Thư viện

21/2/26

CHỮ MÌNH &CHỮ TÔI.

 



CHỮ MÌNH & CHỮ TÔI.

      “Mình ơi tôi gọi là nhà,
     Nhà ơi tôi gọi mình là nhà tôi.”. (Bùi Giáng).

     Một nữ thi hào gởi cho tôi bài thơ và nói: “Mình mới làm xong bài thơ, bạn mình đọc rồi cho mình biết ý kiến nha!”. Tôi trả lời rằng: “Cô thi sĩ ơi! Tôi với cô nào có phải là tình vợ chồng thắm thiết chi mô mà cô xưng hô (mình) với tôi ngọt như mía lùi vậy hử…?”.

     Trong bài viết nầy tôi không cần phải giải thích, phân tích gì thêm về “chữ mình” trong cách xưng hô như thế nào nữa, bởi vì tự xưa nay ai cũng biết chữ mình - đại từ xưng hô thân mật giữa hai người (nam, nữ), mà phần nhiều là ở trong tình vợ chồng. Theo: Hán Nôm: Chữ mình(𠵴, 𨉟) là một cách xưng hô âu yếm, tự thân nó đã nói lên sự yêu thương, sự chung tình tuyệt đối gần như bất di bất dịch - ranh giới đó không thể tan rã ra như sương buổi sáng. Và, cũng có thể nói đó là sự khẳng định (luật bất thành văn) không một ai chen ngang qua lằn ranh đó. Chữ mình trong sâu thẳm là một sự cô độc, cô độc giữa đằm thắm, diệu vợi, hy vọng nhưng lại ẩn giấu tự trong bản thân. Từ đó, một khi cất tiếng gọi “mình ơi” là màn sương cô đơn biến mất, một hơi nắng ấm tràn về từ cái nhìn, từ tay trong tay, từ cái nghiêng đầu dựa vào vai nhau - giây phút nồng ấm là một sự hồi sinh, sự rung động mãnh liệt của cả hai thực thể… - đó là hạnh phúc; đó là che chở.

     Tiếng gọi Mình ơi không thảng thốt giục giã; không ồn ào giống tiếng búa bổ đinh tai nhức óc mà tiếng của tâm lòng; của tình thương yêu vô cùng dịu êm thánh thiện. Tiếng gọi mình ơi kèm theo từng ánh mắt nặng trĩu ân tình; từng cử chỉ trân trọng, bày tỏ…, không gian lúc bấy giờ chỉ còn là nhịp đập của hai trái tim.

     Theo: Hán Nôm, nếu như viết chữ "một" () kèm theo thì sẽ thành ra chỉ có “một mình”, có nghĩa là “chìm mất, lặn mất (mặt trời).”. “Từ khước thiên biên nguyệt, một nhân tri”. (Ngoại trừ bóng trăng trên trời, không ai biết) - lúc đã một mình thì sự cam chịu ẩn kín trong lòng nỗi cô đơn, nỗi cô độc - đó chính là dịu dàng là tha nhân, tất cả biến thành im lặng - chẳng có một ai để đối thoại với người nơi xa xôi, với người ở phía “hằng hữu”. Lúc nầy chỉ có (cảm) chứ không thể (nhận), - không nhận không có nghĩa vô tình, mà “tình trong như đã…”. Tuy vậy, “một mình” tự vấn nghe ra có vẻ đơn độc, song le nếu hiểu thấu ra không phải là không có ai bên cạnh - mà “đã có” một ai đang chờ, họ có đầy đủ, hoàn hảo, kiên nhẫn chờ…! Thăm thẳm sâu trong “một mình” sẽ “liễu nhiên ư tâm”. (sáng tỏ trong lòng) những điều kỳ vĩ từ vũ trụ bao la không có nghĩa là sẽ không gặp lại – một chu trình khép kín sẽ từ từ mở ra.

     Chữ “mình” thiêng liêng, trìu mến, hạnh phúc đã đi vào ca dao chứa đầy sự tha thứ, sự bao dung đùm bọc lẫn nhau bằng một tình yêu sâu đậm vô điều kiện, chứ không phải lòng trắc ẩn thương hại.

     “Mình nói với ta mình hãy còn son,
    Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
    Con mình những trấu cùng tro,
    Ta đi xách nước rửa cho con mình.”. (Ca Dao).

    Hoặc lo lắng, hụt hẫng chẳng biết nhớ cái gì cho phải, lúc bịn rịn ra về mà đành hỏi bâng quơ, hỏi cho có hỏi:

     Mình về có nhớ ta chăng,
      Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.”.

     Không nhớ cái gì cho (đáng nhớ), lại đi nhớ hàm răng làm chi không biết nữa...!?

     Hoặc Thúy Kiều khóc trước mả Đạm Tiên – khóc cho một người con gái đã chết từ xa xôi diệu vợi chưa hề một lần diện kiến.

       “Khóc than khôn xiết sự tình,
     Khéo vô duyên bấy là mình với ta!” (Kiều)

     Định mệnh hay số phận tự xưa cho tới hôm nay không bao giờ chịu đứng yên một chỗ. Duy chỉ có tình vợ chồng là sắt cầm hòa minh được nâng lên “Đạo Vợ Chồng”, giữ được trọn đạo vợ chồng là coi như hoàn thiện một kiếp nhân sinh phù hợp với trời đất. Và, một khi đã thấy được số mệnh thì đừng có bận tâm cho đường về.

     Tuy vậy, hiện nay nhiều người hiểu sai ý nghĩa chữ “mình” và viết sai chữ mình trong thơ văn cũng như khi đối thoại... Tôi đọc nhiều bài thơ, bài văn thấy các tác giả lấy chữ “mình” để diễn tả nội tâm, trò chuyện thân mật nơi chốn đông người, nơi diễn đàn văn thơ rất bình thường như chồng vợ yêu thương thỏ thẻ với nhau. Ví dụ, những câu thường thấy trong văn chương, như: “Hôm nay mình đi dự hội nghị…”; “Ngày mai mình có hẹn…”; “Mình sẽ đi du lịch”; “Mình đang viết hồi ký.”…

     Biết rằng, chữ “mình” nếu là “Danh Từ” thì: Mình là bộ phận cơ thể của người, của động vật (không kể đầu chân tay.). “Để mình trần.”, “Đau mình nhức mẩy.”, “Gieo mình xuống sông.”. Cá nhân, thì: “Sống cho hết mình.”, “Một thân một mình.”. Bộ phận tạo ra hình dạng: “Con thuyền đắm mình trong mưa to gió lớn.”, “Con cá dày mình.”. Còn “Đại Từ: (khẩu ngữ) gọi chung lại một cách thân thiết: “Bạn đi với mình.” “Bọn mình học chung trường.”. Mình ba đứa hôm nay gặp nhau nâng ly cà phê ngát mùi hương ngọt ngào. Chiều thu về gió lạnh đìu hiu thấy tâm tư dạt dào thấy buồn buồn làm sao…”. Nhạc phẩm (Ly Cà Phê Cuối Cùng). Dùng để chỉ cho bản thân, thì: “Lúc nào cũng nghĩ cho riêng mình.”, “Mình làm mình chịu còn trách cho ai.”.

Tại Sao Ngày Nay Bỏ Hẳn Chữ “TÔI”...?!

     “ Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng
     Thương về con nước ngại ngùng xuôi
     Những người em nhỏ bên kia ấy
     Ai biết chiều nay có nhớ tôi.”.
                              Trích thơ: (Hoàng Trúc Ly).
Hoặc:

    “Tôi trở lại căn nhà xưa đổ nát
      Tìm mồ chôn tình sa-mạc hoang-vu
      Kỷ-niệm nào tan theo vùng ảo-giác
      Tôi đứng bâng-khuâng vuốt mắt sương mù.”.
                                    Trích thơ: (Trang Y Hạ.).

     Ngày nay chữ “TÔI” biến mất trong văn chương, trong giao tiếp hằng ngày kể cả trong hành chánh, công sở… Tất cả đều xưng “Anh, Em” mỗi khi gặp cấp trên với vẻ khúm núm... Đáng lo ngại hơn là xử dụng chữ mình một cách thiếu giáo dục, thậm chí có thể nói là “mất dạy”. Mỗi khi tới nhà người khác thì nói trống không, nói không chủ ngữ, như: “Chào cả nhà.”, “Chào mọi người.”, “Mời mọi người.”, “Mời cả nhà.”, “Mình chào mọi người.”; “Mình chào cả nhà.”. Hoặc “Mọi người có đọc thơ, văn của mình viết không?” Chào hỏi, chào mời nói năng kiểu cá mè một lứa không cần biết rằng ở trong nhà còn có: - người già, người trẻ, người lớn, người trí thức, người công chức, người tu hành... Tất cả những câu chào giao tiếp đó đều là vô phép tắc, thiếu sự giáo dục căn bản.

     Những người kém học thức, mất nhân cách, thiếu tự trọng thì có thể bỏ qua, nhưng người trí thức; người có bằng cấp và các vị: Thi sĩ, Văn sĩ, Ký giả…, viết trong “văn chương, thi phú, báo chí” - thì những chữ “kém văn hóa” đó - thiết nghĩ là không thể chấp nhận được. Thậm chí là làm hư hỏng tiếng Việt.

     Ngày xưa, dưới mái trường miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), học sinh được dạy “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” – qua môn “Công Dân Giáo Dục & Môn Đạo Đức”. Ví dụ: Đi ra đường gặp người lớn phải cúi đầu chào, gặp đám tang đi qua phải đứng lại dở nón cúi đầu… Đi thưa, về dạ - xưng hô lễ phép, ví dụ: Kính thưa quí vị..., Kính chào quí vị..., Kính chào quí ông bà anh chị em... Kính mời quí vị... Kính mời bà ông bà bác chú cô dì dượng cùng anh chị em… Thân mến chào bạn hữu xa gần…!

    Chữ “TÔI” (Hán Nôm) là đại danh xưng ngôi thứ nhất khẳng định ví trí vững vàng tự tin trước người đối diện dù người đối diện có cấp bậc chức vụ lớn trong xã hội cũng mặc kệ. Xưng tôi là tự xác nhận Bản Lĩnh trước sự sợ hãi cũng như nể nang... Và, nếu có bắt tay thì phải bắt một tay, mắt nhìn mắt người đối diện, đứng thẳng người - tuyệt đối không cúi gập lưng khúm núm sợ sệt. Chữ tôi khi xưng hô trước công chúng - nghĩa là xác định: - Nhân Cách, Tư Cách, lòng Tự Trọng của chính bản thân và Tự Hào, Hãnh Diện trước cộng đồng xã hội kể cả kẻ có quyền lực. Còn ở một nơi riêng tư chỉ có [hai người] hay ở trong gia đình thì muốn xưng hô cách nào thì tùy nghi...

     Chữ “MÌNH”, nghĩ theo cách nào, viết theo cách nào thì cũng chỉ quanh quẩn trong cái khung tình cảm nồng ấm rất tế nhị mà nhiều nhất là ở trong tình nghĩa vợ chồng. Còn chữ “TÔI” chữ đó mới là cái chữ hun đúc ý chí trung trực, danh dự trách nhiệm cho bản thân, cho xã hội và văn chương thi phú... Chữ tôi đem lại cho con người niềm tự hào, tự tại, khảng khái, hào sảng ngẩng cao đầu với nhân gian với trời đất. Tôi mượn mấy câu thơ trong bài “Hai sắc Hoa Ti Gôn”, để tạm dừng bài văn tại đây.

   “Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
     Một mùa thu trước rất xa xôi
     Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
     Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi.”. (TTKH).

Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).
San Francisco.


"Em Sẽ Hát". Thơ: Trang Y Hạ. (Phổ Nhạc).


LỜI GIÓ MƯA:

Đừng bao giờ khuyên răn người khác hãy quên đi quá khứ để “hòa giải, hòa hợp” hướng tới tương lai, bởi chính kinh nghiệm đau thương từ quá khứ sẽ định hình cho tương lai.”.

Đừng để bản thân cho người khác dẫn đi theo luồng dư luận mà phải dùng cái đầu suy nghĩ đặt vấn đề hầu tìm ra một phương hướng, bởi cái đúng trước mặt (có thể) là cái sai ở phía sau.”. (Trần Phước Hân).

Cảm ơn Bác sĩ văn sĩ Đào Duy An, đã cho in bài thơ trong tác phẩm của anh.



17/2/26

MÙA XUÂN Ở CỰU KIM SƠN.

 



MÙA XUÂN Ở CỰU KIM SƠN

       “Đoái thương muôn dặm tử phần,
      Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa,”! (Kiều).

Cột đèn đứng treo mảnh trăng cuối phố
con quạ vui buồn lẫn lộn bồ câu
vàng trộn đỏ, vẽ khung trời lỗ-chỗ
hơi nàng xuân âm-ấm họa mấy màu.

Đông nấn-ná xúi vài hơi gió mỏng
rủ hột mưa cành sót xuống âm-ty
cô starbucks hiền khô đâm gắt-gỏng
chắc tại vì xuân đáo chẳng có gì.

Ngày kín tiếng chở thời gian lẳng-lặng
giọt cường toan rệu-rã kiếp trùng-lai
ngón tay trỏ vẽ mặt bàn màu nắng
họa ra thêm hậu-duệ đẹp hình hài.

Và cứ vậy, mỗi mùa xuân biền-biệt
nén nhang thơm không dám đốt trong nhà
trên túi áo gia tài còn cây viết
nguệch vài dòng gởi về cõi rất xa.

Bước lững-thững lọt vô nơi phố Nhật
sợi ra-men thoang-thoảng khói Phù-Tang
đang hiện diện Sài-Gòn cớ chi mất
đang ngồi nghe nhức từng phút điêu-tàn.

Tô hoành thánh phố người Hoa nóng hổi
mắt mơ-màng vóc ngọc đẹp Tây Thi
đèn lồng đỏ rung nét xuân phơi-phới
kẻ đông vui lòng hiu hắt nhị-tỳ.

Bún bò Huế rất thèm tô mì Quảng
(người nấu cho không biết ngụ nơi mô)
phố quen lạ ngóng bóng ai lai vãng
đầu chưa ngu sao óc lại mơ hồ.

Gió từ phía Thái-Bình-Dương biếu lạnh
có gửi mùi xuân ấm tự năm nao
có giải thích rõ ràng rằng hai cảnh
ngồi trân mình cho sóng vỗ cồn-cào.

Trang Y Hạ
San Francisco.
(Khai Bút Đầu năm 2026.)

Lời Gió Mưa:

Nếu trong lòng đã có sự sợ hãi thì dù có thần thông hay tài giỏi bao nhiêu cũng trở thành vô dụng.” (Trần Phước Hân).





30/1/26

NGHĨ VỀ BỐN CHỮ “RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.

 



NGHĨ VỀ BỐN CHỮ “RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.

     Người xưa nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa”. Hoặc: “Cha mẹ sống không cho ăn, khi cha mẹ chết làm văn tế ruồi.”. Bất cứ đạo giáo nào cũng dạy thờ cha kính mẹ là “phúc đức” lớn nhất. Trong “Mười Điều Răn” của Chúa, thì điều thứ nhất là: “Thảo kính Cha Mẹ”. Từ đó, mà người xưa đã nghĩ tới bốn chữ “Cửu Tự Cù Lao” để phân tích, diễn giải các giai đoạn mà cha mẹ đã vất vả sinh con, nuôi dưỡng con nên người.

     “Chiều chiều ra đứng ngõ sau
    Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.”
Và:
     “Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều
    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.”

     Tuy vậy, nhưng lại có một nhạc sĩ lại sửa lời trong nhạc phẩm “Dân Ca”, rằng:

     “Chiều chiều chim vịt kêu chiều, bâng khuâng nhớ “BẠN” chín chiều ruột đau”. Bạn bè không sinh bạn, cũng không nuôi dưỡng bạn, thì mắc mớ chi phải nhớ bạn tới chín chiều ruột đau dữ vậy? Tình yêu trai gái cũng không tới nỗi, nhớ tới chín chiều ruột đau kia mà! Người nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, thiết nghĩ khi cầm viết để viết hãy suy tính cẩn thận đừng bao giờ - sửa lời, sửa ý các câu: Thành ngữ. Tục Ngữ. Cao dao. Bởi các câu đó tuy ngắn nhưng lại chứa đựng nhiều ý nghĩa huyền vi, triết học thâm sâu.

     Thời xưa, ông Thầy dạy rằng: “Các trò lấy văn của người khác khoảng bốn [4] chữ là phải bỏ vô dấu ngoặc kép, còn nếu biết tên tác giả thì ghi tên tác giả, - bằng không làm vậy sẽ bị phạm tội đạo văn”. Ông thầy dạy đúng, vì bốn chữ thì đã hình thành một câu thành ngữ. Ví dụ như các câu thành ngữ “ăn chắc mặc bền”; “tay làm hàm nhai”, “Dao cùn cứa thịt”... Vậy, nếu mà không bỏ vô dấu ngoặc kép là chẳng phải ăn cắp sao...?!

     Biết rằng trong đời người, từ thuở bé cho tới lúc trưởng thành và bước chân vào xã hội, dù (giàu, nghèo) đều phải có bạn bè, bạn hữu. Nhớ bạn, thương là đúng, nhưng nhớ bạn tới “chín chiều ruột đau” sao? Người xưa, nói: Bạn bè dù chơi thân thiết tới bạc đầu vẫn luôn đề phòng họ chứ không phải là chỗ dựa, là chỗ đặt niềm tin yêu mãnh liệt ở họ. Duy nhất, chỉ có cha mẹ ruột mới là nơi an toàn, nhà của cha mẹ là nhà của các con, gia sản của cha mẹ ruột là của các con. Tình thương yêu của cha mẹ dành cho con đó là tình yêu không vụ lợi, cha mẹ hy sinh cho các con cả về tinh thần, vật chất - không bao giờ tính toán thiệt hơn. Ngoài tình yêu của cha mẹ ra thì không còn một tình yêu có thể so sánh.

     Chín chiều có nghĩa là thầm nhớ tới công lao cha mẹ đã sinh ra và nuôi cho khôn lớn; cho ăn học thành tài. Từ đó, người xưa dùng “Cửu Tự Cù Lao” là chín Chữ tiêu biểu cho việc khó nhọc khi sanh con ra và nuôi nấng. Tuy vậy, cha mẹ cũng chưa bao giờ bắt các con phải trả ơn mà ngược lại cha mẹ lại còn lo cho con của con, (tức là cháu ngoại, cháu nội.).

Chín Chữ:

     *Một: - Sinh = (chín tháng cưu mang và sanh đẻ). Sinh đẻ ví như một lần chết đi sống lại. Từ đó mới có câu: “Đàn ông đi biển có đôi. Đàn bà đi biển mồ côi một mình,”.
     *Hai: - Cúc = (nâng đỡ, tận tụy, lo toan, chăm sóc yêu thương). “Cúc cung tận tụy”, đôi khi người mẹ quên hẳn bản thân dù đau ốm để lo cho con.
     *Ba: - Phủ = (vuốt ve, trìu mến, bao bọc khi trời ấm lạnh). Kỷ niệm đẹp nhất của tuổi thơ là (cái gối êm ái) khi trở về tuổi già. Mùi của mẹ còn vương vấn mãi suốt cuộc đời của con. Mẹ chính là “cây dù” che mưa, che nắng – cả nghĩa đen, nghĩa bóng.
     *Bốn: - Súc = (cho bú mớm, cho ăn uống). Khoảng thời gian con còn đang bú là khoảng thời gian người mẹ mệt mỏi nhất, khi cai sữa xong là tập cho con ăn, phải bón đút từng muỗng.
     *Năm: - Trưởng = (nuôi cho con khôn lớn.). Giai đoạn con khôn lớn cũng là lúc cha mẹ bận rộn lo toan cả vật chất, tinh thần và xã hội.
     *Sáu: - Dục = (giáo dục, dạy dỗ theo nế nếp gia phong và thuần phong mỹ tục.). Cho con học thành tài. Dạy cho con biết nhân cách làm người, làm người không nhân cách, lương thiện thì dù có học hành, có bằng cấp cao, có quyền chức cao cũng trở thành có hại cho bản thân, xã hội.
     *Bảy: - Cố = (chiếu cố, trông nom bất cứ lúc nào). Tự cổ chí kim người mẹ lúc nào cũng xem con của mình là (con nít) – dù rằng đã có chồng vợ, con cháu đầy đàn và ra ở riêng. Gặp mặt lại con, là mẹ kêu: (Thằng Hai, Thằng Ba… Con Tư, Con Năm…). Tiếng kêu yêu thương giống y như những ngày còn sống chung dưới một mái nhà thời còn bé.
     *Tám: - Phục = (xem bản tính, tính nết.). Tính tình của mỗi đứa con đều khác nhau chứ không hề giống, bản tính rất khó nhận ra. Nhưng người mẹ thì nhận ra tính tình mỗi đứa con rất dễ, bởi người mẹ biết mỗi đứa con yêu cầu (làm nũng) điều gì, muốn cái gì? Đứa nào nóng tính, ưa gây lộn, đứa nào ít nói. Từ đó người mẹ biết mà uốn nắn.
     *Chín: – Phúc = (không để con rách rưới, đói lạnh.). Người mẹ nào cũng nói “Đi làm kiếm gạo tiền nuôi con”. Người mẹ chỉ biết nuôi con, nhịn cơm cho con ăn. Theo Hán Tự. Phúc là no (bụng).

     Ngó về quê mẹ! Ôi! Chữ “ngó”, sao buồn bã ảm đảm thê lương…! Tại sao không “đứng trông” về quê mẹ mà lại ngó? Ngó đây là (lén ra ngõ sau mà ngó) chứ không dám ra trước nhà vì sợ chồng, sợ gia đình chồng, - khoảng thời gian quá ít, rất ngắn - chỉ liếc mắt về phương trời cũ cho đỡ nhớ rồi trở về với hiện tại; trở về với hiện thực của cuộc sống gia đình, của công việc hằng ngày... Còn “trông” là có một khoảng thời gian nhất định (đứng trông), để hồi tưởng lại thuở còn bé sống cùng cha mẹ anh chị em và trong tâm lòng (dường như mơ hồ) - sẽ trở về thăm cha mẹ.

     Người con gái (nông thôn) còn trẻ, lần đầu xa nhà về sống bên nhà chồng thời ở một xa xưa; thời phong kiến lễ nghi ràng buộc chung quanh người phụ nữ, do đó chỉ dám chiều chiều (là ngày nào cũng ra ngõ sau len lén ngó), - chớ không dám đứng trông thoải mái mỗi ngày vì biết phận con gái một khi đã đi lấy chồng thì coi như “đứt dây nôi”. Đứng trông hoài, – nỗi buồn càng hiện rõ lên khuôn mặt thì nhà chồng ắt biết, họ sẽ tỏ thái độ…! Và, chính bản thân cũng không tập trung làm tròn nhiệm vụ người vợ. Người con gái chỉ âm thầm - ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều. Do đó mà người con gái ngày xưa, van nài đấng sinh thành:
     “Má ơi đừng gả con xa,
    chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu”.

     Thời đại văn minh với đủ loại phương tiện di chuyển – đường bộ, đường hàng không và thông tin liên lạc qua điện thoại, qua email…, quá dễ dàng nên người con gái dẫu lấy chống xa cũng không tới nỗi thương nhớ quay quắt. Tuy vậy, một số cô gái lấy chồng người ngoại quốc: (Đài Loan Dân Quốc, Đại Hàn Dân Quốc…) chỉ vì mong thoát cảnh nghèo cho bản thân, cho gia đình mà nhắm mắt đưa chân cầu may nơi xứ người - từ cuộc hôn nhân do người khác “dắt mối” chỉ vì tiền chứ không tình yêu. Người con gái là một món hàng mặc cho các “chú rể” dị tộc săm soi lựa chọn giống như người đi chợ lựa cá, một khi lựa xong là (chồng tiền) đặt cọc, sau đó lễ cưới diễn ra tượng trưng rồi theo về quê chồng ở bên kia bờ đại dương mà không biết quê chồng ở phố hay ở quê. Cuộc nhân duyên phó mặc cho số mệnh đẩy đưa đau khổ biết bao! Con gái có mười hai bến nước, biết bến nào mà chọn?

     Sống ở nơi phương trời xa thăm thẳm đó, người con gái cũng chỉ dám ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều, người con gái ở bất cứ thời nào, khi về nhà chồng thì vẫn nhớ cha mẹ có khác chi người con gái thời “phong kiến” xa xưa là mấy!

     Câu ca dao diễn tả tình cảm người con gái khi lìa xa nhà, lìa xa cha mẹ ruột để theo chồng mà đứt từng đoạn ruột. Mối dây tình cảm gia đình sâu nặng trong tâm hồn không bao giờ phai lạc. Và, sau nầy dù có con rồi cũng vẫn tơ tưởng về quê ngoại, sóng gió cuộc đời hay đói khổ hoặc cơm không lành canh không ngọt đều quay trở về bên ngoại để tìm nguồn an ủi vỗ về... Nơi quê ngoại, đó chính là nơi cưu mang mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì cả ở con gái, ông bà ngoại chỉ mong vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng dẫu có là ly dị hay chồng chết, muốn đi thêm bước nữa thì cứ ẵm con về giao cho ông bà ngoại để mà an tâm đi lấy chồng mới.

Ông bà xưa, nói:
      “Cháu ngoại thương dại thương dột,
     Cháu nội chẳng vội gì thương.”.

     Cháu ngoại thương dại thương dột, thương vội vàng, thương vội vã là đúng. Bởi thương cháu ngoại tức là thương con gái, ôm cháu ngoại tức là ôm con gái. Con gái dẫn con về thăm ngoại đôi ba bữa nửa tháng rồi cũng phải trở lại nhà chồng, trở về bên nhà nội. Người xưa nói “lá rụng về cội”, từ nguyên do đó mà bên nội “chẳng vội gì thương”. Bằng cái lý do bất di bất dịch truyền kiếp nên bên ngoại phải vội vàng “thương dại, thương dột.” được lúc nào hay lúc đó. Đôi khi ông bà ngoại nhớ cháu ngoại quá thì đành phải khăn gói, quà cáp tới thăm.
 
     Người xưa, cho biết “Cửu Tự Cù Lao”, thiết nghĩ đã tích lũy công lao cần cù của đấng sinh thành - chẳng những là truyền giống, nối dõi mà còn là tình yêu sâu nặng của cha mẹ dành cho con mênh mông như trời biển. Dù là con gái hay con trai cũng là con và luôn đối đãi yêu thương ngang bằng chứ không phân biệt đố kỵ như Khổng Tử, dạy: “Nhất tử viết nam, thập nữ viết vô” hoặc: "Tam niên vô tử bất thành thê.” một cách khinh miệt, hạ thấp nhân phẩm của người phụ nữ.

Tạm xài hai câu thơ để kết thúc bài văn:

     “Công cha như núi Chứa Chan,
    Nghĩa mẹ tựa suối trên ngàn chảy ra”.

Trang Y Hạ.
San Francisco.




17/1/26

KHÚC NHẠC LÒNG

 



KHÚC NHẠC LÒNG.

     Nàng Y-Hạ, gùi măng le, rau dớn
     Xôi ống tre thơm mắt biếc hương rừng.

Muội vẫn nhớ huynh dẫn đi chụp ảnh
tiệm “Mỹ-Lai, Bác-Ái” [đường] Lê-Thánh-Tôn
mưa mù mắt dựa nhau bên hiên cửa
hơi con trai, âm ấm ngập cả hồn.

Hôm lấy ảnh, buồn dâng lên muốn khóc
(hối-hận vì, từ chối đứng chụp chung)
tay run run ghi vài lời mến tặng
chân bước đi, đi giống một con khùng.

Vườn nắng ấm, Paradie thêm ấm
tàng tre vươn che kín tuổi hoa niên
hồ yên ắng tận hồn vui dậy sóng
chú bướm vàng chồn chân nụ hoa hiền.

Sương muối thấm vườn bắp non nhu nhú
muội cùng huynh trốn tìm lạc mấy năm
cánh chim én lượn lờ nơi vách núi
trời còn thương cho gặp ngắm đêm rằm.

Trại Nguyễn Huệ, huynh đờn cho muội hát
dòng Dakbla chảy ngược, chảy ngược thêm
kỷ-niệm đó kéo dài vô tâm-khảm
muội là sông cho huynh chảy êm đềm.

Cuối năm gió đẩy rung chuông Cuenot
giờ tỉnh-tâm lởn-vởn bóng hài nhi
tiền-đồn đó có khi nào huynh hiểu
tuổi hai mươi, chuyển động thật diệu-kỳ.

Luôn mơ mãi, có lần theo huynh nhậu
ngồi “phá mồi” căng bụng thở hắt ra
huynh chếnh-choáng, tỏ vài lời bỏ lửng
gái khôn lanh, muội biết tỏng rồi mà.

Vệ đường vắng, muội ngồi bán bắp nướng *
cảnh trời khuya, sương ủ bếp hết than
jacket lính huynh cởi choàng vai nhỏ
lạnh cao-nguyên, giấc ngủ có mơ-màng.

Một bữa nọ muội ghé Konkrachot
nhịp chân theo, theo từng điệu cồng chiêng
hơi thở nóng phả phía sau nhè nhẹ
quay người nhìn, là huynh - đứng như thiền.

Huynh cứ mãi chập-chờn rừng với núi
mùi ka-ki còn đọng khóe mắt nai
tới rồi đi, ví như cơn gió thoảng
có và không, muội trút hết lòng này.

Thỉnh thoảng ghé Hàng-Keo ngồi đợi đợi
xoay ly sâm bổ lượng ngó xa-xăm
trời đãi nắng tâm can mờ ảm-đạm
lá keo rơi theo thế-sự thăng-trầm.

Thanh-Bình rạp, bỏ lâu không lui tới
kể từ khi huynh bận cẳng phương nao
ngang Nhà-Đèn, nước tràn ao rau muống
trở vô đường Tăng-Bạc-Hổ cồn-cào.

Tin chiến-sự, mỗi ngày nóng thêm nóng
rát làn da con gái, tuổi học trò
thư muội viết, kbc diệu-vợi
lá sân trường, từng chiếc lá co-ro.

Mùa lãng mạn vệ đường nâng quỳ đẹp
màu kiêu-sa, huynh chiều chuộng hay không
loài hoa dại chẳng vì ai mà nở
nở vì tình huynh muội đã chất chồng.

Trang Y Hạ.
KonTum “Mùa hè Đỏ Lửa”, 1972.

Cước chú:
* Cô gái bán bắp nướng trên đường Phan Thanh Giản.

Đường Phan Thanh Giản KonTum.


Hai hàng phượng, đứng im cau mày ngẫm,
Trường Teresa, tà áo vẫn còn bay.
Dakbla chảy ngược dòng qua hồn thấm,
Bậu nơi đâu, sương núi ướt lòng nầy.


Trang Y Hạ.




8/1/26

TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.

 




TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.

Kẻ Sĩ Ngày Xưa:

     Từ khi nhân loại biết dùng ký tự (chữ viết) và học hành thì chính là lúc đó đã có “kẻ sĩ”. Theo Hán Tự, chữ “SĨ” là người, (người có học vấn). Kẻ sĩ () là một danh xưng tôn kính chỉ về người có học vấn ở trong xã hội phong kiến Trung Quốc và các quốc gia phong kiến Đông, Tây. Kẻ sĩ, họ là những người có tài năng, có tri thức, có đạo đức, có trách nhiệm. Từ chỗ có học vấn uyên thâm: - họ đã cho ra đời rất nhiều công trình nghiên cứu và nhiều tác phẩm lừng danh.

     Trong trường đời, đôi khi có những người họ không lấy được bằng cấp cao, nhưng họ vẫn là kẻ sĩ. Và, một khi kẻ sĩ nhận định sai - đi sai đường phục vụ cho bạo chúa, độc tài, hoặc “Quỳ Gối” trước kẻ ác để cầu danh lợi thì cũng đem lại nhiều khổ đau cho bản thân và xã hội.

Từ lý do đó, mà người xưa nói:

     “Thiên hạ bổn vô sự, dung nhơn tự nhiễu chi.”. Tạm dịch: (Thiên hạ vốn bình yên, kẻ khờ tự khuấy động.).

     Kẻ sĩ ngày xưa đóng một vai trò rất quan trong lãnh vực giáo dục, kẻ sĩ giữ khuôn vàng thước ngọc, cân bằng về đạo đức, gia giáo, phê bình cái xấu củng cố cổ vũ cái đẹp... Bởi vậy, không một chế độ nào muốn tồn tại mà không thể không dùng kẻ sĩ. Xã hội ngày xưa rất coi trọng “kẻ sĩ”, nên có câu: “Nhất sĩ, Nhì nông”. Sống trong chế độ phong kiến và quân chủ chuyên quyền, thiên hạ luôn trông chờ một đấng Minh Vương, một vị quan Thanh Liêm, nếu xã hội suy đồi loạn lạc cướp bọc thì chỉ biết dựa vào Hiệp Sĩ. Từ nguyên do đó mà bá tánh luôn coi trọng những kẻ sĩ có tâm, kẻ sĩ có nhân cách.

     Thời chủ nghĩa cộng sản, thì “kẻ sĩ, trí thức”, đều thuộc thành phần tư sản “phản động” cần phải loại bỏ. Theo “Lenin Toàn Tập”. Bản tiếng Nga, thì:

     “Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là CỨT (говно).”. Tiến Sĩ, Nguyễn Đình Đăng. Dịch.

     Câu nói của ông Lenin cho rằng “Bộ Não Của Trí Thức Là CỨT” cũng có phần đúng, - hiểu theo cách nhìn của một lãnh tụ theo chủ thuyết “cộng sản vô thần”. Theo ngụ ý của ông Lenin, nghĩa là: (Trí thức, một khi chưa được “tẩy não” sạch sẽ để có một lòng trung thành tuyệt đối phục vụ cho đảng thì chẳng khác gì một cục cứt.).

     Thật ra, nếu tẩy não trí thức đi theo một hướng như bầy cừu thì trí thức chẳng hóa ra “hèn” hết ư...?! Tại sao không nói trắng ra rằng: - phải “biết hèn để sống” bằng không sẽ bị loại trừ? Do đó, sống dưới thời phong kiến, thời độc đảng, độc tài thì - kẻ sĩ phải tự thích nghi, thay màu như con tắc kè để làm theo “tấm bảng chỉ đường” do người ta dựng sẵn.

     Tong cuộc sống cũng có khá nhiều kẻ sĩ thích được “hèn”, bởi thích chủ thuyết hoặc mượn chủ thuyết để “mua quan bán chúc” mưu cầu hạnh phúc cho bản thân - bất kể liêm sỉ, bất kể nhân cách làm người, bất kể sự thật. Kẻ sĩ tự hạ mình thành kẻ “hèn”, thì - loại kẻ sĩ này rất nguy hiểm cho cộng đồng; cho gia đình, bạn hữu. Loại kẻ sĩ tự hèn, họ không tuân thủ bất cứ quy tắc đạo đức, trách nhiệm. Họ có thể bán đứng bất cứ thứ gì (có thể bán), - miễn đạt được mục đích, là: có quyền, có tiền nhằm vinh thân phì gia.

     Loại kẻ sĩ lầm lạc nầy, tới một lúc nào đó sẽ chợt tỉnh ngộ ra rằng bản thân “cống hiến” quá nhiều, nhưng cuối cùng cũng bị “vắt chanh bỏ vỏ”, nên đâm ra (trở mặt) để tìm về vị trí cao quý của kẻ sĩ - dù có trễ. Điển hình, như: Vũ Thư Hiên với tác phẩm “Đêm Giữa Ban Ngày”, Nhạc sĩ Tô Hải với tác phẩm “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”. Trần Đĩnh với tác phẩm “Đèn Cù”. Xuân Vũ với tác phẩm “Đường Đi Không Đến”. Và còn nhiều tác giả nữa, cũng như kẻ sĩ không chịu khom lưng cúi đầu.

Thi sĩ Trần Tế Xương cũng đã từng làm thơ chế riễu:
      “Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
      Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
      Phen này ông quyết đi buôn lọng,
      Vừa bán vừa la cũng đắt hàng."

     Thời Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam, - một nhóm trí thức (kẻ sĩ), gồm mười tám [18] người, phần nhiều họ có bằng tốt nghiệp đại học từ Pháp Quốc mà tổng thống Ngô Đình Diệm rất kính trọng, Cụ Diệm, mỗi khi gặp họ - Cụ xưng họ là “Ngài” với một tấm lòng ưu ái. Họ, là trí thức, bác sĩ, luật sư... đã được Cụ Diệm mời ra cộng tác nhưng họ chỉ cộng tác một thời gian ngắn thì đòi ly khai, ly khai bởi chính quyền không đáp ứng các yêu cầu theo “cấp tiến” của nhóm họ. Tiêu biểu: (Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Văn Đỗ, Nguyễn Lưu Viên, Linh mục Hồ Văn Vui, Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát, và nhiều người khác... ). Người đời gọi họ là “Nhóm Caravelle”.

     Thật lòng mà nói, chính nhóm Caravelle này đã tạo tiền đề cho các phe đảng, tôn giáo, tướng tá có lý do nổi lên làm phản - tạo nên cuộc “đảo chánh” năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba [1963] xóa bỏ hoàn toàn nền đệ nhất cộng hòa non trẻ dẫn tới sự sụp đổ miền Nam về tay Cộng sản Bắc Việt sau này. 

Người Hoa nói: "Quan lại mà tự do thì bá tánh sẽ khổ sở.".

     Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, một số lớn trong nhóm caravelle đó vẫn tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền. Điển hình: Thủ tướng Phan Huy Quát, ký thỏa thuận cho quân đội Hoa Kỳ đổ quân vô miền Nam năm một ngàn chín trăm sáu mười lăm [1965]) – Thời đệ nhị nhóm kẻ sĩ đó, họ cũng không làm nên chuyện gì nổi bật cho đất nước và dẫn tới ngày Bắc Việt xóa sổ miền Nam. Ngày chế độ miền Nam không còn - một số họ cũng chạy ra nước ngoài tỵ nạn, có người viết hồi ký đổ thừa cho Mỹ “phản bội” hòng chạy tội. Họ không dám quay đầu trở về với vị trí cao quý của một kẻ sĩ như thuở ban đầu. Ngoài ra ở nước ngoài, họ còn viết “Thư Ngỏ”, (Petetion) dâng lên đảng Cộng sản Việt Nam xin xỏ, như sau:

     “Thư ngỏ nêu lên Ba [3] yêu cầu chính, ngoài việc từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, nhóm nhân sĩ trí thức còn yêu cầu Hà Nội ngăn chận mưu đồ bành trướng của Trung Quốc, thoát khỏi sự lệ thuộc của Bắc Kinh về cả kinh tế lẫn chính trị và xã hội, đồng thời sửa đổi Hiến Pháp, thực hiện các quyền tự do dân chủ của người dân, xây dựng kỷ cương xã hội, sửa đổi luật đất đai.”. (Theo: VOA).

     Vậy mới rõ rằng trí thức (kẻ sĩ), của người quốc gia vốn thơ ngây, mơ hồ... - không hiểu một chút gì về bản chất của “chủ thuyết cộng sản” toàn trị. Họ, trước kia đã có một đất nước tự do; một thời phục vụ chính quyền (Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa), do dân bầu - hợp pháp, hợp hiến, hợp công pháp quốc tế. Đã có tự do, Đã có tư hữu, Đã có nhân quyền, Đã có tự do báo chí… Nhưng tiếc thay không biết quý trọng, giữ gìn! Bây giờ thân bại danh liệt tỵ nạn nơi xứ người - lại ngồi viết thư xin đảng Cộng sản Việt Nam các thứ, - đi xin những thứ mà Cộng sản Việt Nam không bao giờ có để mà cho - đi xin những thứ mà không thuộc về mình.

     Trong xã hội phong kiến vua chúa và quân chủ chuyên chế, thì chuyện học hành chỉ mong ra làm quan. May mắn, đậu Trạng Nguyên thì vinh quy bái tổ về làng, đồng thời được nhà vua trọng dụng, thậm chí gả công chúa làm vợ. Ngày xưa, một khi thi đậu “Trạng nguyên, Bãng nhỡn, Thám hoa, Cử nhơn, Tú tài”, tấm bằng đó là một gia sản của cả cuộc đời, - dù không ra làm quan cũng trở thành ông thầy giáo được người đời tôn vinh, kính nể, được ăn trên ngồi trước.

     Từ cái mộng làm quan, cộng với công lao, tiền của của cha mẹ lo cho ăn học - công ơn cao quý đó đã làm cho người “kẻ sĩ” co mình trong cái ơn nghĩa phải báo đáp - cho nên hầu hết kẻ sĩ thụ động, không dám dấn thân mà chỉ trông chờ một “đấng minh vương” nào đó gầy dựng cơ đồ là theo phò tá - tận trung, ngu trung tới suốt đời. Kẻ sĩ thuở xưa, nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”. Nghĩ là: (Thiên hạ có đạo thì mới ra làm quan).

     Và, kẻ sĩ ngày xưa, cũng nói: “Đại ẩn tại triều, trung ẩn tại thị, tiểu ẩn tại sơn”. Nghĩa là: Đại ẩn tại triều: Người ở ẩn khôn ngoan, mưu sâu là ẩn giữa chốn quan trường để chờ dịp mà hành động. Ví dụ, như: Tư Mã Ý, ẩn thân làm quan cho Tào Tháo, nhưng giấu kỹ mưu đồ soán ngôi. Tào Tháo dù biết nhưng không bằng chứng nên đành chịu và hậu quả là Tư Mã Ý tiêu diệt dòng họ nhà Tào. Hồ Quý Ly vốn người đất Mân (Phúc Kiến) phò nhà Trần cũng tương tự như Tư Mã Ý, - soán ngôi nhà Trần lập nên nước (Đại Ngu). Kẻ sĩ có lòng phản trắc như Tư Mã Ý, Hồ Quý Ly, Tần Cối... - đáo cuộc bản thân, gia đình đều bị tiêu vong và để tiếng xấu cho hậu thế. Trung ẩn tại thị, là người sống ẩn cư giữa chợ, nhìn thế cuộc cầu may, Ví dụ: Bách Lý Hề, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm... Tiểu ẩn, là người chạy vô trong rừng sâu để sống. Ví dụ, như: Khổng Minh, Hứa Do, Sào Phủ, Khương Tử Nha, Y Doãn... Họ trốn vô rừng, vô ruộng rẫy, sông suối ở ẩn để chờ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, mới ló đầu ra đi tìm chức quan hoặc nằm mong một ai đó, mời mọc, năn nỉ ỉ ôi, mới chịu ra giúp…

     Có một điều đáng nói là các kẻ sĩ đi tìm Minh Vương để phò tá, hoặc được đích thân các Minh Vương mời ra làm quan, làm quân sự, - tới khi các đấng (minh vương) đó đã hoàn tất việc chinh chiến tranh giành và nắm quyền hành tuyệt đối trở thành Hoàng Đế, Vua Chúa thì kẻ sĩ như: “cá nằm trên thớt.”. (Kẻ được phong chức, kẻ bị tru di tam tộc, kẻ bị cho ngồi chơi xơi nước, kẻ bị đày đi tù đày, kẻ mất chức về quê đuổi gà cho vợ). Từ xưa, chỉ có hai công thần “kẻ sĩ”, thoát khỏi tai ương đó. Một là: Trương Lương, sau thời gian âm thầm giúp Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán xong, ông không chờ nhận chức tước mà xin cáo lui về quê với lý do - tụng kinh “Huỳnh Đình”. Hai là: Phạm lãi, sau khi đã giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô Phù Sai, ông cũng lặng lẽ rút lui cùng với Tây Thi ngao du nơi Động Đình Hồ.

     Số phận thăng trầm của kẻ sĩ cũng bởi vì mộng công hầu mà phải gánh tai ương; chịu vạ sát thân - chứ không như “tu sĩ. Tu sĩ “Nhãn quán hình sắc nội vô hữu, Nhĩ thính trần sự tâm bất tri.”. Tạm dịch: (Mắt nhìn hình sắc, lòng không động, Tai vẳng chuyện đời, dạ chẳng hay.).

Vua, Không Xuất Thân Từ Kẻ Sĩ:

     Từ xưa, người lập nên nghiệp bá, đế vương phần nhiều không xuất thân từ “kẻ sĩ”. Nhưng được nhiều kẻ sĩ chạy theo phò tá rất đông. Tuy họ chỉ là người bình thường, có khi là rất bình thường. Điển hình như:

     - Lưu Bang là một trong vài người sáng lập triều đại Nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc, xuất thân từ tầng lớp nông dân chứ không phải là kẻ sĩ. Lưu Bang chỉ là một “Đình Trưởng” nhỏ bé.

     - Chu Nguyên Chương, dựng nên Nhà Minh xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, phải đi giữ dê bò cho địa chủ. Thiên tai, dịch bệnh, hạn hán nên cha mẹ, các anh chị của ông đều nối tiếp nhau chết đói. Ông tới chùa Hoàng Giác làm thầy tu, đi khất thực ba năm, trải qua quá nhiều gian khổ.

     - Thành cát Tư Hãn. Ông lớn lên trong cảnh nghèo khó nơi sa mạc với các bộ tộc và bị ruồng bỏ sau khi cha của ông chết sớm, ông lang thang trong cảnh túng thiếu nên buộc phải chiến đấu để sinh tồn. Cuối cùng thống nhất được các bộ lạc Mông Cổ. Từ đó ông được tôn làm Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206, trở thành người sáng lập Đế quốc Mông Cổ.

     - Hoàng Đế Toyotomi Hideyoshi ở Nhật Bản, người thống nhất đất nước và Hoàng đế Basil I của Đế quốc Byzantine, họ cũng xuất thân từng tầng lớp thấp.

     - Nhà Vua Trần. Họ Trần, tổ tiên của nhà vua là người đất Mân, Phúc Kiến (Trung Quốc) di cư tới Tức Mặc, phủ Thiên Trường, đời đời làm nghề đánh cá. Đặt tên cũng đặt bằng tên của các loài cá. Ông Trần Thủ Độ cũng đâu có biết nhiều chữ nghĩa, nhưng ông lại là công thần hàng đầu dựng nên nhà Trần.
     - Lý Công Uẩn, dựng nên Nhà Lý (chú tiểu ở chùa). Theo sách: “Mộng Kê Bút Đàm” của (Thẩm-Hoạt) đời Tống thì Lý-Công-Uẩn vốn gốc là người Mân (Phúc-Kiến). Và, Tiến sĩ Từ-Bá-Tường, người Quảng-Tây, nhà Tống. Nội dung trong thư gửi cho Công Uẩn cũng nói: “Tiên thế đại vương vốn là người đất Mân. Tôi nghe nói công khanh ở Giao Chỉ cũng có nhiều người đất Mân.”.

     Còn nhiều người xây dựng cơ đồ hay lập nên nghiệp vương, nghiệp bá mà họ không là “kẻ sĩ”. Tuy rằng các bậc khai cơ, khai nghiệp lớn đó không học vấn cao thâm, thậm chí rất ít học nhưng họ có cặp mắt “thần”. Họ, - nhận biết người tài. Họ hiểu người tài. Họ biết trọng dụng người tài. Họ biết đãi ngộ người tài… Và, đặc biệt là có niềm tin mãnh liệt cũng như tầm nhìn bao quát tình hình thế sự... Người xưa nói, họ có “Chân Mạng Thiên Tử”. Người có chân mạng thiên tử ắt sẽ có nhiều bậc trí sĩ ẩn cư tìm gặp, mang tài cán ra giúp đỡ làm nên nghiệp đế vương.

     Thiên hạ từ xưa đã tự hỏi - “Tại sao kẻ sĩ có học vấn, có tri thức và bằng cấp mà không tự đứng ra lập vương, lập đế?”. Có nhiều nguyên do, nhưng tựu trung chỉ có hai nguyên do chánh:

Thứ Nhất:
Ngày xưa, người đi học, học theo lối mòn từ một khuôn nắn ra. Đó là chỉ biết “văn hay, chữ đẹp”!. Sĩ tử quanh đi quẩn lại chỉ học sách của các bậc đi trước, soạn sẵn, - một thứ “Kinh Sách” cố định một chiều truyền từ đời này sang đời khác, cứ vậy mà học theo lối mòn chứ không “cải cách” hay “khai phóng”. Không dạy cách nhìn thực tiễn sâu rộng ra ở bên ngoài xã hội và tranh luận, suy luận để tìm tòi. Và hơn hết là sợ “thay đổi”. Đầu óc thủ cựu đó thấm sâu vào não bộ, truyền lại các thế sau như một “mệnh lệnh” vô hình ràng rịt tới mê muội.

Thứ Nhì:
     Học là để làm quan, báo ơn vua, báo ơn cha mẹ dòng tộc... Hơn nữa là chốn quan trường chẳng khác gì chiến trường phải cạnh tranh khốc liệt để giữ mạng sống, giữ địa vị nên không còn thời gian lo nghĩ chuyện cao xa. Ngại dấn thân, bởi sợ thất bại, sợ bị vu khống tù tội... Trong não kẻ sĩ chỉ biết vâng lệnh, không dám mạnh dạn nêu ra ý kiến và đặt vấn đề tranh luận đúng sai. Từ lý do đó mà hầu hết kẻ sĩ e dè không dám phiêu lưu.

Kẻ Sĩ Hiện Nay:

     Kẻ sĩ ngày xưa thì đã rõ ràng, còn kẻ sĩ hiện nay thì khái niệm kẻ sĩ có vẻ mơ hồ và càng mơ hồ hơn. Tại sao gọi là “mơ hồ”? Bởi kẻ sĩ thời nay không nhằm phục vụ cho một thế lực nào cố định hay một lãnh vực nào cố định. Kẻ sĩ ngày nay, họ có toàn quyền lựa chọn nghành nghề; họ có quyền nêu ra vấn đề “đúng, sai”. Họ có quyền xin thôi việc nếu bị chèn ép. Họ cũng không bị áp lực phải trả ơn. Kẻ sĩ ngày nay đa dạng và tự do tranh luận công khai. Họ không bị gò ép phải đi theo một hướng. Thời đại văn minh, kỹ nghệ, nên cuộc sống hầu như vội vã, suy nghĩ cũng thực tế, thực dụng. Tất cả đều lo tìm tòi để theo kịp đà phát triển của khoa học.

     Tuy vậy, kẻ sĩ sống dưới chế độ độc tài thì họ vẫn là công cụ cho người khác sai khiến để phục vụ cho một nhóm, một đảng phái. Do đó, họ cũng phải (biết hèn) để tồn tại, cái hèn thời cuộc buộc phải hèn, nhưng trong số kẻ sĩ không cam tâm hèn – để cúi đầu khuất phục làm tôi mọi suốt đời mà họ vùng dậy đấu tranh. Kẻ sĩ thời nay họ cũng biết “sai lầm”, dẫn tới nguy hiểm cho bản thân, - cũng may là ở thời buổi bùng nổ truyền thông, báo chí... - kẻ sĩ có chỗ tranh luận bày tỏ chính kiến. Chính điều này mà đã làm cho nhà cầm quyền độc tài e ngại, rồi từ e ngại không kiểm soát nổi, nên đàn áp, bỏ tù. Điển hình: Vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” là một bằng chứng.

     Kẻ sĩ ở trong “Nhân Văn Giai Phẩm” dù là nạn nhân nhưng họ không “hèn”. Họ chịu bản án bất công và chịu tù đày nhiều năm. Điển hình, như: Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Hữu Loan, Bùi Xuân Phái, Lê Đạt, Nguyễn Bính, Nguyễn Mạnh Tường, Văn Cao, Đào Duy Anh, Yến Lan, Trần Đức Thảo… Và còn một số tên tuổi khác nữa. Đặc biệt là có nữ văn sĩ Thụy An. Ngược lại, có nhiều “kẻ sĩ” cùng thời lại vì sợ liên lụy tới bản thân gia đình mà bị khuất phục đầu hàng trước cường quyền để rồi cam tâm làm “đầy tớ trung thành” thậm chí còn quay lại làm chứng gian tố cáo, vu khống bạn hữu thân thiết đã một thời cùng cộng tác với nhau trên các văn đàn. Đã như vậy rồi lại còn viết ra các tác phẩm (thơ, văn) phục vụ cho chủ thuyết độc tài ngoại lai mà không nhớ câu của người xưa nói: “Văn Dĩ Tải Đạo”.

     Với, biết bao oan ức tới nỗi Nguyễn Hữu Đang phải thốt lên, Câu đối:
     - “Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
     - Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế, quý cuộc đời Nguyễn Trãi, Trương Lương. (Nguyễn Hữu Đang)

     Và, một Phùng Quán muốn “làm người chân thật”, nhưng quá khó. Ông viết bài thơ:

Lời Mẹ Dặn.

     “Người làm xiếc đi dây rất khó
       Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
       Đi trọn đời trên con đường chân thật.
       Yêu ai cứ bảo là yêu
       Ghét ai cứ bảo là ghét
       Dù ai ngon ngọt nuông chiều
       Cũng không nói yêu thành ghét
       Dù ai cầm dao doạ giết
       Cũng không nói ghét thành yêu.

                               Trích thơ: (Phùng Quán)

     Tiêu chí, mục đích của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đơn giản chỉ là đòi “cởi trói” cho văn nghệ sĩ tự do sáng tác văn chương thi phú; cởi trói cho nền văn học được khai phóng. Nhóm chỉ vì hai chự “Tự Do” mà bị tù đày.

     Câu nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”, của kẻ sĩ ngày xưa vẫn còn có ý nghĩa và “hữu dụng” cho tới tận ngày nay. Tại sao phải nói “hữu dụng”? Bởi kẻ sĩ hiện nay khôn ngoan và thuận lợi hơn kẻ sĩ thời phong kiến. Họ không cần “đấng minh vương”, cũng không hẳn cúi đầu lâu dài phục vụ cho bọn “độc tài, độc đảng”, họ biết thức thời để kiếm ăn, làm giàu rồi tìm đường rút lui. Nghĩa là kẻ sĩ hiện nay vẫn còn núp bóng “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”, với một hình thức mới, hình thức tinh vi hơn với nhiều biến tướng và che giấu kỹ lưỡng.

     Kẻ sĩ thời phong kiến, bị gò ép vào quá mức vào đạo đức, truyền thống gia đình, xã hội và trung thành với vua chúa nên không dám đòi hỏi quyền lợi quá đáng. Ngược lại, kẻ sĩ thời bây giờ, họ cũng nhìn thế sự thăng trầm ra sao rồi mới “tham chính”. Một khi đã tham chính thì, - lại so kè, chạy vạy tìm đủ mọi cách để được tiến chức; thăng quan thu được quyền lợi nhiều hơn, nếu không đáp ứng đầy đủ thì quay ra “phản phé” thoát ly, chạy trốn, lập phe nhóm riêng.

     Ngày nay các môn học đa dạng, kẻ sĩ hiện nay bằng cấp nhiều hơn, mỗi người có năm bảy cái bằng tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhơn là chuyện bình thường. Tuy bằng cấp có nhiều, còn tài năng thục học thì có khi theo không kịp cái bằng, đôi khi bằng cấp lại là “bằng mua, bằng giả” để hợp thức hóa một chức vụ, một cấp bậc nào đó... Một xã hội suy đồi tha hóa đạo đức thì kẽ sĩ - dù có trốn nơi trốn triều trung, có trốn giữa chợ, có trốn vô rừng sâu, thiết nghĩ cũng đều giống như nhau. Thôi, tốt hơn hết là đối mặt mà ngẫm câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”. Biết đây là biết thời, biết thế và rồi kẻ sĩ lại chờ một “Đấng Minh Vương” mới để phò tá. Nhưng khổ thay, cái đấng minh vương tự cổ chí kim chỉ có đếm trên đầu ngón tay.

     Nhìn chung, (kẻ sĩ hay hèn sĩ) khoảng cách chỉ là giao thoa mỏng manh của lý trí trước biến thiên phức tạp bí ẩn của thời cuộc cũng như thực dụng và lý tưởng. Biết vậy, nếu có tâm lòng ngay thẳng; có sự thông minh nhạy bén thì có thể đi đúng hướng, để lại công trạng. Thời buổi khoa học hiện nay hèn với không hèn cũng chẳng qua chỉ còn là một khái niệm mơ hồ khó định hình trừ phi có ai đó tự nói ra.

     Thi sĩ Nguyễn Du cũng đã từng báo trước:
    “Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong.”.

     Dù gì, thì kẻ sĩ (hiện nay) vẫn là kẻ sĩ; kẻ sĩ vẫn có ích cho đời. Các chế độ độc tài, độc đảng mới e sợ kẻ sĩ có nhân cách, có đạo đức, có thực tài - những kẻ sĩ đó rất khó thuyết phục và khuất phục.

Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).


Quán Ven Đường Ngày Xưa.


25/12/25

MƯA GIÁNG SINH

 


MƯA GIÁNG SINH


     “Ngâm nga mong gửi chữ tình
      Dường này âu hẳn tài lành trượng phu!"
               (Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Ngày chậm rãi lăng qua khung trời cũ
nhìn kỹ ra thượng-đế tuổi đã già
sờ nút áo, chỉ sứt còn phân nửa
lảng-vảng đầu hình bóng áo bà ba.

Ngã tư ngắm, mắt mòn gần một kỷ
cột đèn run lập-cập tiễn xe hơi
ngồi xe đẹp biết có ai thầm-thỉ
đứng chồn chân trông đợi, tới đã đời.

Mây thích kéo âm-binh loài quân giặc
giọt rơi vui, lẫn lộn giọt buồn gieo
nhớ bậu ẵm chiếc bóng mờ hiu-hắt
không mơ giàu, thôi ráng giữ kiếp nghèo.

Quán thanh vắng, ngắm nghía cô starbucks
thèm nụ hôn nồng ấm của năm nao
đường phố rộng, nẻo về chật thêm chật
thương người thương sống chết dạ cồn cào.

Cầm điện thoại, ngập-ngừng đành bỏ xuống
chờ chuông reo ai đó ngụ tứ phương
mong, giác-ngộ-hữu-tình thêm luống-cuống
nại-lão-hà, khai-thị diện vô-thường.

Ngồi một chỗ, ngắm mưa mù bận cẳng
lội cao nguyên, núi thẳm khói sương vây
lô-cốt đứng, thú tỉ-tê xa vắng
chim hỏi thăm, vì sao đậu đất nầy.

Ngồi một chỗ, nghe man-man-trường-dạ
mùi súng gươm phảng phất ngấm châu thân
mùi áo lính, mùi giày, mùi đất lạ
mùi thư tình, mùi bồ kết ân cần.

Ngã tư ngắm, lần hồi ra ngã bảy
sông hậu tiền nhuốm căn bệnh tương-tư
đò ngang dọc bến neo nào đâu thấy
cõng hai mùa, mưa nắng mệt đứ đừ.

Ghế hiểu chuyện, ghế tỏa ra hơi ấm
bàn lạnh tanh tỳ tay tưởng nỗi xưa
hiên mưa trước, hơi nhau còn âm ấm
nghĩ huyên-thuyên kể ra cũng chưa thừa.

Mưa rỉ-rắc, gió hắt tường kiếng ẩm
có phân-vân, bốn ngả hóa lưỡng-đồ
nhị lộ hướng, chẳng lẽ làm tính nhẫm
lau mắt cô starbucks dõi hư-vô.

Đã dạo hết, nửa đời tầm tri-kỷ
nơi đâu là, diện-kiến nối tri-âm
bài thơ gói bằng ngàn lời hoa-mỹ
gởi thinh không, gửi vô chốn âm-thầm.

Thánh-đường vọng, hồi chuông già nức-nở
giáng-sinh mùa, giọt ướt thấm hài nhi
nhân-gian đó - dẫu có là: lầm, lỡ
lòng tin yêu, chẳng vương-vấn chuyện gì.


Trang Y Hạ.





THƠ TÌNH THỜI LY LOẠN (Phổ Nhạc).

 

"Chết đuối thông thường là người biết bơi".



ĐÓN XUÂN TRONG TÙ (Phổ Nhạc).

 


"Giang hồ hỏi đường không hỏi lòng"



22/12/25

Nghe Lời Bậu (Phổ Nhạc).

 


"Tiếc thay nước đã đánh phèn, 

   Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!" (Kiều)


17/12/25

NỬA ĐÊM NGÓ RA VƯỜN.

 



NỬA ĐÊM NGÓ RA VƯỜN

      “Vạn lý tình không, tuyệt vân cảnh,
     Mãn đàm trừng thủy hiển nguyệt minh.”

Nửa đêm lạnh trở người qua đông-chí
sương ngủ mê chẳng thèm biết mấy trời
jacket nặng tuổi than rằng cũ-kỹ
khẽ mỉm cười quên ngắt nhánh đơn côi.

Cây một gốc lêu-nghêu mòn trong gió
đứng trân mình gào thét nhức hai tai
chiếc lá rụng chưa yên thân nằm ngó
vốn mong-manh kiến mối đã an bày.

Phố chưa thức starbucks nàng mở mắt
bậu về không, rà soát nỗi căn nguyên
tuyết không lạnh, nhớ tấm mền đau thắt
chưa sa-di, dựa quán vắng tham-thiền.

Mấy bụi tỏi, khóm hành lạnh giá quéo
hương vị nồng ướp thấm tủy chưa tan
giờ tan học, có còn ai lẽo-đẽo
áo dài bay nắng ấm phủ địa đàng.

Mấy bụi sả, liếp gừng chung số phận
ôn lại khi lãnh noãn của những ngày
phương-phi trẻ té ra đà lận-đận
vòng xoáy đời, mặc kệ hổ mặt ai.

Lại thương lắm đứng một mình, cây ớt
thân co ro khi trái gió trở trời
cây cần ấm cớ chi người hời hợt
đông phải về để đông nhỏ sầu vơi.

Xót khúc gỗ lềnh-bềnh chờ ai đó
đỗ quyên hồn lơ lửng thế nhân này
nhược vấn thử, vọng hồi-âm trong gió
nửa đêm nằm ngồi ngẫm nghĩ loay-hoay.

Gia vị ấm: ớt, tỏi, hành, gừng, sả
bàn tay tiên bậu ướp sưởi nội tâm
ngày hạnh-phúc mưa rào qua vội-vã
mùi còn lưu dưới gối phả hương trầm.

Trang Y Hạ
Cước Chú:
Vạn lý tình không, tuyệt vân cảnh,
Mãn đàm trừng thủy hiển nguyệt minh."
                                     Trang Y Hạ, Tạm dịch:
(Muôn dặm tình không, mây chẳng thấy,
Hồ đầy ngó xuống trăng sáng trưng).

LỜI GIÓ MƯA:

THU CÚC.

Cao tiết xung hàn phóng mãn sơn,
Độc siêu quần huỷ điểm thu nhan.
Hốt tư cựu tuế đông ly hạ,
Đối tửu xan anh tận nhật nhàn.
                           Thơ: (Ngô Thì Nhậm).
THU CÚC.

Lạnh về triền núi đầy hoa,
Sắc thu khác lạ mượt mà cỏ cây.
Tường đông, vườn cũ thương thay,
Thấm men, hương cúc trọn ngày đê mê.

Trang Y Hạ
Tạm: (Dịch Thơ).

TOKYO, CHỚM ĐÔNG

Loay hoay cạn kiệt một đời
Lắm khi chưa kịp mỉm cười, đã đi.
Trăm năm ngoảnh lại có gì
còn chăng chung với xanh rì cỏ rêu.
Đã từng: thương hận, ghét yêu
So đo cho lắm một chiều phủi tay
Giọt mù lỗ chỗ tóc mai
Bên tai, văng vẳng tiếng ai gảy đờn.

Thu Hương. (Tokyo).


   Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Hòa


11/12/25

MẤT WI-FI.

 



MẤT WI-FI.

     “Vô tình nguyệt tuế tăng trung giảm,
       Hữu cảnh khổ tiền lãnh hậu điềm”.

Wi-fi mất, thinh thinh con chó lác
đầu lơ-ngơ than-thở thủy triều dâng
mắt biếc đọng vài hoàng-hôn nhợt-nhạt
bao lo toan chưa định luống bần-thần.

Bậu bên nớ co-ro vùng mưa bão
màu đỏ tươi cuồn cuộn sóng bộn bề
bầu sữa cạn, ngực đau đầu lão-đảo
ôm con thơ chờ thượng-đế mỏi mê.

Thiên-tai định có khi nào hoàn-mỹ
tuần hoàn vòng sinh diệt tuần tự quay
từ tâm thiện bước lên thuyền diệu-trí
tam khổ đeo, đòi đoạn thế gian này.

Tưởng yên lặng, thẳm sâu âm ỉ sóng
tưởng vững-vàng, ngờ đâu bước khiêu khiêu
tưởng hợp phố, ai ngờ xuồng hư-hỏng
tưởng giàu sang, nợ đống réo đủ điều.

Wi-fi mất, mắt mù mờ mịt mắt
đang sờ sờ hóa bóng hoạt tử nhân
ở đâu có, phút sinh hồi khởi sắc
đang sáng trưng đã hối hả mây vầng.

Nhớ nhau cố dồn nhớ vô tâm não
chắc thời-lai-phong-tống sẽ đưa hương
đã ngán ngẫm, bọn khuyển ưng vênh-váo
một đám quan, hai miệng quả chán-chường.

Wi-fi mất, điện-thoại nằm tê gió
hai tâm hồn, giữ hơi ấm đôi bên
bậu gồng mình, đối thân ngồi vò-võ
tuổi hoa niên, theo sóng đỏ bồng-bềnh.

Bờ bên đó, dương liễu trông ra biển
họa thiên-nhiên, họa từ chỗ u-mê
tròng nặng cổ ai là người thăm viếng
bát-đức đành theo gió bão chẳng về.

Trang Y Hạ
Cước Chú: 

- Bát-Đức, Thuyết Phật là: (Hiếu – Để – Trung – Tín – Lễ – Nghĩa – Liêm – Sỉ).

Lời Gió Mưa:

Khể thủ thiên trung thiên,
Hào quang chiếu đại thiên.
Bát phong xuy bất động,
Đoan tọa tử kim liên.
Thơ: Tô Đông Pha (1037 – 1101)

(Cúi đầu ngàn vái lạy giữa trời,
Ngày lên ánh sáng chiếu khắp nơi.
Tám hướng gió lùa không lay nổi.
Bông sen ngồi ngắm quả tuyệt vời.

Trang Y Hạ
(chuyển qua thơ Việt).