GIÁO
DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG.
Tác
giả: Trang Y Hạ.
(Trần
Phước Hân).
“Thiện
căng ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài”. Kiều (Nguyễn Du).
“Mục
đích của văn hóa là phát triển và nâng cao con người.”.
(Tổng thống Ngô Đình Diệm). Chữ Việt từ nay về sau
chỉ còn là Mẫu Tự, - còn nội dung văn chương hàn lâm
thi phú thì đã đảo lộn theo một hướng khác. Nói cụ
thể hơn là “lạc đường”.
Nguồn
gốc Chữ Việt hình thành bởi các Linh Mục thừa sai đi
“Rao Giảng Tin Mừng”, các vị đã dùng mẫu
tự La Tinh để phiên âm ra chữ Việt. Linh mục Francisco
de Pina (1585 – 1625). Người Bồ Đào Nha đã đặt nền
móng cho chữ quốc ngữ. Linh mục Alenxander Rhodius (Tiếng
La Tinh), chuyển qua tiếng Pháp, là Alexandre de Rhodes. Ông
tiếp tục biên soạn để hoàn thành bộ Tự-Điển
"Việt-Bồ-La" - Trong tư cách là một công dân của
một "Quốc Gia Giáo Tông", (Papal State), thời gian
nầy chưa thuộc về nước Pháp”. Hiện nay kẻ bài xích
vu khống một cách hàm hồ là thuộc lãnh thổ của nước
Pháp (thời đó) nhằm phủ nhận công lao, xóa bỏ tiếng
Việt.
Âm
Nhạc mà cả thế giới xài lâu nay cũng xuất xứ từ
Thánh Ca Nhà Thờ. “Khoảng năm (991 - 1025), một tu sĩ dòng Biển
Đức người Ý tên Guido d'Arezzo trăn trở việc học nhạc
quá khó. Thời đó, âm nhạc chủ yếu truyền miệng, chứ
chưa biết gọi tên các nốt nhạc. Một bữa nọ, ông chú
ý đến bài thánh ca "Ut Queant Laxis", hát để kính
Thánh Gioan Tẩy Giả. Từ trong mỗi câu của bài hát đều
có nhịp trầm bổng du dương. Guido nảy ra một ý tưởng sẽ tạo ra âm tiết: Ông lấy âm tiết đầu của mỗi câu để
đặt tên cho các nốt. Vậy là sáu nốt đầu tiên ra đời:
(Ut – Re – Mi – Fa – Sol – La.). Vài thế kỷ sau, người
ta bổ sung thêm nốt thứ bảy [7] bằng cách lấy hai chữ
cái đầu của: Sancte Iohannes (Lạy Thánh Gioan) = Si. Đến
thế kỷ XVII, vì "Ut" hơi khó hát, nên đổi thành
"Do", từ đó chúng ta mới có: (Do – Re – Mi –
Fa – Sol – La – Si.)”.
Đạo
Thiên Chúa (Công Giáo) rõ ràng đã đem lại nền văn minh
cho nhân loại cả tinh thần và vật chất. Vậy cớ chi
lại lên án bài xích? Và, tôi cũng không hiểu tại vì lý
do gì những vị nhờ học chữ Quốc Ngữ Việt Nam, được
đi thi rồi đậu bằng cấp: bác sĩ, kỹ sư, văn sĩ, thi
sĩ, cử nhơn, tiến sĩ… lại quay ra bài xích, lăng mạ
chữ Việt không tiếc lời. Người xưa nói (Uống nước
nhớ nguồn..). “Ẩm thủy tư nguyên.”. Chẳng lẽ các
vị chưa hiểu cái đạo lý đó sao?
Vào ngày 29.5.1941, tại
Bờ Hồ Hà Nội đã khánh thành Nhà Bia Alexandre
Rhodes. Trên mặt Bia ghi tóm tắt cuộc hành trình truyền giáo
cũng như công lao
Alexandre Rhodes đã tạo ra chữ Quốc Ngữ
bằng ba thứ tiếng “Quốc Ngữ – Hán
Tự – Pháp Ngữ”.
Vậy mà đêm 29.5.1984, Hà Nội cho công nhân dùng xe cần
cẩu kéo tấm bia quăng ra mép hồ xí nghiệp cơ khí 204
(bên ngoài đê Sông Hồng.). Thời Bắc Thuộc Sĩ Nhiếp,
Thái thú Giao Chỉ truyền bá chữ Hán cho dân Việt Nam thì được lập đền suy tôn làm “An Nam Học Tổ” xúm nhau
gọi Sĩ Vương.
Để
hoàn thiện Tiếng Việt, phải trải qua nhiều thời gian
và những người Việt góp công lớn lao, gồm các ông:
(Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh
Tịnh Của) tiếp tục truyền bá chữ quốc ngữ ra cả
nước. Trong thời Pháp thuộc vẫn có tự do báo chí. Điển
hình như các báo đã phát hành, gồm có:
Các
báo Quốc Ngữ Tiếng Việt (Latinh) phát hành đầu tiên là
Gia Định Báo “嘉定報)”.
Báo do ông Trương Vĩnh Ký làm Chánh Tổng Tài “Redacteur
en chef” và ông Huỳnh Tịnh Của làm Chủ Bút. Báo phát
hành từ ngày 1.4.1865 và chấm dứt ngày 31.12. 1909. Sau Gia
Định bào còn có các báo: Phan Yên Báo (1868); Nông Cổ
Mín Đàm (1900); Lục Tỉnh Tân Văn (1910); Công Luận Báo
(1916); Đông Dương Tạp Chí (1913 – 1919); Nam Phong Tạp
Chí (1917 – 1934); Đông Pháp Thời Báo (1923); Phụ Nữ Tân
Văn (1929 – 1935). Đặc biệt có tờ báo Công giáo Nam Kỳ
Địa Phận (1908 – 1945).
Thời thuộc địa
Pháp đã có được tự do báo chí. Chẳng lẽ vì lý do
“Tự Do Báo Chí” mà người Cộng sản cho rằng chữ
Việt là do các Cố đạo Thiên Chúa tạo ra nhằm xâm lăng
Việt Nam chứ chẳng đem lại ích lợi gì? Chủ nghĩa Cộng
sản hình thành từ cuộc cách mạng tháng mười, năm 1917
ở Nga. Nghĩa là thuộc lớp sinh sau đẻ muộn. Vậy cớ
chi lại lấy cái mộc thời gian ngắn ngủi đó để “qui
tội” cho các sự kiện lịch sử, văn học đã có từ
trước?
Ngày
nay họ cho rằng: - “Thay đổi chữ viết (chữ Việt)
là thay đổi ngôn ngữ”. Xin thưa: Ngôn ngữ là
lời nói, tiếng nói giao tiếp của một dân tộc làm sao
mà thay đổi được? Quan niệm chữ viết là “Ngôn Ngữ”
đó là một tai họa diệt vong đất nước. Phải biết và
phải nhớ - Chữ viết không phải là “Ngôn Ngữ”, chữ
viết chỉ là một phương tiện để diễn đạt ngôn ngữ;
để lưu lại ngôn ngữ, - Đó là “Văn, Thơ, Lịch sử,
Nhạc, Họa”. Nếu nói thay đổi chữ viết từ (chữ
Hán, chữ Nho, chữ Nôm qua chữ Việt) sẽ làm giảm và
làm mất đi “trí nhớ” thì rõ là nói quá hàm hồ.
Thành thật mà nói, - nếu có mất là mất ở một số
người đã từng học chữ Hán, chữ Nôm mà thôi. Vậy,
chữ Việt chỉ ghi lại ngôn ngữ Việt. Chữ Hán thì ghi
lại ngôn ngữ Hán. Đôi bên hoàn toàn khác nhau.
“Văn
chương thiên cổ sự , Đắc thất thốn tâm tri”.
(Đỗ Phủ). Tạm dịch:
(Văn
chương vốn chuyện ngàn đời. Được mất ở tất lòng mới
hay.)
Tiếng
Việt là tiếng độc âm. Tiếp đầu ngữ (prefix), Tiếp
vĩ ngữ (suffix) cũng độc âm. Tất cả ngôn ngữ đều có
vay mượn ngôn ngữ của nước khác. Hoa Kỳ là một nước
vay mượn từ ngữ nước ngoài nhiều nhất. Những chữ,
như: “bungalow, amigo, adios, coup d’etat, kindergarten, Salem,
ahimsa…” - vay mượn từ tiếng Bengali, Pháp, Đức, Do
Thái, Ấn Độ. Tây Ban Nha, Ý…
Chữ Việt từ lâu
đã được quốc tế xếp vào nhóm “Ngôn Ngữ Văn Minh”
[Langues de Civilisation] và “Ngôn Ngữ Văn Hóa” [Langues
Cultureles] nằm trong khoảng ba ngàn ngôn ngữ nhân loại.
- Ông Dương Quảng Hàm,
nói: “Ở trên hoàn cầu không có thứ chữ viết nào
tiện lợi và dễ học dễ biết bằng thứ chữ ấy.”
(Dương Quảng Hàm), Việt Nam Văn Học Sử Yếu, 1944,
trang.177)".
- Ông Nguyễn Văn
Vĩnh, nói: "Nước Nam ta mai sau nầy hay dở cũng ở
chữ Quốc Ngữ”. Ông Phạm Quỳnh nói: "Truyện
Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn"
- Ông Phan Chu Trinh nói: "Không Bỏ Chữ Hán Thì Không
Cứu Được Nước Nam.".
Tiếng
Việt gốm có: - Hai mươi chín [29] chữ CÁI [29], được
xếp theo thứ tự như sau: (A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G,H,
I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.). Cùng theo
với 29 mẫu tự là 5 dấu, gồm: {Sắc, Huyền, Hỏi,
Ngã, Nặng.]. Tất cả tạọ ra một dàn sáu [6] âm giọng
Việt Ngữ, nên mỗi khi người ngoại quốc khi nghe người
Việt đối thoại gỡ như đang là ca hát líu lo. Còn ráp
vần, thì chưa có chữ của quốc gia nào ráp vần dễ
dàng, hợp lý như Việt Ngữ. Nhờ đó mà người
Việt Nam học chữ Việt chừng ba bốn tháng là biết
tường tận mặt chữ và đọc được báo chí cũng như
viết thơ.
Chữ
Việt gồm có: (Ba mươi sáu Âm Vị [36]. Mười bốn Nguyên
Âm [14]. Hai mươi hai Phụ Âm [22]). Trong lãnh vực thi ca,
dùng danh xưng riêng: Dấu Tên các thanh: - Huyền ( ` ) Trầm
bình thanh. - Sắc ( ´ ) Phù khứ thanh. - Nặng ( . ) Trầm
khứ hay Trầm nhập thanh. - Hỏi ( ̉? ) Trầm thượng
thanh. Ngã ( ~ ) Phù thượng thanh. Chữ Việt là một ngôn
ngữ rất dễ học, dễ nhớ…! Đặc biệt là nói lái
ngược xuôi, tùy ý. Thí dụ: “Chú phỉnh tôi rồi chính
phủ ơi.” hay “Con cá đối nằm trên cối đá.”. Muốn
biết viết lái theo thơ thì tìm đọc thi phẩm của nữ
sĩ (Hồ Xuân Hương).
Chữ
Việt luôn luôn gắn liền với vận mệnh dân tộc, đất
nước, - rõ ràng là qua “Truyện Kiều”, - một tác phẩm
lừng danh chẳng những ở trong nước Việt Nam mà còn lan
truyền ra thế giới. Ngoài ra, còn có những tác phẩm văn
thơ của nhóm “Tự Lực Văn Đoàn”... Và tiếp theo với
hơn hai mươi năm dưới Chính Quyền Quốc Gia Miền Nam đã
khai triển một nền giáo dục: - Dân tộc “Nationalistis”.
Dân tộc là Yêu tổ quốc, bảo vệ Danh Dự Tổ Quốc và
truyền thống xã hội, gia đình, nghề nghiệp… - Nhân
bản “Humanistic”. Nhân bản là Tôn trọng giá trị
thiêng liêng của con người. Lấy con người làm cứu cánh
để phát triển và phải có trách nhiệm. - Khai phóng
“Liberlis”. Khai phóng là Khai triển giá trị khoa học,
phát huy tinh thần dân chủ xã hội. Tiếp thu tinh hoa văn
hóa, kỹ nghệ thế giới...
Đó
là Triết Lý Giáo Dục của Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa).
Từ đó, đã để lại hàng chục ngàn tác phẩm giá trị,
từ: - “Văn chương, Thơ, Phú, Âm nhạc, Điện ảnh,
Họa, Điêu khắc, Kịch nghệ, Cải lương…”. Miền Nam
(Việt Nam Cộng Hòa) chỉ có: Chín trăm bốn mươi mốt
giáo sư (941), họ được đào tạo từ các quốc gia:
(Anh, Pháp, Đức, Ý, Hoa Kỳ…). Dù số “lượng” có ít
nhưng “phẩm chất” giáo dục căn bản, đã hình thành
một nền giáo dục căn bản tuyệt vời.
Xuyên
qua bao thăng trầm - bởi chiến tranh - bởi xung khắc chủ
thuyết vô thần mà phần nhiều người Việt yêu tự do
đã bỏ quê hương ra đi định cư ở các quốc gia khác...
Tiếc thay, có một ít cá nhân, phe nhóm, đã tự cho mình
được cái quyền chỉnh sửa văn phạm Tiếng Việt theo ý
riêng, ghép chữ “Hán Việt, Hán Nôm” sai nghĩa, tối
nghĩa, tùy ý chỉnh sửa: Văn, Thơ Việt Cổ, truyện Kiều
kể cả lịch sử.
Đáng
trách hơn lại
cho rằng:
- "Chữ Quốc
Ngữ là do các Cố Đạo Thiên Chúa và thực dân Pháp dùng
như một công cụ để xâm lược Việt Nam chứ không phục
vụ dân tộc cần phải loại bỏ". Nhà nghiên cứu
(Nguyễn Đắc Xuân).
Từ nguyên do chính
trị mà Việt Nam hiện hành không công nhận chữ Việt là
“QUỐC NGỮ” . Tiếng Việt hiện nay viết, nói
sai mạo từ, đảo câu, đảo chữ, pha tiếng lóng, chêm
ngoại ngữ, thiếu chủ ngữ "Subject", thiếu Vị
Ngữ “Predicate”, sai Từ Vựng "Vocabulary"; sai
Văn phạm "Grammar", hoặc nói viết theo cách “cào
bằng” xa cạ lẫn nhau, hoặc nói viết không hết ý,
không trọn câu văn và hơn nữa là không thể phân biệt
đâu là: Danh từ ngoại giao, Danh từ quân sự, Danh từ
kinh tế, Chính trị, Khoa học, Tôn giáo… Tuy rằng, chữ
Việt chưa có “Hàn Lâm Viện”, nhưng không lẽ vì vậy
mà nói viết tùy tiện bằng thứ ngôn ngữ lai căng, quái
đản, dị hơm, loạn xạ... Quả thật là rất khó khăn
cho việc trau dồi và truyền bá chữ Quốc Ngữ, nhất là
dịch thuật...!
Một vài thí dụ,
như: Hiện nay hầu hết không xài chữ RẤT mà xài chữ
“Siêu”, chữ "Đỉnh”. Không xài chữ CÓ, mà hầu hết mọi vấn đề, mọi chuyện đều
xài chữ “Sở hữu”. Không xài hai chữ GIẢI QUYẾT mà
xài "Xử lý". Không xài chữ CÓ THỂ mà xài "Khả
năng", Ví dụ: "Khả năng mưa. Khả năng nắng.". Không xài chữ HAY mà xài chữ "Cực kỳ".
Không xài NGẠC NHIÊN, BẤT NGỜ mà xài chữ "Sốc"
(Shock).
Có điều kỳ lạ
là ngày nay từ văn chương cho tới đối thoại (trong nhà,
ngoài ngõ) đều xưng “MÌNH” xa cạ bất kể người
lớn, kẻ nhỏ... Cả xã hội hầu như quên bẵng chữ
“TÔI”. Chữ Tôi là chữ định hình nhân cách, lòng tự
trọng và ngay thẳng, không khúm núm cúi đầu trước
cường quyền áp bức... Chữ Mình phần nhiều là để
bày tỏ tình cảm vợ chồng, bạn hữu chí thân. “Mình
ơi tôi gọi là nhà, Nhà ơi tôi gọi mình là nhà tôi.”.
Bùi Giáng. Hoặc: “Mình ơi tôi vẫn nhớ mình, Mình ơi
tôi vẩn chờ mình đợi tôi.”. Trang Y Hạ. Mời vô
google, Facebook tìm đọc bài: “Chữ Mình và Chữ Tôi.”
của tác giả Trang Y Hạ.
Hiện nay, người
ta cố ý nói viết đảo lộn Mạo Từ. Tiếng Việt có
Mạo Từ rõ ràng, như: “Cái – Con – Những – Các”.
Ngày nay (Văn nói, Văn viết) đều xài lộn xộn
Mạo từ: “Cái -
Con, Các – Những”. Theo quyển “Việt Nam Văn
Phạm” của Trần Trọng Kim: “Mạo từ “Các” dùng để
chỉ số nhiều như mạo từ “Những”. Mạo từ “Các”
thường đứng trước danh từ để chỉ người hay chỉ
vật mà người ta đã biết trước, thấy trước. Hiểu
rõ hơn: “Các” là mạo từ xác định. Còn “Những”
là mạo từ không xác định. Hoặc “Các” chỉ toàn
thể, còn “Những” chỉ bộ phận. Đọc thêm cuốn Tự Điển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huỳnh
Tịch Của – Xuất bản năm 1895 sẽ rõ Mạo Từ “CÁI –
CON”. Do
đó không thể nói: Con chữ (mẹ chữ, cha chữ), Con học sinh, Con xe, Con sân khấu, Con hàng. Con iphone… Hoặc: Cái chó, cái
mèo, cái trâu...
Phải nói rằng chữ
nghĩa ngày nay “lộn tùng phèo” như vậy thì sẽ bao giờ
mới viết ra được các tác phẩm có giá trị văn chương,
văn học…? Dần dà tiếng Việt chỉ còn mớ hỗn tạp
lai căng, mất gốc. Cái Chết
Của
Ngôn
Ngữ
Là
Cái
Chết
Của
Một Quốc
Gia
và Cái
Chết Của Một Ngôn Ngữ Là Cái Chết Của Nhiều Thế Hệ
Sinh Sau.
Ngày xưa, Quân Minh
xâm chiếm Đại Việt, Minh Thành Tổ (Chu Nguyên Chương),
ra lịnh tiêu hủy nền văn học và các văn kiện chính
trị, xã hội, lịch sử lâu đời của Đại Việt. Chỉ
trừ sách Phật, sách chữ Hán viết về Trung Hoa.
Dân Đại Việt
thừa hiểu rằng: - Không cần phải đợi tới khi quân
Minh chiếm Đại Việt, Đại Việt mới bị đốt sách vở,
văn tự… Trước thời nhà Minh, mỗi khi xâm chiếm Đại
Việt các vua nhà Hán trước đó đều có chủ trương tận
diệt văn hóa Đại Việt, như: Bắt hết nhân tài người
Việt đem về Tàu, bắt người Việt học chữ Hán, bắt
người Việt theo phong tục, tập quán của người Hán…
Từ năm một chín
bốn lăm [1945] khi “Cộng sản Việt Nam tiếp quản Miền
Bắc” họ cũng ra lệnh đốt sách của “Bọn tư
sản phản động”. Và sau năm một chín bảy lăm
[1975], chiếm miền Nam gọi là “giải phóng” một lần
nữa họ tiếp tục ra lệnh đốt sách của bọn “Ngụy
phản động”. Họ ghép tội cho nền văn học miền
Nam là “Văn Hóa Đồi Trụy” để rồi cho
thiêu hủy tất cả - sách, báo, âm nhạc, điện ảnh,
kịch nghệ, văn kiện và lịch sử miền Nam… Các tác
giả miền Nam cũng bị họ ghép cho cái tội “Biệt
Kích Văn Nghệ” để rồi cho đi tù đày nhiều
năm, một số chết trong tù, một số vượt biên tỵ nan
khắp nơi ở các quốc gia khác. “Toàn
bộ nền văn học nghệ thuật Miền Nam trước 1975 là độc
hại, cần phải xóa bỏ hết.”. (Trần Long Ẩn). Người Việt với
người Việt còn đối xử tệ bạc như vậy huống hồ
là người Hán họ nô lệ nước Đại Việt cả hàng ngàn
năm.
Từ mấy chục năm
qua, học sinh không được dạy Việt Văn, (Quốc văn), dạy
Ngữ Pháp mà thay vào đó là dạy “Ngữ Văn”. Ngữ Văn
là ghép hai chữ “Ngôn Ngữ – Văn Học”, nội dung sơ
sài khô khan chỉ dạy một chiều, không cho tranh luận,
thảo luận và đặt vấn đề tìm ra cái hay cái mới mà
chỉ dạy một cách khái quát về Việt Văn, phần nhiều
là nhồi nhét chính trị mà những bài văn đó đã được
viết theo mẫu sẵn buộc giáo viên phải dạy; buộc học
sinh phải học.
Theo Đào Duy Anh.
“Ngữ Học” là một môn học nghiên cứu – bản tính
khởi nguyên, sự phát đạt, sự biến thiên của ngôn ngữ
(Philologic)”. Vậy môn Ngữ Học là để nghiên cứu chứ
không thể dạy cho các học sinh. Ngữ Văn cũng là nghiên
cứu, chứ không thể dạy phổ thông.
Không dạy Việt
Văn là giết chết tâm hồn học sinh biến học sinh, sinh
viên thành người máy. Học sinh chỉ biết nghe lời tuyệt
đối không được phản kháng đặt vấn đề “đúng,
sai”. Không dạy Việt Văn (Quốc Văn) là không thể có
những Văn sĩ, Thi sĩ để cho ra các tác phẩm lừng danh
có giá trị văn học. Và sẽ không bao giờ hy vọng nhận
được một "Giải Nobel Văn Chương".
Ngày xưa sách
“Quốc Văn Giáo Khoa Thư", do các học giả Trần
Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận
- Biên soạn năm 1926, là bộ sách giáo khoa Tiếng Việt
đầu tiên dành cho cấp Tiểu Học. Gồm: ba [3] cuốn và
mười [10] bộ sách khác. Sau gần 100 năm ra đời, cho đến
nay, “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” vẫn còn giá trị bởi
tính toàn diện về mặt kiến thức sư phạm và tính nhân
bản của các bài tập đọc.
Tiếng Việt, chữ
nói về “Tương Lai” có năm chữ [5]. Chữ nói về
“Hiện Tại” có bảy chữ [7]. Chữ nói về “Quá Khứ”
có mười tám chữ [18]. Như vậy, quá khứ định hình cho
tương lai. Chúng ta luôn nhìn về quá khứ để đi đúng
hướng.
Ông Tổng thống
Nam Phi Nelson Mandela, đã từng nói:
- “Để phá hủy
bất kỳ quốc gia, không cần phải xử dụng đếm bom
nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất
& lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ
thi của sinh viên.”. Lời nói của ông Tổng thống
Nelson Mandela, đã được khắc ghi trước cổng trường
Đại Học tại Nam Phi.
Tổng thống Đài
Loan, Tưởng Giới Thạch, nói:
- "Đất nước
bị diệt vong còn có thể phục hưng, văn hóa bị tiêu
hủy thì tất cả sẽ bị tiêu diệt.".
-
“GIÁO DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG” (Cố
vấn Ngô Đình Nhu).
-
“Không phải nền giáo dục của ta lạc hậu đâu, lạc
hậu thì ráng đuổi theo may ra còn kịp, nó lạc hướng.”.
(Giáo sư Hoàng Tụy).
Người
Việt, không giữ gìn, trau dồi tiếng Việt, tất nhiên
nền giáo dục sẽ không bao giờ bắt kịp với nền văn
minh nhân loại và nền kinh tế cũng bị lụn bại, lạc
hậu... Giáo dục lạc hậu thì mất tất cả. Lớp hậu
sinh sẽ đi làm thuê, làm mướn hoặc ở đợ cho thiên
hạ. Tệ hơn nữa là giết chết tâm hồn tuổi thơ dẫn
đường cho cái ác ngự trị.
Không
cần thiết phải soạn Tự Điển mới, Từ Điển mới mà
soạn sai thì soạn ra để làm gì? Chỉ cần các cuốn
cuốn Từ Điển đã có, như: “Từ Điển Hán Việt”
của tác giả (Đào Duy Anh) và “Từ Điển Hán Việt”
của tác giả (Thiều Chửu). “Tự Điển Tiếng Việt”
của (Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ). “Tự Điển Tiếng
Việt” (Thanh Nghị). “Tự Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt”
của Bác sĩ (Nguyễn Hy Vọng). “Việt Nam Tự Điển”
(Khai Trí). Từ Điển Hán Việt Từ Nguyên của (Bửu Kế) là đã hoàn thiện chữ Việt, là quá đủ để
giữ tiếng Việt đi đúng hướng, không cần phải mất
công để soạn lại Tự điển mới. (Tự Điển soạn sau
năm 1975 đều sai tiếng "Hán Việt", sai văn
phạm.). Đồng thời tiếp tục dạy cho học sinh, sinh viên
các tác phẩm của nhóm “Tự Lực Văn Đoàn”; “Việt
Nam Văn Học Sử Yếu”. Và, "Việt Nam Sử Lược"
của Dương Quảng Hàm là hoàn hảo rồi. Bước tiếp
theo: Thành lập “Viện Hàn Lâm Tiếng Việt”. Ngày trước
ở Miền Nam, Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa đã có dự
trù thành lập một “Hàn lâm Viện Tiếng Việt”. Nhưng
tiếc thay lịch sử đã sang trang…!
Trong
đất trời vạn vật luôn thay đổi, chữ nghĩa theo trào
lưu văn minh khoa học kỹ thuật cũng thay đổi theo... Tuy
vậy, không có nghĩa là những chữ cũ đem đi bỏ hoặc
xóa sổ vĩnh viễn. Các chữ không còn phù hợp đó được
xếp vào chữ Việt Cổ ai muốn xài thì xài, - xài cho hợp
lý, xài cho hợp tình thì vẫn còn có giá trị. Thí dụ
một số chữ cũ như: (Ắt, Đặng, Ngươi, Các ngươi,
Bậu, Trẫm, Qua, Bẩm, Tấu, Chàng, Nàng, Mần...).
Ngay trong chữ Hán cũng có chữ “Hán Cổ”, nhưng họ
không bao giờ xóa bỏ.
Nhìn chung, ngày nay
bất cứ ở lãnh vực nào Chữ Việt cũng sai:
- “Nhà văn sai, nhà
thơ lại càng sai, nhà giáo sai, nhà báo sai, nhà khoa học
sai; cử nhân thạc sĩ sai, tiến sĩ giáo sư sai; sách vở
giáo trình sai, đề thi đáp án sai, luận văn luận án
sai, từ điển sai, âm nhạc sai, văn chương sai, báo chí
sai, công văn sai… Tất tần tật đều có sai. Đặc biệt,
các nhà báo, nhà ngôn ngữ, giáo viên, giảng viên dạy
tiếng Việt và Văn học cũng sai”. Trích từ cô Tiến
sĩ Nguyễn Thị Tịnh Thy (Giảng Viên Chương Trình Giáo
Dục Khai Phóng.). Văn sĩ Sơn Nam,
nói: - “Văn chương Việt Nam sau giải phóng như nước
lọt xuống rá.”.
Viết
sai nhiều hiện nay là: Thi
sĩ, Văn
sĩ, Ký
giả. Họ phịa các câu văn, câu thơ rất tối nghĩa, vô
nghĩa. Đụng tới họ là họ phản ứng kịch liệt rằng
đó là ngôn ngữ thơ văn là nhân cách hóa, là
thi vị hóa… Hơn
nữa là hiện nay xài
hệ thống AI,
“Artificial
Intelligence.” (Trí
tuệ nhân tạo.)
để
làm thơ, viết văn, dịch
thuật,
tạo
hình ảnh... “AI”
vẫn có hay, cái tốt của “AI”. Tôi không “tẩy chay
AI”, nhưng cũng đừng lạm dụng AI để làm bậc thang
thăng
tiến.
Tôi
còn nhớ rất rõ là ông thầy dạy văn đã dạy như sau:
“Các trò một khi xài câu văn của người khác khoảng
bốn [4] chữ bắt buộc phải bỏ vô dấu ngoặc kép [“],
còn nếu biết tên tác giả thì ghi tên của họ, bằng
không sẽ bị kiện là đạo văn.”. Lý do ông
thầy dạy là bởi: - bốn chữ là
đã hình thành một câu thành ngữ.
Ví dụ: “Ăn chắc mặc bền”;
“Gần mũi xa mồm”. Và, thầy
còn nói “Muốn luyện văn giỏi
thì mua nhật trình mà đọc.”.
Phải hiểu cho
rằng: (văn nói và văn chương) khác nhau nhiều lắm; khác
nhau xa lắm. Văn nói là nói cách nào miễn người đối
diện nghe hiểu là được, không cần văn vẻ, trau chuốc
hoặc đúng văn phạm, câu cú... Còn “văn viết” hay còn
gọi là “Văn Chương Hàn Lâm” thì lại
khác. Theo (Hán Tự), chữ “Chương” có nghĩa là “Rực
Rỡ, Trong Sáng”. Do đó, văn chương là phải viết đầy
đủ: “Chủ ngữ, vị ngữ, văn phạm, chánh tả”. Và
phải viết tròn câu, đủ ý, cũng như: “Trau chuốc câu
văn kỹ lưỡng”. Hán Tự gọi là “tu từ”, chứ không
thể viết kiểu lấp lửng, lơ lửng ai hiểu sao cũng
được.
Thiết nghĩ, Tiếng
và chữ Việt vẫn còn, còn theo cách nào thì trách nhiệm
đó không hẳn là trách nhiệm của các nhà giáo, nhà ngôn
ngữ, mà là của mọi người.
Trang
Y Hạ
(Trần Phước Hân) San
Francisco.