồ
tế nhuyễn, của riêng tây,
Sạch
sành sanh vét cho đầy túi tham.”. (Kiều)
Các
tỉnh thu vàng mỹ kim nhưng lại thất tín, số người bị
lừa tiền vàng lên đến 18.435 người. Kế hoạch ra đi
bán chính thức thực sự dẹp bỏ khi công an các tỉnh
giao cho các thuyền nhân số tàu thuyền không an toàn, đã
không an toàn lại dồn số lượng người vượt biên quá
tải trọng của tàu. Bởi lý do đó mà tàu bị chìm ngay
khi mới rời khỏi bến. Trường hợp đắm tàu ở Cảng
Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu
buôn người có giấy phép kinh doanh.
Điều
hiển nhiên dù không ai nói ra, nhưng mọi người cũng có
thể hiểu rằng một khi ra đi vượt biên tìm tự do thì
hẳn nhiên đã có tiên liệu dự trữ Mỹ Kim, vàng giấu
trong người, trong tàu thuyền để phòng thân.
TANG
THƯƠNG Ở CẢNG CÁT LÁI.
Vào
một ngày thứ bảy, trời quang mây tạnh giữa năm 1979,
từ Cảng Cát Lái người ta huy động rất nhiều công an
canh gác vòng trong, vòng ngoài. Ở bên trong một con tàu
vượt biên có chiều dài khoảng ba mươi mét, rộng chừng
mười mét, gồm có ba tầng. Tàu này vốn là một chiếc
tàu kéo trong khoang nhằm chứa đá - được thay thế cho
khoang chứa nước uống khi ra khơi. Thật ra là tàu cũ
thiết kế lại để chứa được nhiều người. Động cơ
cũng được thay mới mạnh hơn để tăng sức đẩy. Người
đóng tàu chỉ quan tâm làm sao chở được nhiều người
chứ không tính toán về tải trọng của tàu khi ra khơi
đối diện với sóng to gió lớn.
Đúng
giờ hẹn, số người đi đã nằm chờ suốt đêm tại
Cảng Cát Lái và bắt đầu nôn nao hồi hộp... Bỗng
người trưởng tàu đi ra cầm loa phóng thanh điểm danh
theo danh sách. Hai trăm tám mươi [280] con người mừng rỡ
lũ lượt chen chân xuống tàu, thân tàu chao đảo. Những
thuyền nhân ngồi ở khoang dưới khoang đáy không chịu
nổi sức nóng, ngạt thở phải leo trở lên trên mui làm
cho con tàu thêm nghiêng ngả... Thuyền trưởng, do không
kinh nghiệm sông nước đã bắt đầu hoảng loạn vội
tìm đường thoát thân. Không còn thuyền trưởng chỉ
huy, con tàu tự do từ từ chúi mũi xuống sông. Tiếng kêu
la, tiếng kêu cứu từ trên bờ tạo nên một âm thanh thê
lương ảm đạm cả một vùng sông nước. Tiếng khóc uất
nghẹn của cư dân sống trên bờ sông Cát Lái, họ than
trời: - Trời ơi...! Mất hết cả rồi...! Chết hết cả
rồi...!
“Long
lanh đáy nước in trời,
Thành
xây khói biếc non phơi bóng vàng.”. (Kiều).
Nhà
cầm quyền có điều động cần cẩu từ Vũng Tàu vào
trục vớt con tàu. Người ta đếm có tất cả 227 người
chết và hơn 40 người còn sống trở về từ cõi chết
nhưng tất cả họ đều như những người loạn trí vì
đã chứng kiến thảm cảnh gia đình tan nát còn bản thân
từ nay là kẻ bơ vơ không nhà... Suy ra, chỉ có trâu bò
kiến mối mới đi thành đàn, còn mãnh thú thì đi một
mình!
-
Ai đã đem cho thêm một cái Tết Mậu Thân nữa đến với
người dân Sài Gòn hiền hòa?!
Các
người khâm liệm kể rằng trong số xác chết được
vớt, người ta thấy có BỐN [4] Người Mẹ Trẻ ôm chặt
đứa con của mình trong lòng như những cố gắng cuối
cùng với một tia hy vọng rất mong manh là giữ cho kỳ
được đứa con thơ dại để hai mẹ con còn có thể cùng
nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Người ta chứng kiến
kính trọng tình mẫu tử thiêng liêng, nên các người
khâm liệm đã để cho hai mẹ con của họ yên nghỉ cùng
nhau trong một cỗ quan tài thê lương lạnh lẽo. Tất cả
những người xấu số đã được an táng tại một khu
đất ở gần cầu Giồng Ông Tố.
“Đoạn
trường là số thế nào,
Bài
ra thế ấy, vịnh vào thế kia.” (Kiều).
“Nỗi
đau không chỉ có một cảng Cát Lái bị tai họa. Theo báo
cáo của Ban 69, chỉ trong vòng chưa đầy một năm đã có
9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa
ra khỏi phao số 0. Thử kiểm tra lại vài trường hợp
đau lòng khác như sau: Ở Bến Tre có một tàu chìm với
54 người chết đuối, ở Long An có một tàu chìm với
người 38 chết đuối, ở Nghĩa Bình một tàu chìm với
78 người chết đuối. Và kinh khủng nhất là ở Tiền
Giang có ba [3] tàu chìm đem theo 504 người chết đuối.”.
Câu
hỏi mà nhiều người người đặt ra là tàu ra khơi bị
trục trặc kỹ thuật máy móc mà bị chìm hay có bàn tay
“bí ẩn” đánh chìm để lấy tài sản?! Cái giá của
việc đi tìm tự do quá thảm khốc. Tuy vậy, dù thảm
khốc tới đâu thì người dân miền Nam vẫn tìm mọi
cách để ra đi. Và hơn nửa thế kỷ sau lớp trẻ vẫn
mong muốn được ra đi, - dù là ra đi để làm thuê, làm
mướn hay ở đợ cũng cam chịu ra đi.
Những
sự kiện vượt biên bán chính thức hay chạy trốn khỏi
quê cha đất tổ diễn ra lắm cảnh tang thương của hơn
năm mươi năm về trước đã dự báo một bức tranh ảm
đạm cho Việt Nam ngày hôm nay. Một nén nhang, nghiêng mình
cúi đầu cầu cho các linh hồn uẩn tử về nơi an nghỉ.
LỜI GIÓ MƯA:
Từ phương án cho người Hoa vượt biên “bán chính thức” nảy sinh ra một vụ án lừng danh thiên cổ đó là vụ án Nguyễn Hữu Giộc, tức Mười Vân giám đốc công an tỉnh Đồng Nai. Mười Vân gom góp hơn nửa tấn vàng và đã tra tấn 82 người tới thân tàn ma dại. Mười Vân chỉ là bề nổi, không biết có còn bao nhiêu Mười Vân khác nữa? Thử đặt vấn đề tại sao các chuyến đi vượt biên trước đều ra khơi bình an, số còn lại chưa ra khỏi hải phận là đã bị chìm? Câu trả lời có lẽ là của những người còn sống sót.
Có một điều thú vị là khi kêu án tử hình (Mười Vân và Vũ Cao Thanh) thì tôi chợt nhớ ra là ngày tôi vào trại tù “cải tạo” K-4 năm 1975. Nhóm anh em chúng tôi đã thấy Vũ Cao Thanh, ông ta mặc áo bà ba, mang dép râu ra đón chúng tôi. Ông múa tay múa chân quát tháo nên anh em chúng tôi cứ nghĩ ông là “cán bộ” của trại tù. Một thời gian ngắn chúng tôi không thấy ông ta ở trong trại nữa. (Ông Vũ Cao Thanh là công chức hành chánh VNCH tại Bà Rịa.).
Tòa tuyên án tử hình Nguyễn Hữu Giộc và Vũ Cao Thanh sau ba ngày xét xử. Mọi người vui mừng…! Nhưng không một phiên tào nào xử bồi thường thiệt hại cho hàng ngàn người bị chết oan dưới lòng sông, cho người còn sống trong các vụ đánh chìm thuyền để lấy vàng ở thành Tuy Hạ và các nơi khác.
Buồn
và đau đớn thay!
1/5/26
MỘT BUỔI SÁN THÁNG SÁU.
MỘT BUỔI SÁNG THÁNG SÁU.
“Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng nầy nghỉ mát nơi nao”
(Chinh Phụ Ngâm Khúc).
Một buổi sáng bước lên xe đi tù “lao cải”
bậu đứng co ro bên mương nước đục ngầu
cơn mưa đầu tháng năm, thay cho dòng nước mắt
trở về nhà bậu hóa đá đợi bao lâu.
Đôi mắt mỏi dán qua khung cửa kiếng
vẫy tay chào hết sinh khí thần hồn
xe lăn bánh ngỡ như lăn vào nơi địa ngục
xác thân còn, tưởng co ro trong nấm mồ chôn.
Đoạn đường cũ thân quen, mỗi mùa qua ấm áp
nhìn về đâu cũng ngập ngụa khói nhang bay
hàng cây đứng ven đường, cũng cúi đầu im lặng
người lại qua ôm chiếc bóng dõi theo ngày.
Bác tài xế tuổi đời ước chừng đà hoa giáp
đoán biết rằng đã từng lái xe nhà binh
mặt khắc khổ giống một vị sư già khổ hạnh
chẳng hở một câu, bậm môi nói với mình.
Nhìn lại thân thùng thình trong bộ đồ dân sự
tuổi học sinh hiện về đau nhói cả tâm can
con ve sầu lánh mặt nằm im trong lòng đất
phượng vĩ đau bởi bầy mọt đục lụi tàn.
Màu mưa miết vẽ khung trời thêm ảm đạm
núi Chứa-Chan mây tang viền đỉnh đầu
rừng cũng khóc, khóc thay ngôi đổi chủ
đất linh-thiêng văng-vẳng nhịp vó câu.
Xe mệt mỏi chạy lòng vòng đi tìm bến đậu
ngồi trong xe lòng lo lắng phận hàng binh
thuốc độc mạnh đó chính là thù hận
chỉ còn mong thần thánh đoái thương tình.
Không kêu án, người tù biết bao giờ đoàn tụ
bậu cô đơn từng đêm gió hú úa dung nhan
đêm lạnh cẳng thân tù tỉ tê cùng đàn rệp
ngọn huân phong hy vọng giấc mơ màng.
Một buổi sáng dồn lên xe đi vào tù “lao cải”
siết đôi tay thay ngàn lời tiễn đưa nhau
bậu trở lại vô ra trong ngôi nhà lầm lũi
khắp núi đồng mong mỏi lá xanh màu.
Trang Y Hạ
(Trần Phước Hân).
Xuân Tâm, 1975.
26/4/26
THÁNG BA NHỚ NGÀY GIỖ CHA
THÁNG BA NHỚ NGÀY
GIỖ CHA.
Cha
về nằm đất đã lâu,
Dư
âm đọng giọt ơn sâu nghĩa dày.
Câu
thơ Đỗ Mục tạm vay,
Thanh
minh một chén rượu cay ấm tình.
(Trang
Y Hạ).
THANH
MINH
Đỗ
Mục - 杜
牧 (803
- 853) Vãn Đường.
Nguyên
Tác:
清明時節雨紛紛,
路上行人欲斷魂.
借問酒家何處有?
牧童遙指杏花村.
Phiên
Âm:
Thanh minh thời tiết vũ
phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá
vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh
Hoa thôn.
Dịch Nghĩa:
Thanh minh thời tiết
mưa rơi lất phất,
Người đi đường trong lòng buồn
bã thê lương.
Tìm hỏi thử có chỗ nào bán rượu?
Mấy
đứa giữ trâu trỏ về hướng thôn Hạnh Hoa.
Dịch thơ:
Thanh
minh rưới giọt mưa phùn,
Người
đi buốt giá đường hun hút sầu.
Hỏi
thăm tiệm rượu nơi đâu?
Trẻ
chăn trâu nói trên lầu Hạnh Hoa.
Trang Y Hạ (Dịch Thơ.).
Lời Gió Mưa:
“Hãy
coi chừng những tiên tri giả, chúng đến với các ngươi
trong lốt chiên, nhưng bên trong là bầy sói hung dữ. Các
ngươi nhận biết chúng qua những việc làm của chúng.”
(Matthew 7: 15 – 16.).
"Những kẻ
bách hại Hội Thánh tồi tệ nhất là những giám mục,
linh mục và tu sĩ thiếu lòng tin. Sự đối nghịch từ
phía bên ngoài thì khủng khiếp, nó cho chúng ta nhiều
thánh tử đạo. Nhưng kẻ thù kinh khủng nhất của Hội
Thánh là những kẻ phản bội trong lòng Hội Thánh!".
(Đức Giáo Hoàng Pio XI).
Trần Phước Hân (Sưu
Tầm).
21/4/26
SƯƠNG MẶN
SƯƠNG MẶN
“Khi
Vô Tích, khi Lâm Tri,
Nơi thì lừa đảo, nơi thì
xót thương.”. (Kiều).
Giọt sương mặn lơ-ngơ
vin cành mới
mắt tỏ mờ sự thế
ngẫm thời qua
nắng thủa trước sót
sưởi vài ngọn cỏ
mảng rêu vàng úa bám
chặt cây già.
Cựu-binh dạo âm thầm
vùng thất thập
ngửa bàn tay cứa chằng
chịt chỉ tay
chiếc lá ghẹo sợi đầu
pha hột bụi
công viên rừng ôn ấm
vết nhăn mày.
Con sóc sọc mắt láo
liêng nịnh bợ
bánh nửa phần chia sớt
nỗi gian-nan
bầy kiến đói đánh hơi
về hội-tụ
hóa ra là loài vật cũng
cơ-hàn.
Cô cháu lớn Âu-Cơ trông
quen mắt
có phải là Babylift hay
không
quê ngoại gánh tuổi thơ
ngây lận-đận
quê nội gồng gian khổ
lắm chất chồng.
Cô cháu lớn Âu Cơ ngồi
tư-lự
bóng người cha xứ Mỹ
nhận không ra
phép mầu đợi từ phương
thiên gửi tới
phận mồ côi may mắn
nhận món quà.
Giọt sương mặn phủ mờ
con đường muối
khay tâm hồn chưng tứ
quý bao dung
bậu vượt biển nổi
chìm thân nhợt-nhạt
quăng giáo gươm nào có
phải anh hùng.
Công viên ẩm lạnh
Hứa-Do, Sào-Phủ
có lẽ nào duyên-tập cõi
lai-sinh
lũn-chũn bước chim già
kêu khàn đặt
vọng (âm-dung) ngỡ gặp
lại dáng hình.
Ân cựu thấm ấm buồng
tim ắp-lẵm
giọt tinh anh rửa sạch
lớp ứ-nê
nhả nhả ngọt, dành phần
thơm hậu-duệ
bốn phương đi chỉ một
hướng quay về.
Sương mặn đếm buổi
tiễn trời mãng-mãng
ly sầu đong từng khúc
biệt nga-nga
trót mông muội bậu có
về kiến-giải
sông xanh dòng tâm khảm
đậm ái-hà.
Lời Gió Mưa:
22/3/26
ALCATRAZ, CỰU KIM SƠN.
ALCATRAZ, CỰU KIM SƠN.
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”.
(Bà Huyện Thanh Quan).
Hải âu rộn điểm trời Alcatraz
chỉ một tôi bận tai mắt đả-thinh
chân luýnh-quýnh đánh hơi mùi tù-rạc
chỉ một tôi đè bẹp dí bóng mình.
Sóng hiền vỗ bạch thuyền than hối-hả
chỉ một tôi lần mây bạc tỉ-tê
cặp mòng trẻ hàn ôn dường thong-thả
chỉ một tôi tịnh khẩu ngẫm tứ bề.
Lụa là khách xuống lên bờ tiên cảm
chỉ một tôi tọa vẽ bức không gian
thanh-bình ngủ xác giặc rình vây hãm
chỉ một tôi vô-tích-sự giả nhàn.
Đà sấu-nhược lẽ nào mơ hàm-tạng
chỉ một tôi “ngộ-giả-tự-đắc” di
mắt dồn mắt xé kim-cô hữu hạn
chỉ một tôi khai triển khổ diệu-kỳ.
Alcatraz ký ức dồn minh-ký
chỉ một tôi thấm tù quảy lất-lây
gươm rỉ-sét thân tâm mòn tác-ý
chỉ một tôi dàn trải sự đã này.
Cửa chánh-niệm thiền tâm xua phóng-dật
chỉ một tôi lẩn-quẩn dại khéo khôn
chữ “phân, tâm” - nhập vô lòng hóa (phẩn)
chỉ một tôi đối-diện khối u hồn.
Điệu nhạc khởi hút dồn con mắt đứng
chỉ một tôi tập tành thử nỗi vui
bồ câu tụ ăn theo mặt hí-hửng
chỉ một tôi lành đất thoáng bùi-ngùi.
Ly bia ngập vệt nắng loang man-mác
chỉ một tôi tiễn thuyền nhập mù khơi
nghĩ bậu ghé cận kề niềm tín-thác
chỉ một tôi cầm gió-xát-mưa-dồi.
Alcatraz thiên hạ sờ mó thử
chỉ một tôi tự nhủ thủa trong lao
ai thương cảm, ai giở chương cổ sử
chỉ một tôi hành-khổ bến-giác nào.
Ngày cạn nắng gom sầu miên ngấn biển
chỉ một tôi trầm trầm thủy-mộ-quan
ước sẽ gặp gặp bậu cười mắt biếc
chỉ một tôi tỉnh-giấc mộng dã-tràng.
Trang Y Hạ
(Trần Phước Hân). San Francisco, 2008.
Cước chú:
- Alcaratz, đảo tù ở Pier 39, San Francisco.
- Chữ “phân & chữ tâm” = (chữ phẩn).
6/3/26
SÁNG SỚM ĐI DẠO Ở PHỐ IRVING.
SÁNG SỚM ĐI DẠO Ở PHỐ IRVING.
“Cổ lai đa thiểu anh hùng hán,
Nam Bắc sơn đầu ngọa thổ nê.”. (Thơ cổ.).
Sương sớm vẽ oằn cành chim nín đợi
nắng hẹn lên soi rõ cảnh hững-hờ
phố Tàu nhỏ ẩn thân mây vời-vợi
giữ lòng vui ngẩng mặt bước bơ-vơ.
Tóc dính khói rừng Kon-Tum lốm-đốm
núi Dak-Tô gốc rễ bám nhức đầu
cổ-thụ mỏi canh dốc đèo lồi-lõm
bóng người xưa mờ tỏ diện đêm thâu.
Cô bé đẹp da vàng tóc râu bắp
dẫn chó cưng thong-thả gặp tương-lai
đầu gối mỏi níu khung-trời xuống thấp
bậu ở đâu, hàn ôn kỷ-niệm ngày.
Đi mấy đỗi trố mắt soi Muội-Hỉ
sắc y nguyên sắc đẹp tựa trăng sao
Nhà Hạ oán oán than bao thế-kỷ
họa hồng nhan cớ chi trách má đào.
Nhi nữ phận lưu hồn câu phồn-thể
tự hiểu giùm, nhi nữ chẳng thường tình
mương lạch hẹp lật thuyền bởi khinh dễ
mất tự tin, chạy cầu cứu thần linh.
Đi đỗi nữa nheo mắt nhìn Đắc-Kỷ
ông Tỷ-Can, vấn sự chuyện vô tâm
thế thái nát, đức tài ra vô vị
ưu-bà-di, sám hối nhận lỗi-lầm.
Dạo đã đuối, ngắm cựu hoàng Lưu-Thiện
say chơi “game” loạn tam quốc phân tranh
lật sử lịch điểm một thời miên-viễn
kích-trầm-sa, mộng vương bá không thành.
Quay mặt gặp Từ-Thứ ôm mả mẹ
ký ngữ dòng lệ ngọt thấm khăn tang
vò đất tổ ẩn đời suy lặng-lẽ
tâm thường minh di-xú ngậm bẽ-bàng.
Liễu-sanh-tử, có thể nào có thể
bỉ-ngạn-tề, lãnh noãn vọng viễn-ly
nhân-trung-thánh, nhân sinh tầm đâu dễ
dược-thọ-vương, vấn lệ xót hạn kỳ.
Mùi gió cựu âm phong hờn đất trích
quy tội đồ chịu khiển-trách lưu thân
đang lành lặn tai ương mùa ôn-dịch
đang an vui mắc mớ lại (bào phần).
Gánh quốc nhục, hoạt-tử-nhân ngơ-ngác
thèm nén nhang lơ-lửng ấm mộ hoang
gió biển xát xát muối đau đau rát
hơi thở ra lửa khói lửa điêu-tàn.
Dầm bậu xót khua hai bờ Bến-Nghé
sông Sài-Gòn dòng nước mải chia đôi
biết sao gặp nói mấy lời cặn-kẽ
lời nhạc êm thêm ray-rức bồi-hồi.
Hơi Starbucks quyện Brodard dịu ngọt
bậu vờn qua tà áo xé nát hồn
mưa Đại-Lộ hắt vô lòng từng giọt
nắng có về tìm lại dấu hoàng-hôn.
Trời còn sớm thân xa đà hết sớm
phố Irving quanh-quẩn ngắm thời qua
đường bằng-phẳng đi hoài bong lởm-chởm
trải bản-đồ chấm tọa-độ về nhà.
Trang Y Hạ.
(Trần Phước Hân).


















