Thư viện

29/8/26

NGHĨ VẨN VƠ - LẦN THỨ CHÍN.

 



NGHĨ VẨN VƠ - LẦN THỨ CHÍN.

     “Quốc kêu tê tái sơn-hà,
     Tôi kêu dĩ-vãng thức ra nhớ nguồn,”.
                                    (Trang Y Hạ).

Lè lưỡi nếm giọt vui cô Starbucks
đọng dúm buồn sứt mẻ thủa hai mươi
giọt tiên nóng bây chừ đà tan mất
sờ râu môi mím chặt một tiếng cười.

Mặt trời mỏng rón-rén sương ảm-đạm
ló đầu ra “thông-báo” đã có ngày
giá tuổi sẽ tăng dần không hề giảm
giàu đổi nghèo sấp ngửa ở đôi tay.

Thèm dòng suối nhạc reo vui róc-rách
cô Tây-Thi giặt lụa mặt ngẩn-ngơ
bóng in đáy chẳng cách nào bộc-bạch
chút tình si thức ngủ hứa sẽ chờ.

Sáng sớm chạy băng rừng ra Tam-Đảo
chiều tối om vọt về núi Thất-Sơn
cô Ngọc-Vạn, cô Huyền-Trân đẹp lão
vọng Văn-Lang thánh thót mấy cung đờn. *

Ông Thái-Thượng-Lão-Quân canh nồi thuốc
nghĩ cứu người lửa sém nửa chòm râu
cõi trần-ai thiên-tai gieo từng phút
bỏ lương-y, quên từ-mẫu nát nhàu.

Tự nhiên lọt thảm vô vùng đất hứa
hẹn quanh năm khẩu-hiệu vẽ vời suôn
tượng-đài mọc mỗi ngày càng thừa mứa
bụng đói meo bốn mùa độn gió luồn.

Tầm Từ-điển vấn an cụ Thiều-Chửu *
ông Khai-Trí thăm hỏi Đào-Duy-Anh
Trương-Vĩnh-Ký, hay tin cùng hiện hữu
Alexander de Rhodes chữ gieo lành.

Khúc gỗ mục đẽo hoài chẳng ra thánh
chữ “sắc” treo trên đầu môt lưỡi dao *
chừ ôn ấm quên buổi nào gánh lạnh
bằng cấp nhiều thiếu nhân-cách lộn-nhào.

Tay chạm nhẹ mái tóc cô Starbucks
cổ trắng ngần kiểu demi-garcon
Irving phố san-sẻ mưa lất-phất
bậu nơi đâu tôi nhớ phút ân-cần.

Trang Y Hạ
CƯỚC CHÚ:

*- LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ
Tiểu quán bế sài kinh,
Hàn đăng ám phục minh.
Hốt kinh thư vấn tấn,
Toạ giác tuế tranh vanh.
Hiểu nguyệt kiêm sương sắc,
Thu phong tự vũ thanh.
Tửu tỉnh tương ức xứ,
Chung lậu cách nghiêm thành.
Thơ: (Tuy Lý Vương).

QUÁN TRỌ ĐƯỢC THƯ BẠN.

Quán-trọ nhỏ đêm trở về đóng cửa
Ngọn đèn khuya đang sáng lại lu mờ
Tự-nhiên nhận thơ từ đâu gửi lại
Ngồi nghĩ ra chờ tin quả bơ-vơ.
Trăng sáng sớm pha thêm màu sương khói
Gió đưa thu tưởng rằng giọt mưa bay
Khi tỉnh rượu bạn hữu tình còn nhớ
Tiếng trống chuông ngưng điểm tự lúc này.
                                           Trang Y Hạ, Dịch!
* - “Văn chương thiên cổ sự ,
Đắc thất thốn tâm tri”. (Đỗ Phủ).
Tạm dịch: (Văn chương vốn chuyện ngàn đời. Được mất ở tất lòng mới hay.
*- Hán Tự có câu: "Sắc tự đầu thượng nhất bả đao".). Phía trên chữ “Sắc” () có chữ Đao (. (Con dao). Từ đó mới có câu “Hồng nhan họa thủy.”.



28/8/26

BÀI THƠ CỨU RỖI.

 


BÀI THƠ CỨU RỖI.

     “Làm thơ là gởi tấm lòng vô thiên cổ chứ không phải lưu danh nhất thời.”. Trần Tử Ngang (661 – 702).

     Buổi sáng sông Ui sương rừng âm u dày đặc... Tôi ngồi co ro ở trong cái chòi rẫy với bếp lửa khói bay mù mịt, ấm nước méo mó nghiêng ngả trên ba cục đá ong tượng trưng cho ba ông táo. Tháng mười một thời tiết hết mưa không khí lạnh mùa đông ùa về lành lạnh cái lạnh của rừng núi lúc nào cũng tê tái ảm đạm nhưng không thể nào so sánh được với cái lạnh kinh hồn trên vùng cao nguyên DakTo, KonTum.

     Tôi được ra tù “cải tạo” sau bảy năm, - đó là năm một ngàn chín tám mươi hai, - vừa về tới nhà tận mắt thấy cảnh cảnh cửa nhà xiêu vẹo mục nát... Mẹ tôi, mẹ đã già lại góa bụa từ lâu thân đơn nuôi bầy con khôn lớn nhưng cũng may là thời Miền Nam đi học không phải bắt đóng học phí, đã vậy còn được phát sách vở cho nên dù đông anh em chúng tôi vẫn được cho ăn học đàng hoàng. Đau ốm chuyển vô bệnh viện được bác sĩ y tá tận tâm chẩn đoán trị liệu chứ không đòi hỏi phải đóng tiền trước rồi mới cứu chữa.

    … Là người con trai đầu tôi vội lao vô rừng tìm đất canh tác tạo ra lương thực để giúp đỡ gia đình. Nhìn chung tất cả xã hội đều nghèo đói như lời ông trưởng trại tù nhắc nhở: “Các anh ra khỏi trại, các anh sẽ đối diện với nhiều khó khăn bên ngoài xã hội, mong các anh hiểu cho đất nước mới thống nhất còn nghèo túng mà đừng có ý chống đối cách mạng gây thêm tội lỗi như các anh đã từng làm tay sai cho đế quốc Mỹ gian ác...!”. Và lời nói thầm thì của người bạn tù cùng phòng còn ở lại: “Thằng nào thoát được nhà tù nhỏ bước ra nhà tù lớn thì tìm đường bay, chứ họ thả chứ không hề tha.”.

     Buổi sáng ở rẫy sương núi lạnh tê tay tôi nhen bếp lửa lấy một nhúm râu bắp đã phơi khô cho vô cái chén đất chế nước sôi đậy kín chừng vài ba phút... Tôi uống nước râu bắp thay trà uống đã lâu như vậy rồi! Ngày cuối tuần về nhà đi dự lễ nhà thờ, ra quán cà phê với bạn hữu mới được uống nước trà. Ngày Chúa Nhật về nhà cũng đâu có được nghỉ thoải mái còn phải vác cuốc xuống ủy ban xã mần công tác “xã hội chủ nghĩa”. (công việc nầy chỉ áp dụng cho người tù cải tạo chưa có quyền công dân.). Sáng ngày thứ hai đầu tuần lại đùm gạo mắm muối đạp xe đạp thồ vô rẫy ở, nhịp điệu thời gian xoay vòng vòng như cái đèn cù.

     Khoảng gần cuối tháng mười mùa mưa đã hết đó là lúc bận rộn gặt hái... Ngoài ngày tức ra (tháng giêng) lại bận rộn công việc nhổ mì xắt mì, phơi khô vô bao tời thồ về bán cho tập đoàn hợp tác xã. Trong các loại nông sản thì nhổ cây mì khá vất vả.

     Sống dưới cõi trần gian thiết nghĩ có người lấy linh hồn tạo ra của cải; cũng có người lấy của cải để tạo ra linh hồn. Sinh tử chẳng qua là một cuộc giao dịch trao đổi qua lại khá sòng phẳng. Ở đời hễ bỏ ra cái gì thì sẽ gặt hái được cái đó! Và, vận mệnh giống bàn cờ tướng đã có bày trận sẵn. Tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, - tất cả đã được ấn định phần trách nhiệm, hoàn thành hay không hoàn thành đó là phần phúc của người cầm quân cờ. Do đó, phải mần đổ mồ hôi sôi nước mắt thậm chí phải đổ máu ra tranh giành mới có ăn, cái mặt.

     Một buổi trưa đang nằm nghỉ trên võng với con chó luôn quanh quẩn kế bên như một người bạn hữu thân thiết... Tự nhiên nó vùng dậy chạy ra ngoài gầm gừ... Tôi nhìn theo thấy một cô gái đang chạy xe đạp về hướng chòi... Tôi nhận ra ngay đó là cô em gái út. Không biết cô em chạy vô rẫy mần chi mà trông bộ hấp tấp...? Không lẽ mẹ cho thức ăn? Tôi nghĩ vậy!
Cô em dựng chiếc xe đạp vô vách chòi rồi nói liếng thoắng:
     - Em khát nước quá…!
     - … Thì có nước râu bắp trong ấm đó! Tôi nói.
Cô em cằn nhằn:
     - Em không uống được nước râu bắp đó đâu.
     - Vậy thì có sẵn nước sông Ui ở trong cái bình nhựa. Tôi chỉ tay về chỗ đống bắp vừa mới lột vỏ.
Cô em gái vừa uống nước vừa thuận tay lột vỏ bắp lai rai, nói:
     - Anh hai…! Anh đi tù “cải tạo” bảy năm là vì cái tội anh làm chức “Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến” gì đó phải không…?
Tôi ngạc nhiên vì cắt cớ chi cô em khươi lại chuyện cũ của tôi ra? Không lẽ trên xã họ xuống làm khó dễ gia đình...? Tôi trả lời:
     - Đúng như vậy đó em gái! Tại sao em lại hỏi vậy hử? Có chuyện chi không?
Cô em gái rút từ trong túi áo ra một tờ báo xếp mần tư đưa cho tôi, rồi nói:
     - Vậy là có chuyện cho anh mần rồi đây... Báo “Tuổi Trẻ Cười” đăng rằng có một cuộc thi thơ “trào phúng” chi đó anh đọc thử xem... Viết văn mần thơ là nghề của anh. Anh cứ viết gởi đăng may ra trúng giải kiếm tiền thưởng vả lại anh còn được xã trả “quyền công dân”; xã cho vô “hộ khẩu”, lại được cho làm “chứng minh nhân dân” mới. Còn chúng em xin vô ngành sư phạm chắc cũng dễ dàng hơn. Em nộp đơn xin mấy lần đều bị họ từ chối vì gia đình có người anh ruột đi mần “ngụy bán nước cho đế quốc Mỹ cọp beo.”. Cô em gái nói một mạch không nghỉ cứ như là đã có sắp xếp từ lâu ở trong đầu rồi vậy.
Tôi nhìn em gái cười rồi nói giỡn:
    - Này cô Út. Anh nghe thiên hạ kháo nhau rằng: “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm. Thầy giáo dứt cháo, Thầy giáo tháo giày…!” kia mà! Trong xã hội ngày nay ngành giáo dục là ngành có giá trị thấp nhất, bạc đãi nhất, các thầy cô phải ra ngồi đầu đường xó chợ... - Cô giáo thì mua đi bán lại rau trái kiếm từng đồng! Thầy giáo ngồi vỉa hè vá xe, sửa xe đạp để mưu sinh cho qua ngày đoạn tháng! Lương thì ba đồng ba cọc chẳng thấm đâu vào đâu! Thậm chí đồ đạt bàn ghế của cải dành dụm cũng đem ra ngoài đường bán kể cả nhẫn cưới... Sĩ diện của người thầy trong (xã hội mới) còn thua xa một người du kích. Vậy thì các em nhào dzô đó mần chi hỉ?
Cô em gái Út cười lớn. Cười xong cô, nói:
    - Anh quanh năm ở rẫy mà cũng quan tâm để ý tới chuyện thế sự he! Vật đổi sao dời lòng người cũng thay đổi theo mà anh! Người chết đuối thông thường là người biết bơi! Cuộc sống hiện nay nhìn kỹ thì làm chi có an bình, dẫu cho là có an bình thì an bình đó đã có người khác lo giùm. Chúng ta cúi đầu im lặng cúi đầu theo sự an bình của họ, đó là an bình! Thôi, em đi về nhà đây! Anh phải nhớ mần thơ đó nha! Ngày mai em vô em lấy bài thơ để đem ra bưu điện gởi cho kịp thời gian ấn định.

     Tôi nhìn cô em dắt xe ra về mà nghe trong lòng dậy lên một nỗi buồn xa vắng, buồn cho lớp trẻ có học vấn nhưng không chỗ dung thân. Tự nhiên nhớ tới câu “Nhân sinh triêu lộ.”. (Đời người như giọt sương sớm mai.) quay cuồng tan biến dưới ánh nắng buổi sáng, điệp khúc cứ mãi quay vòng tới vô tận. Cô em quay lại nhìn tôi với ánh mắt tràn trề hy vọng lại đưa tay lên cứ như là biết chắc chắn đã nắm phần chiến thắng. Tôi không ngờ rằng cô em gái Út lại tin tưởng tài thơ văn của anh trai tới độ như vậy.

     Tôi đọc tóm tắt nội dung thể lệ cuộc thi thơ của tờ báo “Tuổi Trẻ Cười”, chủ đề: “Khuyến khích mọi người vô: Tập đoàn, Hợp tác xã.”... Bài thơ gởi về số 161 Lý Chính Thắng Quận 3. (Đường cũ là Tam Nguyên Yên Đổ, Sai Gòn.). Mần một bài thơ có chủ đề “khuyến khích” trào phúng như vậy thì không khó mấy, cái khó là tôi - một người của bên “đầu hàng” bị tù đày nhiều năm, tấm giấy tùy thân cũng chưa có. Nghĩ sâu xa hơn thì họ chỉ (thả) ra khỏi nhà tù “cải tạo” chứ chưa hề họ nói tha bổng. Bản án “ngụy” luôn đè nặng lên bản thân gia đình! Con trai con gái đi học lo sợ không dám khai ra lý lịch lai lịch của người cha đi tù “cải tạo”! Thôi thì tạm an ủi, rằng: - Con người đã và đang sống trên cõi đời nầy, thì sống ở bất cứ nơi đâu, chẳng phải cũng là như đang ngồi trong nhà tù đó sao?.

     Nghĩ mà buồn, mấy cái giấy tờ tùy thân ngày xưa Chánh phủ Miền Nam họ cấp cho người dân rất dễ dàng, như: Tờ khai gia đình, Thẻ căn cước, chưa khi nào chánh phủ quốc gia đặt điều kiện hay mần khó dễ bất cứ ai. Ngày nay không “hộ khẩu” là không thể có giấy khai sanh cho con, không khai sanh thì con không thể đi học. Không hộ khẩu là không thể mần giấy hôn thú được. Không hộ khẩu thì không mua được lương thực, thực phẩm được…! Nhìn chung, những cái giấy tờ tùy thân trong xã hội mới này là cái dây thòng lọng...!

     Lịch sử lưu lại những thi sĩ mần thơ bị đảng phái, vua chúa bắt bỏ tù, bị mất chức, bị buộc uống thuốc độc trong lao tù, bị xử chém… Tiêu biểu như sau:

     Thi sĩ Hữu Loan, trong “cải cách ruộng đất” ở Miền Bắc, ông bị thất sủng đành dẫn vợ con lên rừng chẻ đá bán để sống qua ngày đoạn tháng vẫn bị theo dõi cho người âm thầm thủ tiêu. Thi sĩ Hữu Loan may mắn thoát chết là bởi người theo dõi ông đã có đọc thơ ông, mê thơ ông nên “người đó” không xuống tay hạ sát!

     Thi sĩ Trần Dần, có câu: “Ta bước đi không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ.”. Câu thơ tả về hiện thực xã hội với tấm lòng nghĩ về quê hương đất nước có sai đâu? Người ta cho rằng câu thơ quá mẫn cảm đụng chạm tới (chỗ không nên đụng chạm.). Từ đó ông bị hành hạ lên bờ xuống ruộng, thơ của ông chỉ tồn tại trong lòng người yêu thơ ông.

     Thi sĩ Quang Dũng với câu thơ: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.” cũng cùng chung số phận bị gán tội có tư tưởng “tiểu tư sản.”. Ông cũng bị hành cho lên bờ xuống ruộng!

     Trong Thủy Hử... Tống Giang bị đày đi Giang Châu, lúc tới Tầm Dương buồn đời uống rượu mần thơ đề trên vách…, nhưng không may cho Tống Giang bị tên Hoàng Văn Bính tố cáo. Quan phủ Giang Châu hàm hồ ra lệnh bắt Tống Giang tống ngục vì tội mần thơ phản trắc.

     Thời Chúa Nguyễn, danh tướng Nguyễn Văn Thành là vị khai quốc công thần nhà Nguyễn, ông có con trai đầu là Nguyễn Văn Tuyên cũng là phò mã của vua Gia Long. Tuyên làm bài thơ tặng cho một người bạn, nhờ tên Nguyễn Trương Hiệu chuyển giùm. Tên Hiệu đem thơ dâng lên vua Gia Long. Vua Gia Long đọc thơ rồi phán rằng con rễ mần thơ có ý chống đối, liền ra lệnh bắt Nguyễn văn Thuyên xử chém. Tướng quân Nguyễn Văn Thành dù là cha ruột cũng liên can và bị tống giam vô ngục, buộc uống thuốc độc chết.

     Tôi cũng hy vọng mần t bày tỏ chính kiến nói lên sự thật hầu gặp được sự may mắn cứu rỗi hay xuống địa ngục như các thi sĩ tiền bối? Trong một xã hội chỉ biết nịnh bợ, rình rập vạch lá tìm sâu nhằm hại nhau thì những tác phẩm văn chương hàn lâm kinh điển sẽ không bao giờ có, nếu có cũng không thể tồn tại. Văn sĩ Goerge Orwell, viết “Trong một xã hội đầy rẫy sự gian dối, cất lên một tiếng nói chân thật là một hành động cách mạng.”.

     Câu danh ngôn của Rimdranath Tagor, đã viết: “Kẻ yếu rất đáng sợ, bởi vì họ điên cuồng tìm cách tỏ ra mình mạnh mẽ.”. Đúng như vậy! Kẻ thắng lên làm vua dù có nói sai nói hàm hồ cũng là chân lý. Bên thua trở thành giặc cướp bị tù đày bị vu khống đủ thứ tội...! Bởi vậy, kẻ yếu tìm mọi cách để “mạnh mẽ” nhằm nói ra sự thật của kẻ gọi là chiến thắng, đã dùng mưu hèn kế bẩn để thắng. Đó là quy luật “được, mất” chẳng những đối với con người mà cả động thực vật cũng tranh hơn thua.

     Trong lòng lo nghĩ, lịch sử là vòng tuần hoàn nên tôi do dự suy tính có nên mần thơ gởi đi “dự thi” ở báo Tuổi Trẻ Cười hay không? Tôi bây giờ như con chim sợ cành cây cong gặp du kích ấp còn e dè, huống hồ là viết văn mần thơ! Nhưng tôi lại ám ảnh bởi ánh mắt tràn đầy hy vọng của cô em gái. Tôi không thể tàn nhẫn dập tắt đóm lửa hy vọng mong manh đó của em gái được. Tôi không say rượu như Tống Giang... Tôi tỉnh táo nhưng lại lo ngại bài thơ mà tôi sắp mần ra có bị ai đó giống như Hoàng Văn Bính và Nguyễn Trương Hiệu, vạch lá tìm sâu mà ghép tội “phản động” chăng? Người đời là vậy, muốn bắt tội một kẻ nào đó thì có muôn ngàn lý do để bắt tội.

     Người xưa nói: trâu đạp cũng chết, bò đạp cũng chết. Vậy thì đàng nào cũng tiêu đời thì cớ chi phải trốn tránh? Tại sao phải sợ sệt? Tại sao không mạnh mẽ đối diện với thực tại? Tự lên tinh thần nên cảm thấy phấn chấn rồi bước ra khỏi cái chòi tranh vươn vai thở không khí núi rừng... Đêm nay phải mần thơ, mần thơ mà thiếu rượu quả là thiêu thiếu…! Tôi leo lên ụ gò mối nhìn qua cái chòi của lão bạn rẫy hàng xóm hy vọng hỏi vay được của lão nửa xị rượu đế. Chỉ cần vay được nửa xị rượu đế thôi là quá đủ rồi! Vay rượu đế mà thấp thỏm lo sợ mới là lạ! Túi thơ bầu rượu mà! Thời gạo châu củi quế, giọt rượu thiêng liêng quí báu ngang giọt nước thánh!

     Dù ở bất kỳ hoàn cảnh đau thương nào con người cũng cần có rượu ngay cả ở trong tù. Bởi rượu là men của sự sống, rượu là lễ, rượu là nghĩa để tưởng nhớ trời đất tổ tiên ông bà cha mẹ, rượu là nhịp cầu giao hảo và cũng để tạm xóa đi nỗi buồn nào đó…! Không có gạo, có nếp thì nấu rượu bằng bắp, bằng khoai mì... Thời buổi đảo điên “ngăn sông cấm chợ” người nấu rượu cũng phải nấu rượu chui. Người mua rượu cũng phải mua rượu chui. Mua được rượu đem về nhà nhậu với bạn hữu anh em cũng phải nhậu chui trong im lặng…! Người xưa nói đúng: “Vạn sự bất như bôi tại th, Nhân sinh kỷ kiến nguyệt đương đầu.”. (Mọi việc không gì bằng chén rượu đang cầm trong tay. Cuộc sống nầy được mấy lần ngắm trăng rọi ngay trên đầu.).

     Cái chòi tranh của lão hàng xóm trong rẫy cửa đóng then cài, con chó nhà lão cũng không thấy. Quá thất vọng, đành quay trở vô chòi lò mò tìm chai dầu hôi dụt trong góc chêm vô cái đèn để tối nay thắp sáng lên mần thơ. Bất ngờ thấy cái bịch nhựa tiện tay lôi ra mới biết có chút rượu còn sót. (Thời gian sau giải phóng, dân nhậu đi mua rượu hay người nhà đi mua rượu, nơi bán họ cho rượu vô trong túi ny lon.). Người mua đem về nhà giữ chặt bịch rượu, dùng miệng cắn đứt góc bịch rồi rót vô chai... Sở dĩ xài bao ny-lon đựng rượu là để tránh ánh mắt theo dõi của du kích, họ tưởng là đi mua dầu hỏa, mua dấm... Tôi vuốt cái bịch đựng rượu cũ đã nhàu nhĩ từng giọt rượu chảy ra vừa vặn một ly xây chừng. Đêm nay sẽ nhâm nhi “nhả ngọc phun châu.”.

     Buổi chiều nơi núi rừng hoàng hôn xuống thật nhanh vài tia nắng vàng vọt yếu ớt đọng trên mấy cây chuối, mấy bụi sả, mấy cây đu đủ ở chung quanh chòi tranh vẽ lên một bức tranh sầu tê tái...! Con chó đứng ngắm hoàng hôn đỏ ối mê mẩn cùng tôi nhưng nó dửng dưng, nó dửng dưng bởi tính của loài chó xưa nay chỉ vốn quen sủa trăng chứ không thích sủa mặt trời. Tôi ngắm bóng chiều phủ trên rẫy mì, rẫy bắp tư lự…, rồi nhướng mắt qua núi Chứa Chan, trên đỉnh núi có đám mây trắng viền quanh giống như vành khăn tang của người thiếu phụ...! Quay mặt lại bất chợt thấy một con sóc nâu quen mặt nhảy lên cây mì nơi có dây leo quấn quanh thân cây... Dây leo đó là dây sương sâm, em gái thường hay hái lá sương sâm vò nát ra làm thạch sâm uống giải khát. Tự nhiên nhớ câu thơ “Sắm bìm chút phận con con.” ở trong Truyện Kiều. Vậy là ý thơ hiện ra như một cái phao cứu sống; như một bà tiên đẹp lộng lẫy hiện ra ở trong căn chòi tranh te tua rách nát.

     Tôi bưng nồi cơm ra để trên cái khúc gỗ, nói là cơm chứ thật ra chỉ có một ít cơm còn lại toàn là mì “sắn” tươi, khoai lang. Một lon guigoz đựng mắm ruốc kho mở heo với sả mẹ làm để ăn cho cả tuần! Tôi nhìn cái lon guigoz nhớ lại những ngày ở trong tù, mỗi lần đi “thăm nuôi” mẹ đều cho mắm ruốc như vậy! Đôi khi cũng hồi tưởng lại những ngày xa xưa, mỗi buổi sáng ít nhiều hay lai rai cũng có: “Tô – Ly – Điếu”. Tô tức là một tô phở, một tô hủ tiếu, một tô cháo lòng... Ly tức là một ly cà phê đen, một ly cà phê sữa đá, một ly trà! Điếu tức là điếu thuốc Capstan, điếu thuốc Bastos... Ngồi bên ly cà phê nhả khói nổi máu văn nghệ lấy tên trên bao thuốc đặt câu văn, câu thơ: Capstan là (Con anh phá sản tại anh ngu...). Bastos là (Buồn anh suốt tháng ôm sầu.). Đôi khi nhớ tới hàng “PX” (Post Exchange), loại hàng tiếp liệu của quân đội Hoa Kỳ...! Đôi khi nhớ hàng “Quân Tiếp Vụ” loại hàng tiếp liệu của quân đội Việt Nam Công Hòa. (Những loại hàng hóa đó người dân có thể mua ở chợ trời.) Bây giờ tất cả chỉ còn là ký ức vướng víu ở đâu đó trong dòng sông dĩ vãng!

     Tôi quay ra chỗ bụi chuối nơi cất giấu bốn bao than, thì mới giật mình là đêm nay đã có hẹn với lão bạn thồ than ra ngoài xã bán. Nói thật lòng, ngoài mần rẫy bái ra tôi cũng len lén đắp vài lò than kiếm thêm lợi tức, nhưng phải ngụy trang thật kỹ. Có một nghịch lý là chủ vựa than cũng là chủ của mấy chiếc xe đò chạy bằng than. Họ mua than công khai, mua tự nhiên trước mặt cán bộ kiểm rừng du kích mà không sợ bị bắt. Tôi đã có viết bài “Màu Than Của Đêm” trình bày hoàn cảnh người đi bán than khổ sở biết là dường nào!

     Xe than nghĩa là xe chạy bằng nhiên liệu than củi. Kể từ sau ngày “giải phóng Miền Nam” lương thực thực phẩm đều thiếu thốn tư bề, xăng dầu lại càng khan hiếm trầm trọng. Người ta hàn một cái thùng sắt hình tròn đường kính cả một thước, dài cỡ hơn hai thước để chứa than. Thùng sắt to tổ chảng, to bành ki, to chà bá lửa đeo kè kè ở phía sau xe. Nhà xe đổ than vô cái thùng sắt bự đó rồi mồi lửa cho than nóng đỏ rực lên... Vậy là xe đò than sung sướng được sưởi ấm áp rồ máy chạy bon bon trên quốc lộ... Thỉnh thoảng chú lơ xe cầm cái khúc gỗ “cục canh bánh xe” đập mạnh vô thùng sắt cho than nén xuống... Hành khách được đi xe đò than... (thở) vui mừng hớn hở, mặt mày lấm lem bụi đen như đi đốt than mần rẫy.

     Đi bán than cũng phải hẹn với chủ vựa giờ giấc trước, thường là khoảng bảy giờ tối cho tới chín giờ tối. Đi trễ hẹn, đứng xớ rớ là bị kiểm rừng tịch thu cả than lẫn xe. Tôi chất bốn bao than loại bao đay chỉ sọc xanh lên xe đạp thồ, thồ ra chỗ hẹn. Lão bạn nói: “Bữa nay đi bán chỉ có hai anh em chúng ta thôi, đã có dặn thằng con đi thám thính dò đường rồi.”. Bán than xong nhìn đồng hồ đã mười giờ đêm định ghé thăm nhà nhưng lại sợ gặp mấy anh du kích ấp hạch sách thì nguy to! Về tới chòi mình mẩy mồ hôi bụi than quyện nhau ngứa ngáy khắp người... Bụng đói meo, mở nồi cơm ra cầm củ khoai mì lạnh tanh đưa lên miệng nhai... uống vài ngụm nước, nằm vật ra cái sạp gỗ với niềm vui lớn bán được than. Ngày mai em gái vô đem tiền về cho mẹ.

     Ánh trăng chưa tới độ rằm mây mờ tù mù lẫn sương núi kéo theo hơi lạnh ùa về mà sao trong lòng lại cảm thấy ấm áp lạ kỳ. Đốt ngọn đèn dầu lên, ngọn đèn cháy le lói rọi vô vách lá buông mọt đục loang lổ gợi nhớ lại một thời tuổi thơ ngồi học bài ngủ gục cha ẵm vô trong buồng ngủ lúc nào cũng chẳng hay. Đêm nay nếu không mần thơ “dự thi” theo yêu cầu của em gái Út thì không bao giờ thắp đèn dầu tù mù đó đâu. Mẹ mua cho một xị dầu hôi cả nửa năm mới dùng hết phân nửa chủ yếu là để rưới đuổi bầy kiến lửa vô mần tổ trong đống bắp, đống mì.

     Cố gắng tìm con dao gọt cây bút chì để mần thơ. Cây bút chì chỉ dài bằng một ngón tay trỏ, hình dáng trầy trụa nằm trơ trọi trong túi xách. May mắn thấy miếng giấy cinemt nhăn nhúm gói thức ăn vội đưa lên đùi lấy tay vuốt... vuốt... cho bằng phẳng ra. Không bàn ghế đành ngồi xếp bằng trên mấy mảnh ván bìa ghép, đó cũng là cái giường ngủ bao năm qua! Ly rượu xây chừng đùng đục lắng cặn xuống đáy ly trông rõ mồn một, ngụm một ngụm nhỏ rượu có mùi chua... chua..., đăng đắng… Chất men vô hình trung cũng là người đồng hành đi thăm nàng thơ mà chẳng biết nàng thơ mặt mũi ra răng!

     Tôi thầm xin lỗi cụ Tiên Điền rằng đã mượn câu thơ Sắn bìm chút phận con con.” của ngài. Người ta đang ăn cắp cả một lịch sử. Người ăn cắp cả một quốc gia. Người ta ăn cắp cả một nền âm nhạc. Người ta ăn cắp cả văn chương nghệ thuật…! Tôi không ăn cắp giống như họ đâu, mong Cụ hiểu cho!

     Màn đêm nơi núi rừng lúc nào cũng âm u huyền bí, màn đêm là của loài loài thú dữ, của loài côn trùng ăn đêm. Màn đêm là của quỷ ma; của oan hồn uẩn tử hẹn hò gặp nhau tâm sự…! Tối nay sẽ mần thơ tìm một lối thoát cho bản thân cho các em trai em gái dù có lưỡng lự tìm nội dung cho bài thơ ở tư thế trung dung (ba phải), không đứng nghiêng hẳn về một bên nào. Bạn hữu có biết cũng không thể nghi ngờ đã “giác ngộ cách mạng. Nghĩ lung lắm cho tới khuya lơ mới viết xong bài thơ.
Bài thơ có tên là:

SẮN BÌM.
Sắn bìm chút phận con con, Ăn nhờ cơm vợ lại còn lang thang. Cửa nhà anh chẳng ngó ngàng, Khuyên vô Hợp Tác tìm đàng anh bươn. Ngày cử gió, tối kỵ sương. Nắng nghỉ, mưa ngủ chiếu giường tri âm. Bảo ban anh hứa quyết tâm, Từ từ rồi hãy làm ầm lên chi!Nhưng mà anh vẫn cứ lỳ. Mánh mung nhậu nhẹt li bì bê tha. Thuở nhỏ sống với mẹ cha, Lớn lên nhờ vợ, về già cậy con. Nuôi anh cho được vuông tròn, Mặc ai cực khổ mất còn mặc ai. Thân anh xã hội hết xài.”.

     Bài thơ đọc phớt qua quả là “trào phúng”, nhưng nghĩ kỹ thì không trào phúng chút nào. Người đọc chịu khó liên tưởng sẽ thấy có ngụ ý “ẩn dụ” bên trong. Người dân chẳng một ai muốn gom hết đất ruộng đã có quyền tư hữu, có “Bằng Khoán” hợp pháp từ thời cha ông đem cho tập đoàn, nộp cho hợp tác xã để rồi mỗi buổi chiều về mệt mỏi ngồi bình bầu ăn theo từng công điểm...? Công điểm không đủ sống, người dân phải luồn lách buôn bán hàng chợ đen, chợ trời trên các nẻo đường quê hương. Người dân lén lút nuôi gia cầm, gia súc trồng rau sau vườn để bán, để cho gia đình con cái được bữa ăn có chất dinh dưỡng.

     Trong khi đó tầng lớp cán bộ không làm thì được ăn no, mặc ấm... Vậy mới có câu Xã viên làm việc bằng hai, để cho cán bộ mùa đài mua xe.” hoặc Nón cời làm cho nón cối ăn.”. Trong tác phẩm Trại Súc Vật (Animal Farm) của George Orwell "Các con vật đều bình đẳng nhưng có những con vật tự cho mình được cái quyền bình đẳng hơn những con vật khác.". Thói ăn bám diễn tả trong bài thơ là những kẻ ăn bám có “giấy phép được quyền ăn bám hợp pháp.”, không một ai có thể đụng chạm tới họ. Người dân bất mãn hằng ngày vác cuốc ra đồng mần theo kiểu - ầu ơ giấy dầu, chờ tiếng nghe kẻng “thu quân” là ù té chạy về nhà. Ông bà nói đúng - cha chung không ai khóc, - nhiều sư nhiều sãi không ai đóng cửa chùa!

     Cuối cùng hình thức làm ăn tập đoàn tập thể tan rã, đất ruộng trả lại cho người nông dân, nhưng đất ruộng lâu nay đã chia năm xẻ bày cấp cho ông nầy bà nọ. Một phần lấy làm “công trình công ích” như: chợ, trường học, trạm xá, bệnh viện, công sở, bến xe… Người dân có nhận lại đất ruộng cũng chẳng còn được bao nhiêu, thậm chí số đất ruộng trả lại ở một nơi khác...!!!

     Mần bài thơ xong cảm thấy hài lòng, thong thả bước ra ngoài trời vươn vai hít thở ngắm sao... May là sương đêm nay tan đi đâu mất tiêu chỉ thấy mảnh trăng tàn chếnh chếch trên ngọn núi Chứa Chan, đưa mắt tìm vì sao bắc đẩu nhưng không thấy đâu. Tôi nghĩ cô em gái Út ngủ có mơ thấy anh trai hoàn tất bài thơ! Dù thức khuya mần thơ nhưng sáng ra phải dậy sớm nhổ hỏa tốc cả trăm gốc mì (loại giống cây mì H.34) cho nhiều củ trước khi mặt trời lên thiêu đốt ...

    Nghe con chó gầm gừ... Cô em gái đã vô tới léo nhéo ỏm tỏi:
     - Anh hai ơi! Anh mần thơ xong chưa? Em có đem canh khoai mỡ cho anh đây, anh vô ăn canh còn đang nóng! Em gái đọc xong bài thơ, cười toe toét, nói:
     - Anh trai của em giỏi quá đi!
Tôi nói rằng:
      - Trong nhà chỉ mỗi em viết chữ đẹp. Em đem về viết lại rồi gửi “cho gió ngàn bay.”!
Cô em nhướng mắt, sừng sộ:
     - Mắc mớ chi gởi cho gió ngàn bay hả? Gởi đi dự thi chứ!? Anh đừng có xem thường và hạ thấp tài thơ văn của anh. Bây giờ anh thất thời, nhưng chữ nghĩa trong đầu của anh con nguyên đó...! Anh còn nhớ câu: Hủ thảo hóa vi huỳnh.”. (Cỏ mục hóa ra con đom đóm.) mà! Thi sĩ Nguyễn Du cũng nói: Xưa nay nhân định thắng thiên đã nhiều.” đó thôi.

     Chuyện mần thơ dự thi ở báo Tuổi Trẻ Cười hình như đã quên mất. Quên mất cũng đúng thôi bởi còn quá nhiều thứ bận rộn lo toan từ cơm áo gạo tiền... Tôi lén nhìn thử trong gương thấy thân thể cằn cỏi râu ria tua tủa giống người tiền sử dù tuổi đời chưa tới bốn mươi. Bất giác đọc lại bài thơ đã mần: “Nhìn lại thân thùng thình trong bộ đồ dân sự. Tuổi học sinh hiện về đau nhói cả tâm can. Con ve sầu lánh mặt nằm im trong lòng đất. Phượng vĩ đau bởi bầy mọt đục lụi tàn.”.

     Bẵng đi cả tháng sau đang ngồi trong chòi hốt mì lát khô cho vô bao tời, con chó đánh hơi có người lạ vọt chạy ra ngoài nhưng không sủa. Tôi nghĩ chắc lão bạn ở chòi kế bên ghé chơi... Ai ngờ cô em gái vừa dựng chiếc xe đạp, vừa la toáng:
     - Anh hai ơi! Anh hai ơi…! Anh được trúng giải thưởng thơ của Báo Tuổi Trẻ Cười rồi! Cả xã cả nhà thờ ai cũng đều biết hết!Tuần sau anh phải trực tiếp đi lên Sai Gòn nhận tiền thưởng, tiền nhuận bút đó! Kỳ này chắc chắn em được nhận vô ngành sư phạm! Tôi làm thinh, nhưng nghĩ: Cô em gái vẫn thích Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm. Thích mần cô giáo dứt cháo…!quá rồi!

     Cô em gái nói đi nhận tiền thưởng nghe cũng mừng. Nhưng ngặt nỗi là mới đổi tiền thì mần chi có tiền mà đi xe? Sau năm 1975, qua ba lần đổi đổi tiền. (Lần thứ nhất: ngày 22-9-1975. Lần thứ nhì: ngày 02-5-1978. Lần ba: ngày 14-9-1985). Đã quy ra: 500 $ Việt Nam Cộng Hòa bằng một đồng tiền Miền Bắc. Tức là chỉ cần một đồng rưỡi tiền Miền Bắc lúc đó đã đổi được một Mỹ Kim. Chuyện nầy (chỉ duy nhất, đồng Bảng Anh mới làm được điều đó.). Thành thật mà nói “đổi tiền” là một mưu kế nhằm lấy tiền, lấy tài sản của của người dân chỉ có ở các nước trong khối xã hội chủ nghĩa mới có hình thức đổi tiền vô lối vô thiên như vậy.

     Lần đổi tiền thứ ba thực sự đã vắt kiệt túi tiền của người dân. Đổi tiền hai lần trước tôi còn ở trong tù không tận mắt chứng kiến như lần nầy. Tôi nghĩ chắc chắn hai lần đổi tiền khi trước còn thê thảm hơn nữa. Đặc biệt lần đổi tiền thứ ba, ngân hàng nhà nước cho in ra tờ tiền giấy “Ba Mươi Đồng”. Theo tôi được biết nhà nước Cộng sản Cu Ba cũng in ra đồng tiền “Ba Đồng”. Tự nhiên một thời gian sau tờ tiền giấy Ba Mươi Đồng trốn đi đâu mất tiêu.

     Bởi không giấy tờ tùy thân ngoài cái “Giấy Tha”. Tôi xuống xã xin giấy chứng nhận hiện đang sống tại địa phương, lại cầm giấy chạy lên huyện xác nhận thêm lần nữa. Không tiền đi xe mẹ tôi bán hai thùng phuy bắp, khổ nỗi mới đổi tiền thành ra thiếu tiền lẻ. Tôi lên xe cầm tờ năm mươi đồng đưa ra chủ xe thấy... ngao ngán lắc đầu, lắc đầu nhưng chủ xe không đuổi xuống đường. Xe chạy tới Biên Hòa nhà xe mới đủ tiền lẻ thối lại.

     Tôi lần mò tới địa chỉ của tòa soạn báo trình giấy báo trúng giải thơ Tuổi Trẻ Cười. Họ hỏi giấy tùy thân? Tôi đưa giấy xác nhận của xã, họ dẫn tôi qua văn phòng tài chánh, họ cho xem danh sách người đoạt giải. Không giải nhất, chỉ có một giải nhì, một giải ba và giải khuyến khích. Tôi đoạt giải khuyến khích. Tòa báo tặng tôi hai số báo với số tiền mặt (ba trăm đồng). Họ cho biết nếu muốn cộng tác với báo tiếp tục thì rất hoan nghinh.

     Tôi trở về nhà vẫn vô rẫy như mọi khi. Khoảng một tuần sau trên huyện họ cho cán bộ xuống tận nhà chụp hình mần “chứng minh nhân dân” tại chỗ cho cả gia đình. Ủy ban xã trả quyền công dân, nhập hộ khẩu cho tôi, cho em gái em trai được vô ngành sư phạm. Xã mời tôi giữ chức trưởng ban văn hóa hoặc tập đoàn trưởng sản xuất, họ cho tùy ý chọn. Nói thiệt tôi chẳng có ham hố chi mấy cái chức vụ đó nên mượn cớ từ chối thật khéo léo. Đôi ba lần ve vãn không thành, xã lại nhờ tôi viết cho vài ba vở kịch cho xã, cho huyện để trình diễn văn nghệ... Tôi biết không cộng tác với họ họ sẽ tìm cớ quấy rối (viết cũng chết, không viết cũng toi mạng.)! Bỗng nhớ tới bài thơ đã viết từ lâu như một lời tiên tri mà ớn lạnh “Duật vân mộng ấy vô thường. Lương thời trôi dạt cuối đường ai hay. Vân Tiên giấu mặt đường cày. Vương Tử Trực gánh tai bay vạ đời.”!

     Xã, họ mời cộng tác chẳng qua là nhốt vô (cái lồng) để ngồi chơi mà không dám hót cũng như tiện bề kiểm soát. Tôi lấy cớ cuộc sống khó khăn xin đi làm công nhân ở “nông trường cao su”, xã chấp thuận. Vậy là tôi đành ngậm ngùi ra đi khỏi ngôi nhà thân yêu hầu giữ bình yên cho mẹ cho các em. Dù gì thì các em bây giờ cũng đã là cô giáo, thầy giáo. Tôi thương mẹ, nhưng cả cuộc đời tôi cuốn hút bởi chiến tranh tù đày, thời gian ở gần bên mẹ chẳng được bao nhiêu! Tôi cảm ơn cô em gái đã khuyến khích tôi mần thơ và kết quả đã mỹ mãn. Bây giờ công thành thì thân phải thối lui để giữ ân tình, giữ mạng sống.

     Một thời gian sau tôi được đi tỵ nạn chính trị ở nước ngoài, các em bám theo nghề dạy học trầm trầy trầm trật mấy chục năm chừ đã về hưu với số lương hưu ít ỏi. Đáo cuộc gia mê các em cùng gia đình ra nước ngoài định cư.

     Ngày sum họp gia đình nơi xứ người, các em của tôi thổ lộ tâm lòng: Ông Ngô Đình Nhu, đã nói: “Giáo Dục Là Một Cái Đền Thiêng.”. Trong xã hội ngày nay cái đền thiêng đó đã không linh thiêng nữa. Người ta lấy đền thiêng ra làm nơi kinh doanh buôn bán chữ nghĩa để làm giàu! Sở dĩ em theo nghề giáo là hy vọng giữ lại “Tiếng Việt Hàn Lâm”, theo nghề ông cố, ông nội chứ thừa hiểu nghề giáo là cái nghề bạc đãi...! Giáo viên đứng trên bục giảng có khác chi người máy! Họ không công nhận chữ Việt là “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” như thời Việt Nam Cộng Hòa. Chữ Việt bị đảo lộn lung tung từ văn phạm, cú pháp, mạo từ … Đó là “Cái Chết Của Một Ngôn Ngữ”. Cái chết của một ngôn ngữ chẳng khác chi cái chết của quốc gia dân tộc! Giáo sư Hoàng Tụy cũng đã nhắc nhở: “Không phải nền giáo dục của ta lạc hậu đâu, lạc hậu thì ráng đuổi theo may ra còn kịp, nó lạc hướng.”!

     Bài TCứu Rỗi hay bài thơ đi xuống địa ngục chỉ là một sát na. Tôi mần thơ trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng dù chưa bị chìm xuống địa ngục học hỏi được kinh nghiệm quí báu của tiền nhân, hiểu thời hiểu thế, hiểu người hiểu ta. Tôi biết dừng lại đúng thời khắc chẳng cần so kè chút hư danh để phạm sai lầm không thể cứu vãn thì có ích chi.

     Tôi xin mượn câu thơ của Thi hào Đỗ Phủ nhằm kết thúc bài văn: “Văn chương thiên cổ sự , Đắc thất thốn tâm tri”. (Văn chương vốn chuyện ngàn đời. Được mất ở tất lòng mới hay.).

Trang Y Hạ
Những ngày mần rẫy ở Sông Ui, Xuân Tâm (Xuân Lộc).


21/8/26

TIẾNG MÕ


 

LIỄU
Khứ tuế, xuân tàn, hoàng điểu quy,
Thu dung tiều tụy, nguyệt minh tri,
Đông phong tạc dạ xuy hà xứ,
Cánh nhạ tân sầu thướng hiểu mi.
                 Thơ: Tùng Thiện Vương (1819 – 1870).

LIỄU
Năm ngoái ấy xuân tàn hoàng oanh lại,
Dáng trõm lơ bóng trăng rọi chẳng hay.
Gió đông thổi ghi lòng phương nào tới,
Sầu mới dâng hàng mi đọng u hoài.
                                          Trang Y Hạ, Dịch thơ.


CÔ BÉ NHƯỢC


 

XÍCH BÍCH HOÀI CỔ.

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,

Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.

Đông phong bất dữ Chu Lang tiện,

Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều.

                                               Thơ (Đổ Mục).

NHỚ VỀ XÍCH BÍCH.

Mũi kích gãy còn nguyên trong lòng cát,

Tự tay mài hồn thấu cảm triều xưa.

Gió chẳng giúp Chu Du thiêu trận mạc,

Xuân hai Kiều khóa Đồng Tước buồn chưa.

                                    Trang Y Hạ – Dịch.


7/8/26

BỨC TRANH

 



BỨC TRANH.

          "Lò cừ nung nấu sự đời,
           Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương".
                                                 (Cung Oán Ngâm Khúc).


Sương mong mỏng lạnh choàng cô Starbucks
lá non xanh thân nhược ước ngấm vàng
đâu có hưỡn so cảnh đời được mất
chừ rối-nùi chồng lớp tuổi miên-man.

Bà da trắng giấu vết nhăn khóe mắt
điện thoại reo, nhoẻn miệng lộ chân chim
mười giờ nở, bông mười giờ se-sắt
suất thời gian ngựa chứng chạy đâu tìm.

Ông đen sậm râu pha vôi lật-đật
liêu-xiêu dìu cây gậy đuổi theo mây
mùi già đọng ghế bàn bay phảng-phất
mùi cô đơn vương-vấn quyện quán nầy.

lớn da nâu đeo phù-hiệu
nét chữ tràn óng-ánh điểm bờ vai
hồn trường cũ có lẽ nào khả-tiếu
bấm đốt tay vốn-dĩ đã an-bài.

Anh homeless da vàng ngồi trông nắng
mắt lim-dim mơ tưởng dáng Điêu-Thuyền
đường trần ai lượn-lờ qua mấy rặng
ngáy ngủ ngồi qua dốc truân-chuyên.

Chị da đỏ gió trở mùa phai đỏ
nét mỹ-miều rạng-rỡ dấu Mỹ-Sơn
tầm gia-phả vong ngủ yên trong gió
tế-độ tâm văng-vẳng nửa tiếng đờn.

Một ông nọ sờ nạng mòn ngơ-ngác
đôi tay run hồi tưởng chốn biên-cương
gươm giáo gãy trầm sa quân tan tác
chúa sơn lâm lực bất cũng cùng đường.

Một cô chủ trang-đài dìu chú chó
bệ vệ đi đi về hướng xe hơi
nhà giàu chó lịch-lãm không gấu gó
nhảy lên xe quắc mắt khinh khỉnh đời.

Hơi nước phả mắt lờ-mờ kiếng đục
bóng chập-chờn Ngọc-Vạn lặng im *
đất dị tộc có khươi niềm hạnh phúc
bức tranh hoa treo phận gái nổi chìm.

Trang Y Hạ
(San Francisco).
Cước chú:

* - Công chúa Ngọc Vạn, tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn, sanh năm (1605–1656). Cô Công chúa là con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Từ năm 1620, bà được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Cuộc hôn nhân chính trị đó đã giúp Đàng Trong mở rộng đất đai vùng đất Nam Kỳ. Công lao của cô công chúa rất to lớn, nhưng sử nhà Nguyễn ít nhắc tới và cả sau nầy! Buồn thay!







GIÁO DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG.

 


GIÁO DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG.

Tác giả: Trang Y Hạ.
(Trần Phước Hân).

           “Thiện căng ở tại lòng ta,
                Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Kiều (Nguyễn Du).

     “Mục đích của văn hóa là phát triển và nâng cao con người.”. (Tổng thống Ngô Đình Diệm). Chữ Việt từ nay về sau chỉ còn là Mẫu Tự, - còn nội dung văn chương hàn lâm thi phú thì đã đảo lộn theo một hướng khác. Nói cụ thể hơn là “lạc đường”.

     Nguồn gốc Chữ Việt hình thành bởi các Linh Mục thừa sai đi “Rao Giảng Tin Mừng”, các vị đã dùng mẫu tự La Tinh để phiên âm ra chữ Việt. Linh mục Francisco de Pina (1585 – 1625). Người Bồ Đào Nha đã đặt nền móng cho chữ quốc ngữ. Linh mục Alenxander Rhodius (Tiếng La Tinh), chuyển qua tiếng Pháp, là Alexandre de Rhodes. Ông tiếp tục biên soạn để hoàn thành bộ Tự-Điển "Việt-Bồ-La" - Trong tư cách là một công dân của một "Quốc Gia Giáo Tông", (Papal State), thời gian nầy chưa thuộc về nước Pháp”. Hiện nay kẻ bài xích vu khống một cách hàm hồ là thuộc lãnh thổ của nước Pháp (thời đó) nhằm phủ nhận công lao, xóa bỏ tiếng Việt.

     Âm Nhạc mà cả thế giới xài lâu nay cũng xuất xứ từ Thánh Ca Nhà Thờ. “Khoảng năm (991 - 1025), một tu sĩ dòng Biển Đức người Ý tên Guido d'Arezzo trăn trở việc học nhạc quá khó. Thời đó, âm nhạc chủ yếu truyền miệng, chứ chưa biết gọi tên các nốt nhạc. Một bữa nọ, ông chú ý đến bài thánh ca "Ut Queant Laxis", hát để kính Thánh Gioan Tẩy Giả. Từ trong mỗi câu của bài hát đều có nhịp trầm bổng du dương. Guido nảy ra một ý tưởng sẽ tạo ra âm tiết: Ông lấy âm tiết đầu của mỗi câu để đặt tên cho các nốt. Vậy là sáu nốt đầu tiên ra đời: (Ut – Re – Mi – Fa – Sol – La.). Vài thế kỷ sau, người ta bổ sung thêm nốt thứ bảy [7] bằng cách lấy hai chữ cái đầu của: Sancte Iohannes (Lạy Thánh Gioan) = Si. Đến thế kỷ XVII, vì "Ut" hơi khó hát, nên đổi thành "Do", từ đó chúng ta mới có: (Do – Re – Mi – Fa – Sol – La – Si.)”.

     Đạo Thiên Chúa (Công Giáo) rõ ràng đã đem lại nền văn minh cho nhân loại cả tinh thần và vật chất. Vậy cớ chi lại lên án bài xích? Và, tôi cũng không hiểu tại vì lý do gì những vị nhờ học chữ Quốc Ngữ Việt Nam, được đi thi rồi đậu bằng cấp: bác sĩ, kỹ sư, văn sĩ, thi sĩ, cử nhơn, tiến sĩ… lại quay ra bài xích, lăng mạ chữ Việt không tiếc lời. Người xưa nói (Uống nước nhớ nguồn..). “Ẩm thủy tư nguyên.”. Chẳng lẽ các vị chưa hiểu cái đạo lý đó sao?

     Vào ngày 29.5.1941, tại Bờ Hồ Hà Nội đã khánh thành Nhà Bia Alexandre 
Rhodes. Trên mặt Bia ghi tóm tắt cuộc hành trình truyền giáo cũng như công lao 
Alexandre Rhodes đã tạo ra chữ Quốc Ngữ bằng ba thứ tiếng “Quốc Ngữ – Hán 
Tự – Pháp Ngữ”. Vậy mà đêm 29.5.1984, Hà Nội cho công nhân dùng xe cần cẩu kéo tấm bia quăng ra mép hồ xí nghiệp cơ khí 204 (bên ngoài đê Sông Hồng.). Thời Bắc Thuộc Sĩ Nhiếp, Thái thú Giao Chỉ truyền bá chữ Hán cho dân Việt Nam thì được lập đền suy tôn làm “An Nam Học Tổ” xúm nhau gọi Sĩ Vương.
   

     Để hoàn thiện Tiếng Việt, phải trải qua nhiều thời gian và những người Việt góp công lớn lao, gồm các ông: (Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Tịnh Của) tiếp tục truyền bá chữ quốc ngữ ra cả nước. Trong thời Pháp thuộc vẫn có tự do báo chí. Điển hình như các báo đã phát hành, gồm có:

     Các báo Quốc Ngữ Tiếng Việt (Latinh) phát hành đầu tiên là Gia Định Báo “嘉定報)”. Báo do ông Trương Vĩnh Ký làm Chánh Tổng Tài “Redacteur en chef” và ông Huỳnh Tịnh Của làm Chủ Bút. Báo phát hành từ ngày 1.4.1865 và chấm dứt ngày 31.12. 1909. Sau Gia Định bào còn có các báo: Phan Yên Báo (1868); Nông Cổ Mín Đàm (1900); Lục Tỉnh Tân Văn (1910); Công Luận Báo (1916); Đông Dương Tạp Chí (1913 – 1919); Nam Phong Tạp Chí (1917 – 1934); Đông Pháp Thời Báo (1923); Phụ Nữ Tân Văn (1929 – 1935). Đặc biệt có tờ báo Công giáo Nam Kỳ Địa Phận (1908 – 1945).

     Thời thuộc địa Pháp đã có được tự do báo chí. Chẳng lẽ vì lý do “Tự Do Báo Chí” mà người Cộng sản cho rằng chữ Việt là do các Cố đạo Thiên Chúa tạo ra nhằm xâm lăng Việt Nam chứ chẳng đem lại ích lợi gì? Chủ nghĩa Cộng sản hình thành từ cuộc cách mạng tháng mười, năm 1917 ở Nga. Nghĩa là thuộc lớp sinh sau đẻ muộn. Vậy cớ chi lại lấy cái mộc thời gian ngắn ngủi đó để “qui tội” cho các sự kiện lịch sử, văn học đã có từ trước?

     Ngày nay họ cho rằng: - “Thay đổi chữ viết (chữ Việt) là thay đổi ngôn ngữ”. Xin thưa: Ngôn ngữ là lời nói, tiếng nói giao tiếp của một dân tộc làm sao mà thay đổi được? Quan niệm chữ viết là “Ngôn Ngữ” đó là một tai họa diệt vong đất nước. Phải biết và phải nhớ - Chữ viết không phải là “Ngôn Ngữ”, chữ viết chỉ là một phương tiện để diễn đạt ngôn ngữ; để lưu lại ngôn ngữ, - Đó là “Văn, Thơ, Lịch sử, Nhạc, Họa”. Nếu nói thay đổi chữ viết từ (chữ Hán, chữ Nho, chữ Nôm qua chữ Việt) sẽ làm giảm và làm mất đi “trí nhớ” thì rõ là nói quá hàm hồ. Thành thật mà nói, - nếu có mất là mất ở một số người đã từng học chữ Hán, chữ Nôm mà thôi. Vậy, chữ Việt chỉ ghi lại ngôn ngữ Việt. Chữ Hán thì ghi lại ngôn ngữ Hán. Đôi bên hoàn toàn khác nhau.

     “Văn chương thiên cổ sự , Đắc thất thốn tâm tri”. (Đỗ Phủ). Tạm dịch:
     (Văn chương vốn chuyện ngàn đời. Được mất ở tất lòng mới hay.)

     Tiếng Việt là tiếng độc âm. Tiếp đầu ngữ (prefix), Tiếp vĩ ngữ (suffix) cũng độc âm. Tất cả ngôn ngữ đều có vay mượn ngôn ngữ của nước khác. Hoa Kỳ là một nước vay mượn từ ngữ nước ngoài nhiều nhất. Những chữ, như: “bungalow, amigo, adios, coup d’etat, kindergarten, Salem, ahimsa…” - vay mượn từ tiếng Bengali, Pháp, Đức, Do Thái, Ấn Độ. Tây Ban Nha, Ý…

     Chữ Việt từ lâu đã được quốc tế xếp vào nhóm “Ngôn Ngữ Văn Minh” [Langues de Civilisation] và “Ngôn Ngữ Văn Hóa” [Langues Cultureles] nằm trong khoảng ba ngàn ngôn ngữ nhân loại.
    - Ông Dương Quảng Hàm, nói: “Ở trên hoàn cầu không có thứ chữ viết nào tiện lợi và dễ học dễ biết bằng thứ chữ ấy.” (Dương Quảng Hàm), Việt Nam Văn Học Sử Yếu, 1944, trang.177)".
    - Ông Nguyễn Văn Vĩnh, nói: "Nước Nam ta mai sau nầy hay dở cũng ở chữ Quốc Ngữ”. Ông Phạm Quỳnh nói: "Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn"
    - Ông Phan Chu Trinh nói: "Không Bỏ Chữ Hán Thì Không Cứu Được Nước Nam.".

     Tiếng Việt gốm có: - Hai mươi chín [29] chữ CÁI [29], được xếp theo thứ tự như sau: (A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G,H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.). Cùng theo với 29 mẫu tự là 5 dấu, gồm: {Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng.]. Tất cả tạọ ra một dàn sáu [6] âm giọng Việt Ngữ, nên mỗi khi người ngoại quốc khi nghe người Việt đối thoại gỡ như đang là ca hát líu lo. Còn ráp vần, thì chưa có chữ của quốc gia nào ráp vần dễ dàng, hợp lý như Việt Ngữ. Nhờ đó mà người Việt Nam học chữ Việt chừng ba bốn tháng là biết tường tận mặt chữ và đọc được báo chí cũng như viết thơ.

     Chữ Việt gồm có: (Ba mươi sáu Âm Vị [36]. Mười bốn Nguyên Âm [14]. Hai mươi hai Phụ Âm [22]). Trong lãnh vực thi ca, dùng danh xưng riêng: Dấu Tên các thanh: - Huyền ( ` ) Trầm bình thanh. - Sắc ( ´ ) Phù khứ thanh. - Nặng ( . ) Trầm khứ hay Trầm nhập thanh. - Hỏi ( ̉? ) Trầm thượng thanh. Ngã ( ~ ) Phù thượng thanh. Chữ Việt là một ngôn ngữ rất dễ học, dễ nhớ…! Đặc biệt là nói lái ngược xuôi, tùy ý. Thí dụ: “Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi.” hay “Con cá đối nằm trên cối đá.”. Muốn biết viết lái theo thơ thì tìm đọc thi phẩm của nữ sĩ (Hồ Xuân Hương).

     Chữ Việt luôn luôn gắn liền với vận mệnh dân tộc, đất nước, - rõ ràng là qua “Truyện Kiều”, - một tác phẩm lừng danh chẳng những ở trong nước Việt Nam mà còn lan truyền ra thế giới. Ngoài ra, còn có những tác phẩm văn thơ của nhóm “Tự Lực Văn Đoàn”... Và tiếp theo với hơn hai mươi năm dưới Chính Quyền Quốc Gia Miền Nam đã khai triển một nền giáo dục: - Dân tộc “Nationalistis”. Dân tộc là Yêu tổ quốc, bảo vệ Danh Dự Tổ Quốc và truyền thống xã hội, gia đình, nghề nghiệp… - Nhân bản “Humanistic”. Nhân bản là Tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người. Lấy con người làm cứu cánh để phát triển và phải có trách nhiệm. - Khai phóng “Liberlis”. Khai phóng là Khai triển giá trị khoa học, phát huy tinh thần dân chủ xã hội. Tiếp thu tinh hoa văn hóa, kỹ nghệ thế giới...

     Đó là Triết Lý Giáo Dục của Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa). Từ đó, đã để lại hàng chục ngàn tác phẩm giá trị, từ: - “Văn chương, Thơ, Phú, Âm nhạc, Điện ảnh, Họa, Điêu khắc, Kịch nghệ, Cải lương…”. Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) chỉ có: Chín trăm bốn mươi mốt giáo sư (941), họ được đào tạo từ các quốc gia: (Anh, Pháp, Đức, Ý, Hoa Kỳ…). Dù số “lượng” có ít nhưng “phẩm chất” giáo dục căn bản, đã hình thành một nền giáo dục căn bản tuyệt vời.

     Xuyên qua bao thăng trầm - bởi chiến tranh - bởi xung khắc chủ thuyết vô thần mà phần nhiều người Việt yêu tự do đã bỏ quê hương ra đi định cư ở các quốc gia khác... Tiếc thay, có một ít cá nhân, phe nhóm, đã tự cho mình được cái quyền chỉnh sửa văn phạm Tiếng Việt theo ý riêng, ghép chữ “Hán Việt, Hán Nôm” sai nghĩa, tối nghĩa, tùy ý chỉnh sửa: Văn, Thơ Việt Cổ, truyện Kiều kể cả lịch sử.

Đáng trách hơn lại cho rằng:
    - "Chữ Quốc Ngữ là do các Cố Đạo Thiên Chúa và thực dân Pháp dùng như một công cụ để xâm lược Việt Nam chứ không phục vụ dân tộc cần phải loại bỏ". Nhà nghiên cứu (Nguyễn Đắc Xuân).

     Từ nguyên do chính trị mà Việt Nam hiện hành không công nhận chữ Việt là “QUỐC NGỮ” . Tiếng Việt hiện nay viết, nói sai mạo từ, đảo câu, đảo chữ, pha tiếng lóng, chêm ngoại ngữ, thiếu chủ ngữ "Subject", thiếu Vị Ngữ “Predicate”, sai Từ Vựng "Vocabulary"; sai Văn phạm "Grammar", hoặc nói viết theo cách “cào bằng” xa cạ lẫn nhau, hoặc nói viết không hết ý, không trọn câu văn và hơn nữa là không thể phân biệt đâu là: Danh từ ngoại giao, Danh từ quân sự, Danh từ kinh tế, Chính trị, Khoa học, Tôn giáo… Tuy rằng, chữ Việt chưa có “Hàn Lâm Viện”, nhưng không lẽ vì vậy mà nói viết tùy tiện bằng thứ ngôn ngữ lai căng, quái đản, dị hơm, loạn xạ... Quả thật là rất khó khăn cho việc trau dồi và truyền bá chữ Quốc Ngữ, nhất là dịch thuật...!

     Một vài thí dụ, như: Hiện nay hầu hết không xài chữ RẤT mà xài chữ “Siêu”, chữ "Đỉnh”. Không xài chữ CÓ, mà hầu hết mọi vấn đề, mọi chuyện đều xài chữ “Sở hữu”. Không xài hai chữ GIẢI QUYẾT mà xài "Xử lý". Không xài chữ CÓ THỂ mà xài "Khả năng", Ví dụ: "Khả năng mưa. Khả năng nắng.". Không xài chữ HAY mà xài chữ "Cực kỳ". Không xài NGẠC NHIÊN, BẤT NGỜ mà xài chữ "Sốc" (Shock).

     Có điều kỳ lạ là ngày nay từ văn chương cho tới đối thoại (trong nhà, ngoài ngõ) đều xưng “MÌNH” xa cạ bất kể người lớn, kẻ nhỏ... Cả xã hội hầu như quên bẵng chữ “TÔI”. Chữ Tôi là chữ định hình nhân cách, lòng tự trọng và ngay thẳng, không khúm núm cúi đầu trước cường quyền áp bức... Chữ Mình phần nhiều là để bày tỏ tình cảm vợ chồng, bạn hữu chí thân. “Mình ơi tôi gọi là nhà, Nhà ơi tôi gọi mình là nhà tôi.”. Bùi Giáng. Hoặc: “Mình ơi tôi vẫn nhớ mình, Mình ơi tôi vẩn chờ mình đợi tôi.”. Trang Y Hạ. Mời vô google, Facebook tìm đọc bài: “Chữ Mình và Chữ Tôi.” của tác giả Trang Y Hạ.

     Hiện nay, người ta cố ý nói viết đảo lộn Mạo Từ. Tiếng Việt có Mạo Từ rõ ràng, như: “Cái – Con – Những – Các”. Ngày nay (Văn nói, Văn viết) đều xài lộn xộn 

     Mạo từ: “Cái - Con, Các – Những”. Theo quyển “Việt Nam Văn Phạm” của Trần Trọng Kim: “Mạo từ “Các” dùng để chỉ số nhiều như mạo từ “Những”. Mạo từ “Các” thường đứng trước danh từ để chỉ người hay chỉ vật mà người ta đã biết trước, thấy trước. Hiểu rõ hơn: “Các” là mạo từ xác định. Còn “Những” là mạo từ không xác định. Hoặc “Các” chỉ toàn thể, còn “Những” chỉ bộ phận. Đọc thêm cuốn Tự Điển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huỳnh Tịch Của – Xuất bản năm 1895 sẽ rõ Mạo Từ “CÁI – CON”. Do đó không thể nói: Con chữ (mẹ chữ, cha chữ), Con học sinh, Con xe, Con sân khấu, Con hàng. Con iphone… Hoặc: Cái chó, cái mèo, cái trâu...

     Phải nói rằng chữ nghĩa ngày nay “lộn tùng phèo” như vậy thì sẽ bao giờ mới viết ra được các tác phẩm có giá trị văn chương, văn học…? Dần dà tiếng Việt chỉ còn mớ hỗn tạp lai căng, mất gốc. Cái Chết Của Ngôn Ngữ Là Cái Chết Của Một Quốc Gia và Cái Chết Của Một Ngôn Ngữ Là Cái Chết Của Nhiều Thế Hệ Sinh Sau.

     Ngày xưa, Quân Minh xâm chiếm Đại Việt, Minh Thành Tổ (Chu Nguyên Chương), ra lịnh tiêu hủy nền văn học và các văn kiện chính trị, xã hội, lịch sử lâu đời của Đại Việt. Chỉ trừ sách Phật, sách chữ Hán viết về Trung Hoa.

     Dân Đại Việt thừa hiểu rằng: - Không cần phải đợi tới khi quân Minh chiếm Đại Việt, Đại Việt mới bị đốt sách vở, văn tự… Trước thời nhà Minh, mỗi khi xâm chiếm Đại Việt các vua nhà Hán trước đó đều có chủ trương tận diệt văn hóa Đại Việt, như: Bắt hết nhân tài người Việt đem về Tàu, bắt người Việt học chữ Hán, bắt người Việt theo phong tục, tập quán của người Hán…

     Từ năm một chín bốn lăm [1945] khi “Cộng sản Việt Nam tiếp quản Miền Bắc” họ cũng ra lệnh đốt sách của “Bọn tư sản phản động”. Và sau năm một chín bảy lăm [1975], chiếm miền Nam gọi là “giải phóng” một lần nữa họ tiếp tục ra lệnh đốt sách của bọn “Ngụy phản động”. Họ ghép tội cho nền văn học miền Nam là “Văn Hóa Đồi Trụy” để rồi cho thiêu hủy tất cả - sách, báo, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, văn kiện và lịch sử miền Nam… Các tác giả miền Nam cũng bị họ ghép cho cái tội “Biệt Kích Văn Nghệ” để rồi cho đi tù đày nhiều năm, một số chết trong tù, một số vượt biên tỵ nan khắp nơi ở các quốc gia khác. Toàn bộ nền văn học nghệ thuật Miền Nam trước 1975 là độc hại, cần phải xóa bỏ hết.”. (Trần Long Ẩn). Người Việt với người Việt còn đối xử tệ bạc như vậy huống hồ là người Hán họ nô lệ nước Đại Việt cả hàng ngàn năm.

     Từ mấy chục năm qua, học sinh không được dạy Việt Văn, (Quốc văn), dạy Ngữ Pháp mà thay vào đó là dạy “Ngữ Văn”. Ngữ Văn là ghép hai chữ “Ngôn Ngữ – Văn Học”, nội dung sơ sài khô khan chỉ dạy một chiều, không cho tranh luận, thảo luận và đặt vấn đề tìm ra cái hay cái mới mà chỉ dạy một cách khái quát về Việt Văn, phần nhiều là nhồi nhét chính trị mà những bài văn đó đã được viết theo mẫu sẵn buộc giáo viên phải dạy; buộc học sinh phải học.

     Theo Đào Duy Anh. “Ngữ Học” là một môn học nghiên cứu – bản tính khởi nguyên, sự phát đạt, sự biến thiên của ngôn ngữ (Philologic)”. Vậy môn Ngữ Học là để nghiên cứu chứ không thể dạy cho các học sinh. Ngữ Văn cũng là nghiên cứu, chứ không thể dạy phổ thông.

     Không dạy Việt Văn là giết chết tâm hồn học sinh biến học sinh, sinh viên thành người máy. Học sinh chỉ biết nghe lời tuyệt đối không được phản kháng đặt vấn đề “đúng, sai”. Không dạy Việt Văn (Quốc Văn) là không thể có những Văn sĩ, Thi sĩ để cho ra các tác phẩm lừng danh có giá trị văn học. Và sẽ không bao giờ hy vọng nhận được một "Giải Nobel Văn Chương".

     Ngày xưa sách “Quốc Văn Giáo Khoa Thư", do các học giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận - Biên soạn năm 1926, là bộ sách giáo khoa Tiếng Việt đầu tiên dành cho cấp Tiểu Học. Gồm: ba [3] cuốn và mười [10] bộ sách khác. Sau gần 100 năm ra đời, cho đến nay, “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” vẫn còn giá trị bởi tính toàn diện về mặt kiến thức sư phạm và tính nhân bản của các bài tập đọc.

     Tiếng Việt, chữ nói về “Tương Lai” có năm chữ [5]. Chữ nói về “Hiện Tại” có bảy chữ [7]. Chữ nói về “Quá Khứ” có mười tám chữ [18]. Như vậy, quá khứ định hình cho tương lai. Chúng ta luôn nhìn về quá khứ để đi đúng hướng.
Ông Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, đã từng nói:
- “Để phá hủy bất kỳ quốc gia, không cần phải xử dụng đếm bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất & lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên.”. Lời nói của ông Tổng thống Nelson Mandela, đã được khắc ghi trước cổng trường Đại Học tại Nam Phi.
Tổng thống Đài Loan, Tưởng Giới Thạch, nói:
- "Đất nước bị diệt vong còn có thể phục hưng, văn hóa bị tiêu hủy thì tất cả sẽ bị tiêu diệt.".
-GIÁO DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG” (Cố vấn Ngô Đình Nhu).
- “Không phải nền giáo dục của ta lạc hậu đâu, lạc hậu thì ráng đuổi theo may ra còn kịp, nó lạc hướng.”. (Giáo sư Hoàng Tụy).

     Người Việt, không giữ gìn, trau dồi tiếng Việt, tất nhiên nền giáo dục sẽ không bao giờ bắt kịp với nền văn minh nhân loại và nền kinh tế cũng bị lụn bại, lạc hậu... Giáo dục lạc hậu thì mất tất cả. Lớp hậu sinh sẽ đi làm thuê, làm mướn hoặc ở đợ cho thiên hạ. Tệ hơn nữa là giết chết tâm hồn tuổi thơ dẫn đường cho cái ác ngự trị.

     Không cần thiết phải soạn Tự Điển mới, Từ Điển mới mà soạn sai thì soạn ra để làm gì? Chỉ cần các cuốn cuốn Từ Điển đã có, như: “Từ Điển Hán Việt” của tác giả (Đào Duy Anh) và “Từ Điển Hán Việt” của tác giả (Thiều Chửu). “Tự Điển Tiếng Việt” của (Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ). “Tự Điển Tiếng Việt” (Thanh Nghị). “Tự Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt” của Bác sĩ (Nguyễn Hy Vọng). “Việt Nam Tự Điển” (Khai Trí). Từ Điển Hán Việt Từ Nguyên của (Bửu Kế) là đã hoàn thiện chữ Việt, là quá đủ để giữ tiếng Việt đi đúng hướng, không cần phải mất công để soạn lại Tự điển mới. (Tự Điển soạn sau năm 1975 đều sai tiếng "Hán Việt", sai văn phạm.). Đồng thời tiếp tục dạy cho học sinh, sinh viên các tác phẩm của nhóm “Tự Lực Văn Đoàn”; “Việt Nam Văn Học Sử Yếu”. Và, "Việt Nam Sử Lược" của Dương Quảng Hàm là hoàn hảo rồi. Bước tiếp theo: Thành lập “Viện Hàn Lâm Tiếng Việt”. Ngày trước ở Miền Nam, Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa đã có dự trù thành lập một “Hàn lâm Viện Tiếng Việt”. Nhưng tiếc thay lịch sử đã sang trang…!

     Trong đất trời vạn vật luôn thay đổi, chữ nghĩa theo trào lưu văn minh khoa học kỹ thuật cũng thay đổi theo... Tuy vậy, không có nghĩa là những chữ cũ đem đi bỏ hoặc xóa sổ vĩnh viễn. Các chữ không còn phù hợp đó được xếp vào chữ Việt Cổ ai muốn xài thì xài, - xài cho hợp lý, xài cho hợp tình thì vẫn còn có giá trị. Thí dụ một số chữ cũ như: (Ắt, Đặng, Ngươi, Các ngươi, Bậu, Trẫm, Qua, Bẩm, Tấu, Chàng, Nàng, Mần...). Ngay trong chữ Hán cũng có chữ “Hán Cổ”, nhưng họ không bao giờ xóa bỏ.

     Nhìn chung, ngày nay bất cứ ở lãnh vực nào Chữ Việt cũng sai:
    - “Nhà văn sai, nhà thơ lại càng sai, nhà giáo sai, nhà báo sai, nhà khoa học sai; cử nhân thạc sĩ sai, tiến sĩ giáo sư sai; sách vở giáo trình sai, đề thi đáp án sai, luận văn luận án sai, từ điển sai, âm nhạc sai, văn chương sai, báo chí sai, công văn sai… Tất tần tật đều có sai. Đặc biệt, các nhà báo, nhà ngôn ngữ, giáo viên, giảng viên dạy tiếng Việt và Văn học cũng sai”. Trích từ cô Tiến sĩ Nguyễn Thị Tịnh Thy (Giảng Viên Chương Trình Giáo Dục Khai Phóng.). Văn sĩ Sơn Nam, nói: - “Văn chương Việt Nam sau giải phóng như nước lọt xuống rá.”.

     Viết sai nhiều hiện nay là: Thi sĩ, Văn sĩ, Ký giả. Họ phịa các câu văn, câu thơ rất tối nghĩa, vô nghĩa. Đụng tới họ là họ phản ứng kịch liệt rằng đó là ngôn ngữ thơ văn là nhân cách hóa, thi vị hóa… Hơn nữa là hiện nay xài hệ thống AI, Artificial Intelligence.” (Trí tuệ nhân tạo.) để làm thơ, viết văn, dịch thuật, tạo hình ảnh... “AI” vẫn có hay, cái tốt của “AI”. Tôi không “tẩy chay AI”, nhưng cũng đừng lạm dụng AI để làm bậc thang thăng tiến.

     Tôi còn nhớ rất rõ là ông thầy dạy văn đã dạy như sau: “Các trò một khi xài câu văn của người khác khoảng bốn [4] chữ bắt buộc phải bỏ vô dấu ngoặc kép [“], còn nếu biết tên tác giả thì ghi tên của họ, bằng không sẽ bị kiện là đạo văn.”. Lý do ông thầy dạy là bởi: - bốn chữ đã hình thành một câu thành ngữ. Ví dụ: “Ăn chắc mặc bền”; “Gần mũi xa mồm”. Và, thầy còn nói “Muốn luyện văn giỏi thì mua nhật trình mà đọc.”.

     Phải hiểu cho rằng: (văn nói và văn chương) khác nhau nhiều lắm; khác nhau xa lắm. Văn nói là nói cách nào miễn người đối diện nghe hiểu là được, không cần văn vẻ, trau chuốc hoặc đúng văn phạm, câu cú... Còn “văn viết” hay còn gọi là “Văn Chương Hàn Lâm thì lại khác. Theo (Hán Tự), chữ “Chương” có nghĩa là “Rực Rỡ, Trong Sáng”. Do đó, văn chương là phải viết đầy đủ: “Chủ ngữ, vị ngữ, văn phạm, chánh tả”. Và phải viết tròn câu, đủ ý, cũng như: “Trau chuốc câu văn kỹ lưỡng”. Hán Tự gọi là “tu từ”, chứ không thể viết kiểu lấp lửng, lơ lửng ai hiểu sao cũng được.

     Thiết nghĩ, Tiếng và chữ Việt vẫn còn, còn theo cách nào thì trách nhiệm đó không hẳn là trách nhiệm của các nhà giáo, nhà ngôn ngữ, mà là của mọi người.

Trang Y Hạ 
(Trần Phước Hân) San Francisco.