Thư viện

1/5/26

MỘT BUỔI SÁNG.

 



MỘT BUỔI SÁNG.

     “Chàng từ đi vào nơi gió cát,
      Đêm trăng nầy nghỉ mát nơi nao.”
                                 (Chinh Phụ Ngâm Khúc).

Một buổi sáng bước lên xe đi tù “lao cải”
nàng đứng co ro bên mương nước đục ngầu
cơn mưa đầu tháng năm, thay cho nước mắt
trở về nhà nàng hóa đá đợi bao lâu.

Đôi mắt mỏi dán qua khung cửa kiếng
vẫy tay chào hết sinh khí thần hồn
xe lăn bánh ngỡ lăn vào nơi địa ngục
xác thân còn, tưởng nằm trong nấm mồ chôn.

Đoạn đường cũ thân quen mỗi mùa qua ấm áp
nhìn về đâu cũng ngập ngụa khói nhang bay
hàng cây ven đường, cúi đầu im lặng
người lại qua chiếc bóng dõi theo ngày.

Bác tài xế tuổi đời ước chừng đà hoa giáp
đoán biết rằng đã từng lái xe nhà binh
mặt khắc khổ tựa một vị sư già khổ hạnh
chẳng hở một câu, bậm môi nói với mình.

Nhìn lại thân thùng thình trong bộ đồ dân sự
tuổi học sinh hiện về đau nhói cả tâm can
con ve sầu lánh mặt nằm im trong lòng đất
cây phượng đau bởi bầy mọt đục lụi tàn.

Màu mưa miết vẽ khung trời thêm ảm đạm
núi Chứa-Chan mây tang viền đỉnh đầu
rừng cũng khóc, khóc thay ngôi đổi chủ
đất linh-thiêng văng-vẳng nhịp vó câu.

Xe mệt mỏi chạy lòng vòng tìm bến
ngồi trong xe lo lắng phận hàng binh
thuốc độc mạnh đó chính là thù hận
chỉ còn mong thần thánh đoái thương tình.

Không kêu án, người tù biết bao giờ đoàn tụ
nàng cô đơn gió hú úa dung nhan
đêm lạnh cẳng tỉ tê cùng đàn rệp
ngọn huân phong hy vọng giấc mơ màng.

Một buổi sáng lên xe đi vào tù “lao cải”
siết đôi tay thay ngàn lời tiễn đưa nhau
nàng trở lại vô ra trong ngôi nhà lầm lũi
khắp núi đồng mong mỏi lá xanh màu.

Trang Y Hạ
(Trần Phước Hân).
Xuân Tâm, 1975.

Lời Gió Mưa:

Tôn Quyền trọng dụng Lữ Mông làm quân sư. Quan Vũ có ý coi thường, nói: “Lữ Mông đó chỉ là một võ tướng bình thường chẳng tiếng tăm, chẳng biết gì mưu lược...?”. Vậy mà không lâu sau chính Lữ Mông đã bày ra kế sách để cho Tôn Quyền đánh úp lấy lại Kinh Châu từ tay Quan Vũ một cách dễ dàng. Để mất Kinh Châu chóng vánh, Quan Vũ quá kinh ngạc, ngửa mặt lên trời thở dài: “Người bình thường lâu ngày không gặp, phải nhìn bằng con mắt khác.”.

Trần Phước Hân (Sưu Tầm).



26/4/26

THÁNG BA NHỚ NGÀY GIỖ CHA

 


THÁNG BA NHỚ NGÀY GIỖ CHA.

Cha về nằm đất đã lâu,
Dư âm đọng giọt ơn sâu nghĩa dày.
Câu thơ Đỗ Mục tạm vay,
Thanh minh một chén rượu cay ấm tình.
                                               (Trang Y Hạ).

THANH MINH
Đỗ Mục - 杜 牧 (803 - 853) Vãn Đường.

Nguyên Tác:
清明時節雨紛紛,
路上行人欲斷魂.
借問酒家何處有?
牧童遙指杏花村.



Phiên Âm:
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.
                                               
Dịch Nghĩa:
Thanh minh thời tiết mưa rơi lất phất,
Người đi đường trong lòng buồn bã thê lương.
Tìm hỏi thử có chỗ nào bán rượu?
Mấy đứa giữ trâu trỏ về hướng thôn Hạnh Hoa.


Dịch thơ:
Thanh minh rưới giọt mưa phùn,
Người đi buốt giá đường hun hút sầu.
Hỏi thăm tiệm rượu nơi đâu?
Trẻ chăn trâu nói trên lầu Hạnh Hoa.

                                            Trang Y Hạ (Dịch Thơ.).
Lời Gió Mưa:
Hãy coi chừng những tiên tri giả, chúng đến với các ngươi trong lốt chiên, nhưng bên trong là bầy sói hung dữ. Các ngươi nhận biết chúng qua những việc làm của chúng.” (Matthew 7: 15 – 16.).

"Những kẻ bách hại Hội Thánh tồi tệ nhất là những giám mục, linh mục và tu sĩ thiếu lòng tin. Sự đối nghịch từ phía bên ngoài thì khủng khiếp, nó cho chúng ta nhiều thánh tử đạo. Nhưng kẻ thù kinh khủng nhất của Hội Thánh là những kẻ phản bội trong lòng Hội Thánh!". (Đức Giáo Hoàng Pio XI).
Trần Phước Hân (Sưu Tầm).





21/4/26

SƯƠNG MẶN

 



SƯƠNG MẶN

     “Khi Vô Tích, khi Lâm Tri,
    Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương.”. (Kiều).


Giọt sương mặn lơ-ngơ vin cành mới
mắt tỏ mờ sự thế ngẫm thời qua
nắng thủa trước sót sưởi vài ngọn cỏ
mảng rêu vàng úa bám chặt cây già.

Cựu-binh dạo âm thầm vùng thất thập
ngửa bàn tay cứa chằng chịt chỉ tay
chiếc lá ghẹo sợi đầu pha hột bụi
công viên rừng ôn ấm vết nhăn mày.

Con sóc sọc mắt láo liêng nịnh bợ
bánh nửa phần chia sớt nỗi gian-nan
bầy kiến đói đánh hơi về hội-tụ
hóa ra là loài vật cũng cơ-hàn.

Cô cháu lớn Âu-Cơ trông quen mắt
có phải là Babylift hay không
quê ngoại gánh tuổi thơ ngây lận-đận
quê nội gồng gian khổ lắm chất chồng.

Cô cháu lớn Âu Cơ ngồi tư-lự
bóng người cha xứ Mỹ nhận không ra
phép mầu đợi từ phương thiên gửi tới
phận mồ côi may mắn nhận món quà.

Giọt sương mặn phủ mờ con đường muối
khay tâm hồn chưng tứ quý bao dung
bậu vượt biển nổi chìm thân nhợt-nhạt
quăng giáo gươm nào có phải anh hùng.

Công viên ẩm lạnh Hứa-Do, Sào-Phủ
có lẽ nào duyên-tập cõi lai-sinh
lũn-chũn bước chim già kêu khàn đặt
vọng (âm-dung) ngỡ gặp lại dáng hình.

Ân cựu thấm ấm buồng tim ắp-lẵm
giọt tinh anh rửa sạch lớp ứ-nê
nhả nhả ngọt, dành phần thơm hậu-duệ
bốn phương đi chỉ một hướng quay về.

Sương mặn đếm buổi tiễn trời mãng-mãng
ly sầu đong từng khúc biệt nga-nga
trót mông muội bậu có về kiến-giải
sông xanh dòng tâm khảm đậm ái-hà.

Trang Y Hạ.
(Trần Phước Hân).

Lời Gió Mưa:

 




22/3/26

ALCATRAZ, CỰU KIM SƠN.

 



ALCATRAZ, CỰU KIM SƠN.


       Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

      Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”.

                         (Bà Huyện Thanh Quan).


Hải âu rộn điểm trời Alcatraz

chỉ một tôi bận tai mắt đả-thinh

chân luýnh-quýnh đánh hơi mùi tù-rạc

chỉ một tôi đè bẹp dí bóng mình.


Sóng hiền vỗ bạch thuyền than hối-hả

chỉ một tôi lần mây bạc tỉ-tê

cặp mòng trẻ hàn ôn dường thong-thả

chỉ một tôi tịnh khẩu ngẫm tứ bề.


Lụa là khách xuống lên bờ tiên cảm

chỉ một tôi tọa vẽ bức không gian

thanh-bình ngủ xác giặc rình vây hãm

chỉ một tôi vô-tích-sự giả nhàn.


Đà sấu-nhược lẽ nào mơ hàm-tạng

chỉ một tôi “ngộ-giả-tự-đắc” di

mắt dồn mắt xé kim-cô hữu hạn

chỉ một tôi khai triển khổ diệu-kỳ.


Alcatraz ký ức dồn minh-ký

chỉ một tôi thấm tù quảy lất-lây

gươm rỉ-sét thân tâm mòn tác-ý

chỉ một tôi dàn trải sự đã này.


Cửa chánh-niệm thiền tâm xua phóng-dật

chỉ một tôi lẩn-quẩn dại khéo khôn

chữ “phân, tâm” - nhập vô lòng hóa (phẩn)

chỉ một tôi đối-diện khối u hồn.


Điệu nhạc khởi hút dồn con mắt đứng

chỉ một tôi tập tành thử nỗi vui

bồ câu tụ ăn theo mặt hí-hửng

chỉ một tôi lành đất thoáng bùi-ngùi.


Ly bia ngập vệt nắng loang man-mác

chỉ một tôi tiễn thuyền nhập mù khơi

nghĩ bậu ghé cận kề niềm tín-thác

chỉ một tôi cầm gió-xát-mưa-dồi.


Alcatraz thiên hạ sờ mó thử

chỉ một tôi tự nhủ thủa trong lao

ai thương cảm, ai giở chương cổ sử

chỉ một tôi hành-khổ bến-giác nào.


Ngày cạn nắng gom sầu miên ngấn biển

chỉ một tôi trầm trầm thủy-mộ-quan

ước sẽ gặp gặp bậu cười mắt biếc

chỉ một tôi tỉnh-giấc mộng dã-tràng.


Trang Y Hạ

(Trần Phước Hân). San Francisco, 2008.

Cước chú:

- Alcaratz, đảo tù ở Pier 39, San Francisco.

- Chữ “phân & chữ tâm” = (chữ phẩn).









6/3/26

SÁNG SỚM ĐI DẠO Ở PHỐ IRVING.

 



SÁNG SỚM ĐI DẠO Ở PHỐ IRVING.


     “Cổ lai đa thiểu anh hùng hán,

    Nam Bắc sơn đầu ngọa thổ nê.”. (Thơ cổ.).


Sương sớm vẽ oằn cành chim nín đợi

nắng hẹn lên soi rõ cảnh hững-hờ

phố Tàu nhỏ ẩn thân mây vời-vợi

giữ lòng vui ngẩng mặt bước bơ-vơ.


Tóc dính khói rừng Kon-Tum lốm-đốm

núi Dak-Tô gốc rễ bám nhức đầu

cổ-thụ mỏi canh dốc đèo lồi-lõm

bóng người xưa mờ tỏ diện đêm thâu.


Cô bé đẹp da vàng tóc râu bắp

dẫn chó cưng thong-thả gặp tương-lai

đầu gối mỏi níu khung-trời xuống thấp

bậu ở đâu, hàn ôn kỷ-niệm ngày.


Đi mấy đỗi trố mắt soi Muội-Hỉ

sắc y nguyên sắc đẹp tựa trăng sao

Nhà Hạ oán oán than bao thế-kỷ

họa hồng nhan cớ chi trách má đào.


Nhi nữ phận lưu hồn câu phồn-thể

tự hiểu giùm, nhi nữ chẳng thường tình

mương lạch hẹp lật thuyền bởi khinh dễ

mất tự tin, chạy cầu cứu thần linh.


Đi đỗi nữa nheo mắt nhìn Đắc-Kỷ

ông Tỷ-Can, vấn sự chuyện vô tâm

thế thái nát, đức tài ra vô vị

ưu-bà-di, sám hối nhận lỗi-lầm.


Dạo đã đuối, ngắm cựu hoàng Lưu-Thiện

say chơi “game” loạn tam quốc phân tranh

lật sử lịch điểm một thời miên-viễn

kích-trầm-sa, mộng vương bá không thành.


Quay mặt gặp Từ-Thứ ôm mả mẹ

ký ngữ dòng lệ ngọt thấm khăn tang

vò đất tổ ẩn đời suy lặng-lẽ

tâm thường minh di-xú ngậm bẽ-bàng.


Liễu-sanh-tử, có thể nào có thể

bỉ-ngạn-tề, lãnh noãn vọng viễn-ly

nhân-trung-thánh, nhân sinh tầm đâu dễ

dược-thọ-vương, vấn lệ xót hạn kỳ.


Mùi gió cựu âm phong hờn đất trích

quy tội đồ chịu khiển-trách lưu thân

đang lành lặn tai ương mùa ôn-dịch

đang an vui mắc mớ lại (bào phần).


Gánh quốc nhục, hoạt-tử-nhân ngơ-ngác

thèm nén nhang lơ-lửng ấm mộ hoang

gió biển xát xát muối đau đau rát

hơi thở ra lửa khói lửa điêu-tàn.


Dầm bậu xót khua hai bờ Bến-Nghé

sông Sài-Gòn dòng nước mải chia đôi

biết sao gặp nói mấy lời cặn-kẽ

lời nhạc êm thêm ray-rức bồi-hồi.


Hơi Starbucks quyện Brodard dịu ngọt

bậu vờn qua tà áo xé nát hồn

mưa Đại-Lộ hắt vô lòng từng giọt

nắng có về tìm lại dấu hoàng-hôn.


Trời còn sớm thân xa đà hết sớm

phố Irving quanh-quẩn ngắm thời qua

đường bằng-phẳng đi hoài bong lởm-chởm

trải bản-đồ chấm tọa-độ về nhà.


Trang Y Hạ.

(Trần Phước Hân).







CHỮ "MÌNH" & CHỮ TÔI".


CHỮ “MÌNH” & "CHỮ TÔI".

     “Mình ơi tôi gọi là nhà,
       Nhà ơi tôi gọi mình là nhà tôi.”
. (Bùi Giáng).

     Một nữ thi hào gởi cho tôi bài thơ và nói: - “Mình mới làm xong bài thơ, bạn mình đọc rồi cho mình biết ý kiến nha!”. Tôi trả lời rằng: - “Cô thi sĩ ơi! Tôi với cô nào có phải là tình vợ chồng thắm thiết chi mô mà cô xưng hô (mình) với tôi ngọt như mía lùi vậy hử…?”.

CHỮ MÌNH:

     Trong bài viết nầy tôi không cần phải giải thích, phân tích gì thêm về “chữ mình” trong cách xưng hô như thế nào nữa, bởi vì tự xưa nay ai cũng biết chữ mình - đại từ xưng hô thân mật giữa hai người (nam, nữ), mà phần nhiều là ở trong tình vợ chồng. Theo: Hán Nôm: Chữ mình(𠵴, 𨉟) là một cách xưng hô âu yếm, tự thân nó đã nói lên sự yêu thương, sự chung tình tuyệt đối gần như bất di bất dịch - ranh giới đó không thể tan rã ra như sương buổi sáng. Và, cũng có thể nói đó là sự khẳng định (luật bất thành văn) không một ai chen ngang qua lằn ranh đó. Chữ mình trong sâu thẳm là một sự cô độc, cô độc giữa đằm thắm, diệu vợi, hy vọng nhưng lại ẩn giấu tự trong bản thân. Từ đó, một khi cất tiếng gọi “mình ơi” là màn sương cô đơn biến mất, một hơi nắng ấm tràn về từ cái nhìn, từ tay trong tay, từ cái nghiêng đầu dựa vào vai nhau - giây phút nồng ấm là một sự hồi sinh, sự rung động mãnh liệt của cả hai thực thể… - đó là hạnh phúc; đó là che chở.

     Tiếng gọi “Mình ơi” không thảng thốt giục giã; không ồn ào giống tiếng búa bổ đinh tai nhức óc mà là tiếng của tâm lòng; của tình thương yêu vô cùng dịu êm thánh thiện. Tiếng gọi mình ơi kèm theo từng ánh mắt nặng trĩu ân tình; từng cử chỉ trân trọng, bày tỏ…, không gian lúc bấy giờ chỉ còn là nhịp đập của hai trái tim.

     Theo: Hán Nôm, nếu viết thêm chữ "một" (
) kèm theo thì sẽ thành ra chỉ có “MỘT MÌNH”, có nghĩa là “chìm mất, lặn mất (mặt trời).”. “Từ khước thiên biên nguyệt, một nhân tri”. (Ngoại trừ bóng trăng trên trời, chỉ có một người biết.). Do đó lúc đã ở một mình thì sự cam chịu ẩn kín trong lòng nỗi cô đơn, nỗi cô độc – khoảng vắng chính là nét dịu dàng là tha nhân, tất cả biến thành im lặng, - chẳng có một ai để đối thoại hay đối thoại với người nơi cõi xa xôi, với người ở phía “hằng hữu”. Lúc nầy chỉ có (cảm) chứ không thể (nhận), - không nhận không có nghĩa vô tình, mà “tình trong như đã…”. Tuy vậy, “một mình” tự vấn nghe ra có vẻ đơn độc, song le nếu hiểu thấu ra không phải là không có ai bên cạnh - mà “đã có” một ai đang chờ, họ có đầy đủ, hoàn hảo, kiên nhẫn chờ…! Thăm thẳm sâu trong “một mình” sẽ “liễu nhiên ư tâm”. (sáng tỏ trong lòng). Những điều kỳ vĩ từ vũ trụ bao la không có nghĩa là sẽ không gặp lại – một chu trình khép kín sẽ từ từ mở ra.

    Chữ “mình” thiêng liêng, trìu mến, hạnh phúc đã đi vào ca dao chứa đầy sự tha thứ, sự bao dung đùm bọc lẫn nhau bằng một tình yêu sâu đậm vô điều kiện, chứ không phải lòng trắc ẩn thương hại.

  • Mình nói với ta mình hãy còn son,
  •  Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
  •  Con mình những trấu cùng tro,
  •  Ta đi xách nước rửa cho con mình.”. (Ca Dao).

    Hoặc: - Trong lòng lo lắng, hụt hẫng chẳng biết nhớ cái gì cho phải lúc bịn rịn ra về mà đành hỏi bâng quơ, hỏi cho có hỏi, như:

     “Mình về có nhớ ta chăng,
      Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.”.

Không nhớ cái gì cho (đáng nhớ), lại đi nhớ hàm răng của nàng làm chi không biết nữa...!?

     Đã có một Thúy Kiều khóc trước mả Đạm Tiên – khóc cho một người con gái tài hoa đã chết từ xa xôi diệu vợi chưa hề một lần diện kiến. Tiếng khóc của cô Kiều là tiếng khóc của sự “đồng cảm”, của tức cảnh sanh tình.

     “Khóc than khôn xiết sự tình,
       Khéo vô duyên bấy là mình với ta!”
(Kiều)

     Định mệnh hay số phận tự xưa cho tới hôm nay không bao giờ chịu đứng yên một chỗ. Duy chỉ có tình chồng vợ là sắt cầm hòa minh được nâng lên “ĐẠO VỢ CHỒNG”, nếu giữ được trọn đạo vợ chồng là coi như hoàn thiện một kiếp nhân sinh phù hợp với trời đất, phù hợp với giáo lý của các tôn giáo. Và, một khi đã thấy được “số mệnh” thì đừng có bận tâm cho đường về.

     Tuy vậy, hiện nay nhiều người hiểu sai ý nghĩa chữ “MÌNH” và viết sai chữ mình trong thơ văn cũng như khi đối thoại... Tôi đọc nhiều bài thơ, bài văn thấy các tác giả lấy chữ “mình” để diễn tả nội tâm, trò chuyện thân mật nơi chốn đông người, nơi diễn đàn văn thơ rất bình thường như chồng vợ yêu thương thỏ thẻ với nhau nơi chốn riêng tư.

     Biết rằng, chữ “MÌNH” nếu là “Danh Từ” thì: - Mình là bộ phận cơ thể của người, của động vật (không kể đầu chân tay.). - “Để mình trần.”, - “Đau mình nhức mẩy.”, - “Gieo mình xuống sông.”. Cá nhân, thì: - “Sống cho hết mình.” và “Một thân một mình.”. Bộ phận tạo ra hình dạng: - “Con thuyền đắm mình trong mưa to gió lớn.”, - “Con cá dày mình.”. Còn “Đại Từ: (khẩu ngữ) gọi chung lại một cách thân thiết: - “Bạn đi với mình.”, - “Bọn mình học chung trường.”. “Mình ba đứa hôm nay gặp nhau nâng ly cà phê ngát mùi hương ngọt ngào. Chiều thu về gió lạnh đìu hiu thấy tâm tư dạt dào thấy buồn buồn làm sao…”. Nhạc phẩm (Ly Cà Phê Cuối Cùng). Còn dùng để chỉ cho bản thân, thì: - “Lúc nào cũng nghĩ cho riêng mình.”, - “Mình làm mình chịu còn trách cho ai.”.

CHỮ TÔI:

     “ Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng
        Thương về con nước ngại ngùng xuôi
        Những người em nhỏ bên kia ấy
        Ai biết chiều nay có nhớ tôi.”.

                        Trích thơ: (Hoàng Trúc Ly).
Và:

      “Tôi trở lại căn nhà xưa đổ nát
        Tìm mồ chôn tình sa-mạc hoang-vu
        Kỷ-niệm nào tan theo vùng ảo-giác
        Tôi đứng bâng-khuâng vuốt mắt sương mù.”.

                           Trích thơ: (Trang Y Hạ.).

      Ngày nay chữ “TÔI” biến mất trong văn chương, trong giao tiếp hằng ngày kể cả trong hành chánh, công sở và trên các trang mạng xã hội… Tất cả đều xưng (Anh, Em). Đáng nói hơn là mỗi khi gặp cấp trên đều xưng Anh, Em với vẻ khúm núm, cúi đầu... Đáng lo ngại hơn là xử dụng chữ mình một cách thiếu giáo dục, thậm chí có thể nói là “Mất Dạy, mất lịch sự”, mỗi khi tới nhà người khác thì nói trống không, nói không chủ ngữ. Ví dụ điển hình, như: - “Chào cả nhà.”, - “Chào mọi người.”, - “Mời mọi người.”, - “Mời cả nhà.”, - “Mình chào mọi người.”; - “Mình chào cả nhà.”. Hoặc: - “Mọi người có đọc thơ, văn của mình viết không?”. “Ngày mai mình có hẹn đi chơi.”; “Mình đang viết văn, làm thơ.”; “Mình không rảnh để nói chuyện với mấy người.” “Mình quay YouTube nầy cho các người xem.”, “Mình cảm ơn mọi người quan tâm tới mình.”, “Mình mời mọi người cùng ăn.”. (Phát ngôn không phân biệt lớn nhỏ, không kêu đích danh ai, chỉ nói trống không, ai hiểu thì hiểu.).

     Thẳng thắn mà nói: - Những người kém học thức, mất nhân cách, thiếu tự trọng thì có thể bỏ qua, nhưng các vị trí thức; các vị có bằng cấp cao, các vị: thi hào, văn hào, ký giả xài mấy câu văn đó trong ở trong tác phẩm thì thiết nghĩ không thể chấp nhận được. Thậm chí là làm hư hỏng tiếng Việt.

     Ngày xưa, dưới mái trường miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), học sinh được dạy “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” – qua môn “Công Dân Giáo Dục & Môn Đạo Đức”. Ví dụ: Đi ra đường gặp người lớn phải cúi đầu chào, gặp đám tang đi qua phải đứng lại dở nón cúi đầu… Đi thưa, về dạ - xưng hô lễ phép. Ví dụ: Kính thưa quí vị! Kính chào quí vị! Kính chào quí ông bà! Kính thưa quí ông bà anh chị em! Kính mời ông bà bác chú cô dì dượng cầm đũa ăn bữa cơm lấy thảo! Thân mến chào bạn hữu xa gần…! Kính mời quí vị xem buổi trình diễn của chúng tôi… Những câu xưng hô lễ phép lịch sự tôn trọng còn nhiều lắm…!

Giải Thích Thêm Về CHỮ LỄ:

      (Thuyết Nhà Phật, có: “BÁT ĐỨC” là: (Hiếu, – Để, – Trung, – Tín, – Lễ, – Nghĩa, – Liêm, – Sỉ). Nghĩa là chữ “LỄ” đã có từ rất lâu ở trong thuyết nhà Phật, chứ chẳng phải do ông Khổng Tử viết ra sau này. Theo Hán Tự, chữ “Lễ” = Đối xử bình đẳng chứ không cậy quyền thế, ỷ thế để bắt phải giữ lễ. Chữ Lễ (phồn thể) gồm hai phần: - Bên trái là bộ Thị “示”(Kính) - Tượng trưng cho các đấng thần linh, tôn giáo... Bên phải là chữ Phong “豊”. (Gói) : Biểu tượng cho lễ vật để cúng tế trời đất, tổ tiên ông bà cha mẹ…! Bản chất của chữ Lễ là không khoanh tay cúi đầu khúm núm trước kẻ hèn, kẻ độc ác bất nhân mà đánh mất lòng tự trong, nhân phẩm, nhân cách, tư cách và danh dự mà đó là sự THÀNH TÂM. Chữ “Lễ” qua giản thể “礼”thì mất chữ “Phong”. Do đó chữ Lễ không còn thần linh thiêng liêng, đạo lý cũng không cúng tế lễ vật. Chữ lễ Giản Thể có thể nói là “Vô Thần”….).

     Tốt nhất là: “Biết giữ chừng mực với những ai không tôn trọng với ta đó là cách ta giữ Lễ ”禮”với bản thân.”.

      Chữ “TÔI” (Hán Nôm) là đại danh xưng ngôi thứ nhất khẳng định ví trí vững vàng tự tin trước người đối diện dù người đối diện có cấp bậc chức vụ lớn ở trong xã hội cũng mặc kệ. Xưng “TÔI” là tự xác nhận Bản Lĩnh trước sự sợ hãi cũng như nể nang... Và, nếu có bắt tay thì phải bắt một tay, mắt nhìn mắt người đối diện, đứng thẳng người - tuyệt đối không cúi gập lưng khúm núm sợ sệt. Chữ TÔI khi xưng hô trước công chúng - nghĩa là xác định: - Nhân Cách, Tư Cách, lòng Tự Trọng của chính bản thân và Tự Hào, Hãnh Diện trước cộng đồng xã hội kể cả kẻ có quyền lực, còn nếu ở một nơi riêng tư chỉ có [hai người] hay ở trong gia đình thì muốn xưng hô cách nào thì tùy ý.

  • "Mình ơi, tôi vẫn đợi mình,
  •  Mình ơi, tôi vẩn chờ mình đợi tôi.".
  •                      Thơ: Trang Y Hạ).

     Chữ “MÌNH”, nghĩ theo cách nào, viết theo cách nào thì cũng chỉ quanh quẩn trong cái khung tình cảm nồng ấm rất tế nhị mà nhiều nhất là ở trong tình nghĩa vợ chồng. Còn chữ “TÔI” chữ đó mới là cái chữ hun đúc ý chí trung trực, giữ lại danh dự trách nhiệm cho bản thân, cho xã hội, cho văn chương thi phú... Chữ TÔI đem lại cho con người niềm tự hào, tự tại, khảng khái, hào sảng ngẩng cao đầu với nhân gian với trời đất.

     Tôi mượn mấy câu thơ trong bài “Hai sắc Hoa Ti Gôn”, để tạm dừng bài văn tại đây.

     “Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
       Một mùa thu trước rất xa xôi
       Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
       Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi.”.
(TTKH).

  • Trang Y Hạ. (Trần Phước Hân).
  • San Francisco.

LỜI GIÓ MƯA:

- “Giáo dục là cái đền thiêng.”. (Ngô Đình Nhu).

Vậy là, một khi cái Đền Thiêng đó không linh thiêng nữa thì lũ quỷ sứ sẽ làm loạn.

- “Văn chương Việt Nam sau “giải phóng” như nước lọt xuống rá.”. (Sơn Nam). Ý là, văn chương viết theo “Tấm bảng chỉ đường nơi cuối phố”, với thứ ngôn ngữ quái đản, dị hợm.

- “Đất nước mất còn có thể lấy lại được, Văn hóa mất là mất hết.”. (Tưởng Giới Thạch).

Trần Phước Hân. (St).















25/2/26

GOLDEN GATE PARK, SAN FRANCISCO.

 


GOLDEN GATE PARK, SAN FRANCISCO.

     Vạn lý tình không tuyệt vân cảnh.
     Mãn đàm trừng thủy hiển nguyệt minh.” 

Sơm sớm bay lên núi
sâm sẩm liệng xuống rừng
dẫn đường theo lầm-lũi
gãi đầu, đầu tưng tưng.

Ngắm đồi đồi lạ hoắc
nghía suối suối lạnh teo
du-tử vòng xa-lắc
lẩn-quẩn dốc với đèo.

Ôm ngang eo starbucks
phảng-phất mùi Brodard *
dậy giọt mồ rất thật
thơm vạt áo bà ba.

Chim bỏ cành tiu-nghỉu
ngày thiên-di hàn ôn
Thích-Ca, ông có hiểu
Giê-Su, ngài bồn-chồn.

Lá non uống sương ngự
trăn-trở dò theo chân
người về nơi tiền-sử
dậy lên nỗi bần-thần.

Mái dầm khua sông Cửu
dội Mississippi *
trần-ai bộn hy-hữu
trần-gian lắm hạn-kỳ.

Đã im tiếng xé lụa
cô Bao-Tự còn cười
Phong-Hỏa-Đài nổi lửa
thân du miền xa khơi.

Sớm vịn trời đi dạo
bánh Man-na còn không
giữa rừng bước lảo-đảo
gió suốt đời lông-bông.

Dựa lưng thân cổ-thụ
thầm-thỉ chuyện thuở xưa
chuyện quân-hành ngày cũ
còn nhớ, - hỏi thêm thừa.

Ước chi là Phù-Đổng
ngồi nôi đợi mẹ ca
chờ mưa tắm ở dỗng
cùng cô bé cạnh nhà.

Ước chi là Phù-Đổng
được mẹ dẫn qua kinh
hương gió đồng lồng-lộng
diều đùa giỡn với hình.

Dạo - Golden Gate Park
nắng tỏ mờ như trăng
kiếm Đặng-Dung không lạc
giặc còn đó mấy thằng.

Dạo - Golden Gate Park
ngỡ trong rừng DakTo
tự làm nai ngơ-ngác
lạc mất một cơ-đồ.

Trở về về nhà trọ
lá vàng lá vàng bay
giọng trầm nghe nho nhỏ
đành ở tạm nơi này.

Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).
San Francisco.

Cước Chú:

* - Quán cà phê ở Đại lộ Lê-Lợi – Nguyễn-Thiệp – (Sài-Gòn.).
* - Mississippi là một Tiểu Bang của Hoa Kỳ, - cũng là tên sông Mississippi.


17/2/26

MÙA XUÂN Ở CỰU KIM SƠN.

 



MÙA XUÂN Ở CỰU KIM SƠN

       “Đoái thương muôn dặm tử phần,
      Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa,”! (Kiều).

Cột đèn đứng treo mảnh trăng cuối phố
con quạ vui buồn lẫn lộn bồ câu
vàng trộn đỏ, vẽ khung trời lỗ-chỗ
hơi nàng xuân âm-ấm họa mấy màu.

Đông nấn-ná xúi vài hơi gió mỏng
rủ hột mưa cành sót xuống âm-ty
cô starbucks hiền khô đâm gắt-gỏng
chắc tại vì xuân đáo chẳng có gì.

Ngày kín tiếng chở thời gian lẳng-lặng
giọt cường toan rệu-rã kiếp trùng-lai
ngón tay trỏ vẽ mặt bàn màu nắng
họa ra thêm hậu-duệ đẹp hình hài.

Và cứ vậy, mỗi mùa xuân biền-biệt
nén nhang thơm không dám đốt trong nhà
trên túi áo gia tài còn cây viết
nguệch vài dòng gởi về cõi rất xa.

Bước lững-thững lọt vô nơi phố Nhật
sợi ra-men thoang-thoảng khói Phù-Tang
đang hiện diện Sài-Gòn cớ chi mất
đang ngồi nghe nhức từng phút điêu-tàn.

Tô hoành thánh phố người Hoa nóng hổi
mắt mơ-màng vóc ngọc đẹp Tây Thi
đèn lồng đỏ rung nét xuân phơi-phới
kẻ đông vui lòng hiu hắt nhị-tỳ.

Bún bò Huế rất thèm tô mì Quảng
(người nấu cho không biết ngụ nơi mô)
phố quen lạ ngóng bóng ai lai vãng
đầu chưa ngu sao óc lại mơ hồ.

Gió từ phía Thái-Bình-Dương biếu lạnh
có gửi mùi xuân ấm tự năm nao
có giải thích rõ ràng rằng hai cảnh
ngồi trân mình cho sóng vỗ cồn-cào.

Trang Y Hạ
San Francisco.
(Khai Bút Đầu năm 2026.)

Lời Gió Mưa:

Nếu trong lòng đã có sự sợ hãi thì dù có thần thông hay tài giỏi bao nhiêu cũng trở thành vô dụng.” (Trần Phước Hân).





30/1/26

NGHĨ VỀ BỐN CHỮ “RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.

 



NGHĨ VỀ BỐN CHỮ “RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.

     Người xưa nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa”. Hoặc: “Cha mẹ sống không cho ăn, khi cha mẹ chết làm văn tế ruồi.”. Bất cứ đạo giáo nào cũng dạy thờ cha kính mẹ là “phúc đức” lớn nhất. Trong “Mười Điều Răn” của Chúa, thì điều thứ nhất là: “Thảo kính Cha Mẹ”. Từ đó, mà người xưa đã nghĩ tới bốn chữ “Cửu Tự Cù Lao” để phân tích, diễn giải các giai đoạn mà cha mẹ đã vất vả sinh con, nuôi dưỡng con nên người.

     “Chiều chiều ra đứng ngõ sau
    Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.”
Và:
     “Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều
    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.”

     Tuy vậy, nhưng lại có một nhạc sĩ lại sửa lời trong nhạc phẩm “Dân Ca”, rằng:

     “Chiều chiều chim vịt kêu chiều, bâng khuâng nhớ “BẠN” chín chiều ruột đau”. Bạn bè không sinh bạn, cũng không nuôi dưỡng bạn, thì mắc mớ chi phải nhớ bạn tới chín chiều ruột đau dữ vậy? Tình yêu trai gái cũng không tới nỗi, nhớ tới chín chiều ruột đau kia mà! Người nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, thiết nghĩ khi cầm viết để viết hãy suy tính cẩn thận đừng bao giờ - sửa lời, sửa ý các câu: Thành ngữ. Tục Ngữ. Cao dao. Bởi các câu đó tuy ngắn nhưng lại chứa đựng nhiều ý nghĩa huyền vi, triết học thâm sâu.

     Thời xưa, ông Thầy dạy rằng: “Các trò lấy văn của người khác khoảng bốn [4] chữ là phải bỏ vô dấu ngoặc kép, còn nếu biết tên tác giả thì ghi tên tác giả, - bằng không làm vậy sẽ bị phạm tội đạo văn”. Ông thầy dạy đúng, vì bốn chữ thì đã hình thành một câu thành ngữ. Ví dụ như các câu thành ngữ “ăn chắc mặc bền”; “tay làm hàm nhai”, “Dao cùn cứa thịt”... Vậy, nếu mà không bỏ vô dấu ngoặc kép là chẳng phải ăn cắp sao...?!

     Biết rằng trong đời người, từ thuở bé cho tới lúc trưởng thành và bước chân vào xã hội, dù (giàu, nghèo) đều phải có bạn bè, bạn hữu. Nhớ bạn, thương là đúng, nhưng nhớ bạn tới “chín chiều ruột đau” sao? Người xưa, nói: Bạn bè dù chơi thân thiết tới bạc đầu vẫn luôn đề phòng họ chứ không phải là chỗ dựa, là chỗ đặt niềm tin yêu mãnh liệt ở họ. Duy nhất, chỉ có cha mẹ ruột mới là nơi an toàn, nhà của cha mẹ là nhà của các con, gia sản của cha mẹ ruột là của các con. Tình thương yêu của cha mẹ dành cho con đó là tình yêu không vụ lợi, cha mẹ hy sinh cho các con cả về tinh thần, vật chất - không bao giờ tính toán thiệt hơn. Ngoài tình yêu của cha mẹ ra thì không còn một tình yêu có thể so sánh.

     Chín chiều có nghĩa là thầm nhớ tới công lao cha mẹ đã sinh ra và nuôi cho khôn lớn; cho ăn học thành tài. Từ đó, người xưa dùng “Cửu Tự Cù Lao” là chín Chữ tiêu biểu cho việc khó nhọc khi sanh con ra và nuôi nấng. Tuy vậy, cha mẹ cũng chưa bao giờ bắt các con phải trả ơn mà ngược lại cha mẹ lại còn lo cho con của con, (tức là cháu ngoại, cháu nội.).

Chín Chữ:

     *Một: - Sinh = (chín tháng cưu mang và sanh đẻ). Sinh đẻ ví như một lần chết đi sống lại. Từ đó mới có câu: “Đàn ông đi biển có đôi. Đàn bà đi biển mồ côi một mình,”.
     *Hai: - Cúc = (nâng đỡ, tận tụy, lo toan, chăm sóc yêu thương). “Cúc cung tận tụy”, đôi khi người mẹ quên hẳn bản thân dù đau ốm để lo cho con.
     *Ba: - Phủ = (vuốt ve, trìu mến, bao bọc khi trời ấm lạnh). Kỷ niệm đẹp nhất của tuổi thơ là (cái gối êm ái) khi trở về tuổi già. Mùi của mẹ còn vương vấn mãi suốt cuộc đời của con. Mẹ chính là “cây dù” che mưa, che nắng – cả nghĩa đen, nghĩa bóng.
     *Bốn: - Súc = (cho bú mớm, cho ăn uống). Khoảng thời gian con còn đang bú là khoảng thời gian người mẹ mệt mỏi nhất, khi cai sữa xong là tập cho con ăn, phải bón đút từng muỗng.
     *Năm: - Trưởng = (nuôi cho con khôn lớn.). Giai đoạn con khôn lớn cũng là lúc cha mẹ bận rộn lo toan cả vật chất, tinh thần và xã hội.
     *Sáu: - Dục = (giáo dục, dạy dỗ theo nế nếp gia phong và thuần phong mỹ tục.). Cho con học thành tài. Dạy cho con biết nhân cách làm người, làm người không nhân cách, lương thiện thì dù có học hành, có bằng cấp cao, có quyền chức cao cũng trở thành có hại cho bản thân, xã hội.
     *Bảy: - Cố = (chiếu cố, trông nom bất cứ lúc nào). Tự cổ chí kim người mẹ lúc nào cũng xem con của mình là (con nít) – dù rằng đã có chồng vợ, con cháu đầy đàn và ra ở riêng. Gặp mặt lại con, là mẹ kêu: (Thằng Hai, Thằng Ba… Con Tư, Con Năm…). Tiếng kêu yêu thương giống y như những ngày còn sống chung dưới một mái nhà thời còn bé.
     *Tám: - Phục = (xem bản tính, tính nết.). Tính tình của mỗi đứa con đều khác nhau chứ không hề giống, bản tính rất khó nhận ra. Nhưng người mẹ thì nhận ra tính tình mỗi đứa con rất dễ, bởi người mẹ biết mỗi đứa con yêu cầu (làm nũng) điều gì, muốn cái gì? Đứa nào nóng tính, ưa gây lộn, đứa nào ít nói. Từ đó người mẹ biết mà uốn nắn.
     *Chín: – Phúc = (không để con rách rưới, đói lạnh.). Người mẹ nào cũng nói “Đi làm kiếm gạo tiền nuôi con”. Người mẹ chỉ biết nuôi con, nhịn cơm cho con ăn. Theo Hán Tự. Phúc là no (bụng).

     Ngó về quê mẹ! Ôi! Chữ “ngó”, sao buồn bã ảm đảm thê lương…! Tại sao không “đứng trông” về quê mẹ mà lại ngó? Ngó đây là (lén ra ngõ sau mà ngó) chứ không dám ra trước nhà vì sợ chồng, sợ gia đình chồng, - khoảng thời gian quá ít, rất ngắn - chỉ liếc mắt về phương trời cũ cho đỡ nhớ rồi trở về với hiện tại; trở về với hiện thực của cuộc sống gia đình, của công việc hằng ngày... Còn “trông” là có một khoảng thời gian nhất định (đứng trông), để hồi tưởng lại thuở còn bé sống cùng cha mẹ anh chị em và trong tâm lòng (dường như mơ hồ) - sẽ trở về thăm cha mẹ.

     Người con gái (nông thôn) còn trẻ, lần đầu xa nhà về sống bên nhà chồng thời ở một xa xưa; thời phong kiến lễ nghi ràng buộc chung quanh người phụ nữ, do đó chỉ dám chiều chiều (là ngày nào cũng ra ngõ sau len lén ngó), - chớ không dám đứng trông thoải mái mỗi ngày vì biết phận con gái một khi đã đi lấy chồng thì coi như “đứt dây nôi”. Đứng trông hoài, – nỗi buồn càng hiện rõ lên khuôn mặt thì nhà chồng ắt biết, họ sẽ tỏ thái độ…! Và, chính bản thân cũng không tập trung làm tròn nhiệm vụ người vợ. Người con gái chỉ âm thầm - ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều. Do đó mà người con gái ngày xưa, van nài đấng sinh thành:
     “Má ơi đừng gả con xa,
    chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu”.

     Thời đại văn minh với đủ loại phương tiện di chuyển – đường bộ, đường hàng không và thông tin liên lạc qua điện thoại, qua email…, quá dễ dàng nên người con gái dẫu lấy chống xa cũng không tới nỗi thương nhớ quay quắt. Tuy vậy, một số cô gái lấy chồng người ngoại quốc: (Đài Loan Dân Quốc, Đại Hàn Dân Quốc…) chỉ vì mong thoát cảnh nghèo cho bản thân, cho gia đình mà nhắm mắt đưa chân cầu may nơi xứ người - từ cuộc hôn nhân do người khác “dắt mối” chỉ vì tiền chứ không tình yêu. Người con gái là một món hàng mặc cho các “chú rể” dị tộc săm soi lựa chọn giống như người đi chợ lựa cá, một khi lựa xong là (chồng tiền) đặt cọc, sau đó lễ cưới diễn ra tượng trưng rồi theo về quê chồng ở bên kia bờ đại dương mà không biết quê chồng ở phố hay ở quê. Cuộc nhân duyên phó mặc cho số mệnh đẩy đưa đau khổ biết bao! Con gái có mười hai bến nước, biết bến nào mà chọn?

     Sống ở nơi phương trời xa thăm thẳm đó, người con gái cũng chỉ dám ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều, người con gái ở bất cứ thời nào, khi về nhà chồng thì vẫn nhớ cha mẹ có khác chi người con gái thời “phong kiến” xa xưa là mấy!

     Câu ca dao diễn tả tình cảm người con gái khi lìa xa nhà, lìa xa cha mẹ ruột để theo chồng mà đứt từng đoạn ruột. Mối dây tình cảm gia đình sâu nặng trong tâm hồn không bao giờ phai lạc. Và, sau nầy dù có con rồi cũng vẫn tơ tưởng về quê ngoại, sóng gió cuộc đời hay đói khổ hoặc cơm không lành canh không ngọt đều quay trở về bên ngoại để tìm nguồn an ủi vỗ về... Nơi quê ngoại, đó chính là nơi cưu mang mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì cả ở con gái, ông bà ngoại chỉ mong vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng dẫu có là ly dị hay chồng chết, muốn đi thêm bước nữa thì cứ ẵm con về giao cho ông bà ngoại để mà an tâm đi lấy chồng mới.

Ông bà xưa, nói:
      “Cháu ngoại thương dại thương dột,
     Cháu nội chẳng vội gì thương.”.

     Cháu ngoại thương dại thương dột, thương vội vàng, thương vội vã là đúng. Bởi thương cháu ngoại tức là thương con gái, ôm cháu ngoại tức là ôm con gái. Con gái dẫn con về thăm ngoại đôi ba bữa nửa tháng rồi cũng phải trở lại nhà chồng, trở về bên nhà nội. Người xưa nói “lá rụng về cội”, từ nguyên do đó mà bên nội “chẳng vội gì thương”. Bằng cái lý do bất di bất dịch truyền kiếp nên bên ngoại phải vội vàng “thương dại, thương dột.” được lúc nào hay lúc đó. Đôi khi ông bà ngoại nhớ cháu ngoại quá thì đành phải khăn gói, quà cáp tới thăm.
 
     Người xưa, cho biết “Cửu Tự Cù Lao”, thiết nghĩ đã tích lũy công lao cần cù của đấng sinh thành - chẳng những là truyền giống, nối dõi mà còn là tình yêu sâu nặng của cha mẹ dành cho con mênh mông như trời biển. Dù là con gái hay con trai cũng là con và luôn đối đãi yêu thương ngang bằng chứ không phân biệt đố kỵ như Khổng Tử, dạy: “Nhất tử viết nam, thập nữ viết vô” hoặc: "Tam niên vô tử bất thành thê.” một cách khinh miệt, hạ thấp nhân phẩm của người phụ nữ.

Tạm xài hai câu thơ để kết thúc bài văn:

     “Công cha như núi Chứa Chan,
    Nghĩa mẹ tựa suối trên ngàn chảy ra”.

Trang Y Hạ.
San Francisco.




17/1/26

KHÚC NHẠC LÒNG

 



KHÚC NHẠC LÒNG.

     Nàng Y-Hạ, gùi măng le, rau dớn
     Xôi ống tre thơm mắt biếc hương rừng.

Muội vẫn nhớ huynh dẫn đi chụp ảnh
tiệm “Mỹ-Lai, Bác-Ái” [đường] Lê-Thánh-Tôn
mưa mù mắt dựa nhau bên hiên cửa
hơi con trai, âm ấm ngập cả hồn.

Hôm lấy ảnh, buồn dâng lên muốn khóc
(hối-hận vì, từ chối đứng chụp chung)
tay run run ghi vài lời mến tặng
chân bước đi, đi giống một con khùng.

Vườn nắng ấm, Paradie thêm ấm
tàng tre vươn che kín tuổi hoa niên
hồ yên ắng tận hồn vui dậy sóng
chú bướm vàng chồn chân nụ hoa hiền.

Sương muối thấm vườn bắp non nhu nhú
muội cùng huynh trốn tìm lạc mấy năm
cánh chim én lượn lờ nơi vách núi
trời còn thương cho gặp ngắm đêm rằm.

Trại Nguyễn Huệ, huynh đờn cho muội hát
dòng Dakbla chảy ngược, chảy ngược thêm
kỷ-niệm đó kéo dài vô tâm-khảm
muội là sông cho huynh chảy êm đềm.

Cuối năm gió đẩy rung chuông Cuenot
giờ tỉnh-tâm lởn-vởn bóng hài nhi
tiền-đồn đó có khi nào huynh hiểu
tuổi hai mươi, chuyển động thật diệu-kỳ.

Luôn mơ mãi, có lần theo huynh nhậu
ngồi “phá mồi” căng bụng thở hắt ra
huynh chếnh-choáng, tỏ vài lời bỏ lửng
gái khôn lanh, muội biết tỏng rồi mà.

Vệ đường vắng, muội ngồi bán bắp nướng *
cảnh trời khuya, sương ủ bếp hết than
jacket lính huynh cởi choàng vai nhỏ
lạnh cao-nguyên, giấc ngủ có mơ-màng.

Một bữa nọ muội ghé Konkrachot
nhịp chân theo, theo từng điệu cồng chiêng
hơi thở nóng phả phía sau nhè nhẹ
quay người nhìn, là huynh - đứng như thiền.

Huynh cứ mãi chập-chờn rừng với núi
mùi ka-ki còn đọng khóe mắt nai
tới rồi đi, ví như cơn gió thoảng
có và không, muội trút hết lòng này.

Thỉnh thoảng ghé Hàng-Keo ngồi đợi đợi
xoay ly sâm bổ lượng ngó xa-xăm
trời đãi nắng tâm can mờ ảm-đạm
lá keo rơi theo thế-sự thăng-trầm.

Thanh-Bình rạp, bỏ lâu không lui tới
kể từ khi huynh bận cẳng phương nao
ngang Nhà-Đèn, nước tràn ao rau muống
trở vô đường Tăng-Bạc-Hổ cồn-cào.

Tin chiến-sự, mỗi ngày nóng thêm nóng
rát làn da con gái, tuổi học trò
thư muội viết, kbc diệu-vợi
lá sân trường, từng chiếc lá co-ro.

Mùa lãng mạn vệ đường nâng quỳ đẹp
màu kiêu-sa, huynh chiều chuộng hay không
loài hoa dại chẳng vì ai mà nở
nở vì tình huynh muội đã chất chồng.

Trang Y Hạ.
KonTum “Mùa hè Đỏ Lửa”, 1972.

Cước chú:
* Cô gái bán bắp nướng trên đường Phan Thanh Giản.

Đường Phan Thanh Giản KonTum.


Hai hàng phượng, đứng im cau mày ngẫm,
Trường Teresa, tà áo vẫn còn bay.
Dakbla chảy ngược dòng qua hồn thấm,
Bậu nơi đâu, sương núi ướt lòng nầy.


Trang Y Hạ.