Thư viện

1/8/26

BUỔI SÁNG NGÓ RA VƯỜN.

 



BUỔI SÁNG NGÓ RA VƯỜN.

        “Bình trầm trâm chiết chi lại hà,
      Tự thiếp kim triêu dữ quân biệt.” *
                                      Thơ: (Bạch Cư Dị).

Chống cằm moi óc tìm phương
bậu chừ ẩn mỏi con đường rong-rêu
dã quỳ sóng gió phập-phều
kiêu-sa ngần ấy trớ-trêu bỗng trầm.

Mảnh thuyền biển tím bặt âm
Cao-Nguyên đất bỏ mưa dầm nắng nung
cây đau nhát búa hóa khùng
cây đau ôm vết lạnh lùng bỏ đi.

Ngàn lời giấu biệt thầm thì
tuyết sương phủ dấu chinh-y chiến-hào
Thanh-Đa mòn mỏi chao-vao
xa nghe muối xát cồn cào ruột gan.

Mật lời ngửng mặt rã hàng
Tướng quân Từ-Hải đã tan lâu rồi
Tiền-Đường nước vỗ không thôi
chút tình tấm-mẳn thấm vôi cau trầu.

Giọt mưa tiền-kiếp hóa châu
xót thay cho mộng công hầu ích chi
gió phơn-phớt mặt Diêu-Trì
còi sương nện gót hàng mi đọng buồn.

Dự tình lạc nẻo chân suôn
thế-nhân, thế-sự gió luồng đêm hoang
biển xô nát bấy dã-tràng
đất Ngô phiêu-bạc, địa đàng nhiễu-nhương.

Duật-vân mộng mỏng vô thường
lương thì trôi miết cuối đường ai hay
Vân-Tiên giấu mặt đường cày
Vương-Tử-Trực gánh tai bay họa trời.

Trịnh-Hâm được nước cười tươi
Thể-Loan đú đởn gặp thời hưởng vinh
mưa gào gió rống ê mình
anh-hùng vô lộ cá kình sình trương.

Sớm mai hồn dõi ra vườn
bậu tôi nhồi nhét mấy chương sử lòa
tang-bồng buổi ấy can-qua
bón cây dĩ-vãng nở hoa tặng đời.

Trang Y Hạ.
Cước chú:
- Cư-xá Thanh-Đa (Bình-Quới). Nay đã bị phá bỏ.
- * (Bình chìm, trâm gãy biết làm sao,
Tự thiếp bữa nay giã biệt chàng.).



VẬN KHỨ TRÙNG SINH.

 



VẬN KHỨ TRÙNG SINH.

Trang Y Hạ.

         “Với tổ quốc: luôn luôn trung thành. Với chánh phủ: chỉ trung thành khi nó xứng đáng.”.Văn sĩ Hoa Kỳ (Mark Twain).

     Tôi sinh ra lớn lên và được ngồi dưới mái trường miền Nam (VNCH), khi trưởng thành tôi phục vụ cho chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi không tự khen rằng sống dưới chế độ tự do Miền Nam - cái gì cũng đều tốt; cái gì cũng đều hay, nhưng những điều tốt điều hay của Miền Nam thì có nhiều. (Cá nhân tôi rất tự hào là đã sống dưới chánh thể miền Nam.). Tôi sống dưới chánh thể miền Nam tự do tôi đã hấp thụ được nền giáo dục nhân bản, truyền thống văn hóa, lịch sử chống ngoại xâm dân tộc. Đồng thời những điều hiến chương Liên Hiệp Quốc viết ra: “Quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc.”, những điều đó luôn hiện hữu ở miền Nam, đó là: “Dân chủ – Tư hữu – Tự do, Nhân quyền – Tự do ngôn luận – Tự do buôn bán – Tự do chọn nơi sống…!”.

     Người dân Miền Nam không sống bằng: “bánh vẽ; bằng biểu ngữ; bằng những lời hứa hẹn dối trá và tôn thờ lãnh tụ.”.

     Sự thật vẫn là sự thật. Người bên gọi là “thắng cuộc” họ: - đã và đang đi theo con đường tự do, văn minh và tư hữu của bên thua cuộc. Sau ngày một chín bảy mươi lăm [1975], người Miền Bắc kéo nhau vô Miền Nam lập nghiệp, chứ người Miền Nam không hề ra ngoài Bắc. Nhưng họ, “bên thắng cuộc” không bao giờ đi tới đích bởi vì họ đã đi lạc qua một hướng khác. “Đường Đi Không Đến”.Tựa sách của văn sĩ hồi chánh (Xuân Vũ).

Người xưa có câu:
     - “Bại vong chi tướng bất khả ngôn dũng,
         Vong quốc chi đại phu, bất khả ngôn trí.”. (Pháp Gia).
Tạm hiểu:
- (Tướng thua trận thì đừng bàn về sự dũng mãnh, Quan để mất nước thì đừng luận tới mưu trí.).

     Thật ra, ý nghĩa câu nói của (Pháp Gia) là có ý khuyên nên nhún nhường, khiêm nhường; khuyên người đời nên biết “chấp nhận thất bại”. Chấp nhận thất bại để nhìn lại tại sao phải thất bại? Thất bại từ đâu mà ra? Người xưa, nói: - “Thắng thì phải thắng cho quang minh chánh đại. Thua cũng phải thua cho có cốt cách.”. Chính tinh thần câu nói đó: - Nội chiến Nam Bắc Mỹ thống nhất trong hòa bình, trong tình yêu thương mà không bị trả thù. Tây Đức, Đông Đức Cộng sản thống nhất không đổ một giọt máu. Tây Đức thống nhất họ không lập ra trại tù “cải tạo” để bỏ tù binh sĩ, công chức Đông Đức. Người dân Đông Đức vẫn được lãnh lương hưu và tiền tiết kiệm gởi ở trong ngân hàng cũng không bị mất. Nước Đức thống nhất không xua đuổi người dân lên rừng đi “kinh tế mới” để lấy nhà của họ. Nước Đức thống nhất, nhưng người dân của họ không bỏ nước ra đi “vượt biên” bằng mọi giá.

     Thất bại chưa thể gọi là nhục nhã! Thất bại là sự khởi đầu cho một chu kỳ mới hoàn thiện hơn. “Thất bại là mẹ thành công.”. Xét cho cùng, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa họ chỉ canh giữ ngôi nhà Miền Nam trước sự tấn công của quân Bắc Việt. Do đó, đừng lấy “thắng, thua” mà hãnh diện, mà luận anh hùng.

     Thua trận, nhưng không thể cúi đầu tự “GIẢI OAN” cho bản thân bằng một chung rượu với nỗi buồn xuôi tay… Tự giải oan là tự làm mất đi Chánh Nghĩa. Người Lính thua trận chứ không thua nhân cách, nhân phẩm, lòng tự trọng. Thắng thua giữa chiến trường người lính không tự quyết định. Sự phản bội từ đồng minh, sự phản bội từ chính người cùng trong một nước. Ví dụ: Tần Cối bắt tay với người Kim sát hại danh tướng Nhạc Phi và Dương Văn Minh và nhóm tướng lãnh phản loạn nhận tiền của Mỹ giết gia đình tổng thống Ngô Đình Diệm vị khai quốc công thần khai sinh nền đệ nhất cộng hòa Miền Nam.

     Người lính buông súng không có nghĩa là đầu hàng, người lính cầm cây viết để viết lại trang sử chánh nghĩa quốc gia. Lịch sử bên “thua trận” viết lên mới trung thực và nhân bản.

     Trong lịch sử Trung Hoa; lịch sử Đại Việt không ít triều đại chịu sự “Thất Bại”, nhưng những di sản văn hóa, kinh tế và kinh nghiệm giữ nước của triều đại thất bại đó vẫn tồn tại như. Đơn cử: Người Mãn Châu chiếm lục địa Trung Hoa lập ra Nhà Mãn Thanh, nhưng lại bị nền văn hóa người Hán đồng hóa. Một thể chế tự do văn minh bị một bọn man di mọi rợ chà đạp không một chút thương tiếc đã từng xảy ra trong quá khứ. Thắng thua bằng bạo lực và dối trá không nói lên được điều gì cả. “Tôi không buồn khi bạn lừa dối tôi. Tôi buồn vì từ bây giờ tôi không thể tin bạn được nữa.”. (Friedrich Nietzche).

     Tuy vậy, cũng có những triều đại thất bại bị nguyền rủa. Triều đại Tần Thủy Hoàng, đốt sách giết học trò; triều Tần ra lịnh cho tướng Bạch Khởi giết chết bốn mươi [40] vạn quân Triệu đã buông gươm giáo đầu hàng. Lịch sử lập lại ở các quốc gia theo cộng sản ở thế kỷ hai mươi.

     Thắng mà không giữ được giang sơn tổ quốc thì thắng làm gì? Thắng mà để đất nước nghèo khổ thì thắng làm gì?

     Muốn đưa một quốc gia tới giàu mạnh, trước tiên là phải nâng Ngành Giáo Dục lên hàng “Quốc Sách”. Giáo dục đi sai hướng sẽ đưa quốc gia xuống địa ngục tối tăm; người dân phải đi làm thuê, làm mướn, ở đợ ra khắp thế giới.

     Xây nhà, làm cầu, làm đường... - bất cứ ai cũng có thể làm được và làm rất dễ dàng. Xây đắp niềm tin, xây đắp giáo dục, xây đắp nhân cách con người, xây đắp một nền công kỹ nghệ cơ khí luyện kim vượt bậc để cạnh tranh với thế giới thì muôn vàn khó khăn. Quan trọng hơn nữa là tạo sự thịnh vượng và bảo vệ quốc gia.

     Giáo dục không phải là một cái chợ nhỏ bên lề đường để kiếm từng đồng tiền lẻ.
        “Nhất niên chi kế mạc ư thụ cốc.
      Thập niên chi kế mạc ư thụ mộc.
      Thập niên chi kế mạc ư thụ mộc.
      Bách niên chi kế mạc ư thụ nhân.”.

     Đó là câu nói trong tác phẩm “Quản Tử” của Quản Trọng Tể Tướng nước Tề, thời Xuân Thu (722 – 479).
Tạm hiểu:
(Kế hoạch một năm không gì bằng trồng lúa. Kế hoạch mười năm không gì bằng trồng cây. Kế hoạch trăm năm không gì bằng trồng người.).

     Đại Hàn Dân Quốc, không kể sự xấu hổ đã ôm nguyên xi một bộ sách giáo khoa thư của người Nhật về dạy cho học sinh. Người Đại Hàn đã gác lại chuyện người Nhật đã chiếm đóng đất nước của họ khi xưa. Họ không dựng “BIA CĂM THÙ” người Nhật. Họ không dạy học sinh lòng căm thù người Nhật. Từ đó, Đại Hàn trở thành một con rồng kinh tế Châu Á, rồi hiện nay là nền kinh tế đứng thứ mười thế giới. Tổng thống Park Chung Hee của Đại Hàn tuyên bố “Bất cứ ai tham nhũng một đồng sẽ bị bắn bỏ.”.

     Hiện nay, Đại Hàn họ cho công việc làm ra thế giới trong đó nhiều nhất là Việt Nam. Hàng chục ngàn ông chủ Nam Hàn ở Việt Nam, người Việt làm thuê trong các hãng xưởng của họ tại Việt Nam, chẳng những vậy người Việt còn làm thuê tại xứ sở Nam Hàn. Con gái Việt Nam vui mừng được lấy con trai Nam Hàn làm chồng và xúm nhau xem phim ảnh của họ.

     Thế giới gọi Đại Hàn Dân Quốc là “Kỳ Tích Sông Hàn”. Cũng cùng thời gian đó ở miền Nam (Sai Gon), chiếc xe hơi La Dalat sản xuất hàng loạt thì gia đình Samsung, “Huyndai” vẫn còn đang làm ruộng. Sinh viên Đại Hàn Dân Quốc xin qua du học tại Sai Gon Miền Nam và họ lấy đó làm vinh dự. Vậy mà chỉ cần mười tám năm [18] thôi mà Nam Hàn đã hóa hổ, hóa rồng vươn vai ngang tầm với thế giới. Bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng thấy sản phẩm của Sam Sung.

     Viết tới đây, tôi chợt nhớ câu thơ: “Dân hai lăm triệu ai người lớn, Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.” của thi sĩ Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu).
Hoặc:
    “Đất nước mình ngộ quá phải không anh. Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn. Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm. Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi.”. Tác giả Cô giáo (Trần Thị Lam).

     “Chân đi chậm nhưng không bao giờ đi lùi.” (Abraham Lincoln).

     Bất cứ nhà cầm quyền nào làm được những điều mà miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) đã thực hiện ắt sẽ đưa đất nước tới phồn vinh hùng mạnh. Ông Thủ tướng Lý Quang Diệu, phát biểu ở Hà Nội, năm 1979, rằng: “Các ông không học đâu xa, học ngay ở miền Nam.”. Ý của Thủ tướng Lý Quang Diệu là (hãy học làm kinh tế của người Miền Nam.).

    "Anh em sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em". Tin Mừng: (Thánh Gioang 8: 32).

    Tự nhiên, tôi lại nhớ tác phẩm đã đọc: “Khung Cửa Hẹp” của (André Gide) & “Kim Vân Kiều” của (Nguyễn Du). “Ai đẩy Thuý Kiều vào lầu xanh? Ai xô Alissa vào khung cửa hẹp? Ta tạm nói theo lối hồ đồ: chính Nguyễn Du đã đẩy Kiều vào lầu xanh; chính Gide đã xô Alissa vào khung cửa hẹp. Để làm gì?”. Trích: “Lời Nói Đầu” trong bản dịch “Khung Cửa Hẹp” của dịch giả Thi sĩ (Bùi Giáng).
Phải chăng thế sự xoay vần như một điệu luân vũ, trong đó - có đúng sai, có thắng thua, có thiện ác - trộn chung mong tìm ra Vận Khứ Trùng Sinh!

                   NHỮNG GÌ ĐÃ CÓ & ĐÃ MẤT:

     *- Thời Miền Nam hầu hết học sinh đi học không đóng học phí (bậc tiểu học). Khi lên trung học, đại học thi đậu vào trường công lập được miễn học phí hoặc học bổng... Không thi đậu trường công thì học trường Tư Thục. Học phí trường tư thục rất vừa lợi tức của phụ huynh. Ngoài ra có thể học Hàm Thụ (qua bưu điện), một khi học hết chương trình hàm thụ thì nộp đơn đi thi. Giá trị chứng chỉ, bằng cấp ngang nhau với trường công lập. Từ đó, nhiều gia đình người Miền Nam sinh nhiều con, nhưng các đứa con của họ được học hành tới nơi tới chốn.

     *- Người dân bị bệnh, đau ốm hay thiên tai ôn dịch... Bệnh Viện chữa bệnh miễn phí chứ không bắt buộc phải đóng tiền trước. Bệnh viện công (chánh phủ) miễn phí khám chữa bệnh cho dân nghèo. Khi lành bệnh - ra khỏi bệnh viện, nếu không tiền đi xe thì bệnh viện cho xe đưa về nhà, cho thuốc đem về nhà uống. Ngoài Bệnh Viện chánh ra thì còn có Nhà Thương Thí, Chẩn Y Viện, Trạm Xá... Tất cả cũng để chỉ phục cho người dân có lợi tức thấp hoặc nạn nhân chiến tranh.

     *- Trẻ em Miền Nam được dạy công dân giáo dục, đức dục nên rất lễ độ với thầy cô, người già - kể cả người quá cố (đám tang). Học sinh xưng lễ phép rõ ràng thứ bậc, chứ không xưng hô theo kiểu cá mè một lứa, như; “Chào mọi người. Chào cả nhà.” hoặc xưng “Mình” với người khác. Học sinh được cung cấp sữa miễn phí và dụng cụ học sinh. (bậc tiểu học). Sách giáo khoa lớp trước giữ lại cho lớp sau tiếp tục học mà không cần thiết phải mua sách mỗi năm rất tốn kém. Không bắt chọn “trương chuyên, lới chuyên”. Nghỉ hè ba tháng, không bắt buộc phải học hè, học thêm… Học sinh đi trên đường, nếu nghe tiếng Quốc ca, thì đứng lại, giở nón đứng nghiêm trang chào cờ. Đó là ý thức công dân giáo dục đối với tổ quốc.

     *- Người dân được quyền lập nhà xuất bản sách báo... Các văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ văn nghệ sĩ có quyền sáng tác theo chủ đề ưa thích chứ không bắt buộc viết ra để phục vụ cho một đảng phái hay một cá nhân. Chánh quyền có “kiểm duyệt” nhưng chỉ kiểm duyệt về an ninh quốc gia, kiểm duyệt về thuần phong mỹ tục, kiển duyệt về văn chương - chứ không độc tài, độc đoán xóa bỏ tác phẩm hoặc bỏ tù tác giả.

      *- Người dân có quyền ứng cử, bầu cử công khai, tự do bỏ phiếu chọn người đại diện. Người dân được quyền biểu tình, bày tỏ chính kiến, nguyện vọng mà không bị chánh quyền đàn áp bắt bớ cầm tù. Ngoại trừ các trường hợp bạo loạn phá rối gây mất an ninh xã hội. Người dân Miền Nam không tôn sùng, tôn thờ lãnh tụ. Không xây tượng đài lãnh tụ. Điển hình trên đồng tiền giấy Miền Nam không hề in hình ảnh tổng thống. Chỉ in hình các vị anh hùng đánh giặc Phương Bắc; in hình cảnh trí quê hương.

     *- Người dân có quyền sở hữu đất đai. Chánh phủ cấp “Bằng Khoán Thổ Trạch”. Chánh phủ không tự tiện tịch thu đất của dân mà không có sự thỏa thuận bồi thường theo giá cả thị trường hợp tình hợp lý. Thời đệ nhất cộng hòa. Chánh phủ có chương trình “Cải Cách Điền Địa”, bằng cách chánh phủ mua lại ruộng đất của địa chủ rồi đem chia cho nông dân canh tác mà không lấy tiền của họ. Thời đệ nhị thì có chương trình “Người Cày Có Ruộng.”. Chánh quyền Miền Nam làm “Cải Cách Điền Địa” không đổ một giọt máu, huống chi là giết địa chủ.

      *- Người dân cầm Sổ Thông Hành, Việt Nam Cộng Hòa có thể được đi tới các quốc gia tự do, mà không cần phải xin visa. Sổ thông hành được các quốc gia tôn trọng. Trong nước, cầm “Thể Căn Cước” đi du lịch hoặc sinh sống khắp bốn vùng chiến thuật, mà không bị chánh quyền địa phương, cảnh sát công lộ chặn đường làm khó dễ hoặc đóng tiền mãi lộ. Ở cấp địa phương, người dân chỉ có một “Tờ Khai Gia Đình” ghi những người sống trong ngôi nhà. Tờ khai gia đình chỉ có hiệu lực về mặt hành chánh. Người thân quên tới nhà thăm viếng không cần phải xin giấy phép “Tạm trú & Tạm vắng”. Tờ Khai Gia Đình không có giá trị đem đi cầm cố hay thế chấp.

     *- Đối với Đồng Bào Sắc Tộc (Cao Nguyên), người sắc tộc được sinh hoạt theo văn hóa lâu đời của họ, chữ viết của họ không bị đồng hóa. Chánh phủ cho họ thành lập một Bộ Sắc Tộc, vị bộ trưởng là người Sắc Tộc, tự cai quản vùng đất và phát triển đời sống với sự trợ cấp của chánh phủ... Đồng bào sắc tộc tự chọn người cai quản Buôn, Làng, chánh phủ không can thiệp. Học sinh người sắc tộc có bằng trung học được đi sĩ quan, được đi học y tá… thay vì phải có bằng tú tài như người kinh.

     *- Người dân tôn trọng thuần phong mỹ tục, không “công xúc tu sỉ”. Nghĩa là nam nữ mỗi khi đi ra đường luôn ăn mặc chỉnh tề, lịch sự văn minh. Không ở trần, mặc quần xà lỏn đi ra đường, không mặc quần áo ngủ đi ra đường. Thời đệ nhất cộng hòa, đã cho ra đời “Bộ Luật Hôn Nhân Gia Đình”. Giấy Giá Thú chỉ ghi một vợ một chồng. Bộ luật chấm dứt quyền đa thê, chồng chúa vợ tôi cũng như tệ nạn tảo hôn đã có từ mấy ngàn năm về trước. Người phụ nữ được coi trọng như nam giới. (Thời VNCH, thanh thiếu niên, học sinh kể cả quân đội không được tự ý cạo trọc đầu. Ngoại trừ người tu hành.).

     *- Người dân được tự do theo đạo và giữ đạo mà không bị chánh phủ lập ra “Sở, Ty” theo dõi, quản lý và ngăn cản, bắt bớ vô lý. Tôn giáo được quyền tự do lập xưởng in để ấn bản kinh thánh, giáo lý. Chánh quyền cấp đất, bán rẻ đất tạo điều kiện để xây chùa, nhà thờ. Chánh quyền không xen vô chuyện tấn phong các chức sắc trong các giáo hội hoặc làm áp lực chính trị gây phiền toái. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Chính quyền cấp đất cho người dân ở các Thôn, Xã xa xôi hẻo lánh thiếu Chùa được phép xây “Khuôn Hội Phật Giáo” để tiện việc sinh hoạt, thờ phượng. Đồng thời các tôn giáo được phép mở trường học và trường đại học.

     *- Người dân có tiền có thể mở trương mục ngân hàng, gửi tiền tiết kiệm lấy lời... Được tự do kinh doanh kể cả xuất nhập cảng. Người dân Miền Nam xài hàng hóa tự sản xuất trong nước chứ không chuộng hàng ngoại, ngoại trừ một số mặt hàng cần thiết. Đồng tiền miền Nam được lưu hành hơn 70 quốc gia. Thời đệ nhất cộng hòa, ba mươi lăm đồng Miền Nam [35] đổi được một Mỹ kim. Chánh quyền có mở chương trình “Xổ Số Kiến Thiết”, số tiền lời từ xổ số dùng để phục vụ nhân sinh. Người dân không bao giờ cầm xấp vé số đi bán dạo khắp đầu đường xó chợ như một nghề sinh sống. Tổng thống Ngô Đình Diệm, ngài dùng tiền lời qua sáu [6] lần xổ số kiến thiết quốc gia để xây Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn.

     *- Ngư phủ đi ra Biển Đông chài lưới, không lo sợ bị hải tặc vì được hải quân bảo vệ, cũng không một quốc gia nào dám ra lệnh cấm ngư phủ chài lưới trong vùng Biển Đông, chủ quyền của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa luôn bảo vệ ngư phủ chài lưới an toàn trong vùng biển tổ quốc. Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã (Nổ Súng Trước), bắn thẳng vào tàu hải quân Trung Cộng khi họ cố tình chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974. Tuy thất bại, nhưng tinh thần chống Phương Bắc đã in sâu trong tâm lòng người lính Việt Nam Cộng Hòa.

     *- Chánh phủ Miền Nam vinh danh chữ Việt, là chữ QUỐC NGỮ, - dạy “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” của Trần Trọng Kim xuất bản năm 1935. và “Việt Nam Văn Học Sử Yếu” của Dương Quảng Hàm xuất bản năm 1941... Đồng thời bảo tồn Chữ Quốc Ngữ, truyền bá Chữ Quốc Ngữ cho toàn dân. Chữ Việt viết đúng theo Tự Điển, Từ Điển, tiêu biểu, như: “Việt Nam Tự Điển”. (Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ)... Giáo dục miền Nam, chủ trương “Nhân Bản – Dân Tộc – Khai Phóng”. Sách Giáo Khoa Miền Nam không dạy học sinh sinh viên “Hận thù và Trả thù.”. Ngoài ra, học sinh muốn luyện văn, muốn viết đúng chánh tả, đúng văn phạm thì cứ tìm báo chí, tạp chí đọc thì sẽ giỏi viết văn. Miền Nam nhớ ơn Giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Đặt tên đường cho Ngài. Chánh phủ Miền Nam bảo tồn di tích lịch sử tiền nhân chứ không đập bỏ hoặc làm biến dạng lai căng.

     *- Thời Miền Nam, tiền lương trả cho giáo sư (Thầy, Cô) cao nhất, cao thứ nhì là bác sĩ, cao thứ ba là kỹ sư... Ông Ngô Đình Nhu, nói: “Giáo Dục Là ĐỀN THIÊNG. Giáo dục đào tạo ra bác sĩ, kỹ sư… Do đó, tiền lương trả cho thầy cô phải cao, kể cả phụ cấp vợ con, nơi ở...”. Bằng cấp: Cử nhân, thạc sĩ, bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư… của Miền Nam được thế giới công nhận. Miền Nam lúc đó chỉ có: - Chín trăm bốn mươi mốt [941] giáo sư tiến sĩ. Tuy ít nhưng họ đã đưa nền giáo dục Miền Nam ngang tầm quốc tế. Chánh phủ mến trọng nhân tài, không phân biệt vùng miền, tôn giáo, bạn thù... Không sưu tra lý lịch, lai lịch ba đời của họ. Dù có đi du học thành tài cũng trở về phục vụ quê hương đất nước. Người theo Việt cộng, nay đã “Hồi Chánh” cũng được các cơ quan chánh phủ trọng dụng tùy theo trình độ. Đồng thời tạo điều kiện để cho họ hòa nhập vô cuộc sống tự do nhân ái.

     *- Miền Nam được Liên Hiệp Quốc công nhận và bảy mươi [70] quốc gia đặt tòa Đại Sứ tại thủ đô Sài Gòn. Dù chiến tranh, nhưng người dân, học sinh sinh viên sống trong cảnh thanh bình. Chánh quyền Miền Nam luôn công bằng nơi chánh sử, không bài xích các triều đại có công khai hoang mở cõi và đánh ngoại xâm Phương Bắc. Không phân biệt, phê phán thiên vị hay bài xích gây chia rẽ lịch sử bất cứ triều đại Đại Việt nào. Sách giáo khoa giảng dạy cho học sinh trong đó có cả các tác phẩm văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, ca sĩ... đang sống ở Miền Bắc.

     *- Thanh niên (nam, nữ) biết giữ gìn nòi giống, mỹ tục. Thời miền Nam (dù chiến tranh), nhưng người dân không bỏ nước ra đi tỵ nạn, đi làm thuê, làm mướn, ở đợ ra khắp thế giới. Phụ nữ không đua nhau lấy chồng ngoại quốc. Bởi chánh quyền thời đệ nhất đã lập các khu kỹ nghệ qui mô... Do đó các kỹ sư sinh viên ra trường đều có chỗ thi thố tài năng. Điển hình như - Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa, Nông Sơn… Các xưởng may mặc Vinatexco, Vimytex... Từ đó sinh viên tốt nghiệp ra trường đều có việc làm. Đồng thời chánh phủ cũng thành lập “Viện Nguyên Tử Đà Lạt”. Một dự án táo bạo mà người Nhật, người Đại Hàn Dân Quốc chưa dám nghĩ tới. Ngày khánh thành, đích thân Tổng thống Ngô Đình Diệm cắt băng khánh thành.

     *- Mã số Điện Thoại Quốc Tế +84 của Việt Nam hiện nay là mã số của Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Mã số (84) sẽ còn tồn tại mãi mãi, không một ai có quyền thay thế.

     *- Mã số Hàng Không Miền Nam: (Mã: IATA) SGN của Phi Trường Tân Sơn Nhứt đã có từ trước năm 1975, được Hiệp Hội Vận Tải Hàng Không Quốc Tế (IATA) đã được quy định dựa trên ba [3] chữ cái đầu của tên gọi Quốc Tế Sai Gon. Dù hiện nay Cộng sản Việt Nam đã xóa bỏ tên Sai-Gon, nhưng mã (SGN) vẫn được giữ nguyên vẹn trên toàn Thế Giới, không ai có thể xóa bỏ.

     Còn nhiều điều hay, điều tốt nữa nhưng tôi chỉ gợi ý bấy nhiêu để lớp hậu bối biết rằng đã có một chánh quyền quốc gia Miền Nam (VNCH) biết lo cho dân; biết bảo tồn Tiếng Việt; biết bảo vệ thuần phong mỹ tục; biết bảo vệ biên cương tổ quốc... Dù chánh phủ miền Nam không còn nhưng giá trị vật chất và tinh thần sẽ không bao giờ mất. Có một vị Linh Mục, nói: “Việt Nam Cộng Hòa chôn rồi mà chưa chết.”. Quả thật là đúng như vậy! Điển hình: Quí vị cứ cảm nhận thưởng thức một nền “Tân Nhạc Quốc Gia” “Văn Chương đồ sộ ắt sẽ tường tận.

                Lịch Sử Tàn Nhẫn, Nhưng Công Bằng:
     “Chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn đối lập với quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Đó là sự chết chóc, chuyên chế và mưu cầu cái ác.”. Tổng thống Hoa Kỳ (Donald J. Trump.).

     Ngày nay hầu hết các quốc gia theo cộng sản đã sụp đổ. Họ theo Tư bản và kinh tế của họ vươn lên giàu mạnh ngang hàng với Nhật, Đại Hàn Dân Quốc, Đài Loan Dân Quốc, Xingapore và Châu Âu. Chủ thuyết cộng sản ngoại lai chỉ là phong trào nhất thời, chỉ có dân tộc mới là trường tồn. Văn sĩ Hoa Kỳ, ông Mark Twain, nói: “Với tổ quốc: luôn luôn trung thành. Với chánh phủ: chỉ trung thành khi nó xứng đáng.”.

     Trong "The of Reason" của Triết gia Tây Ban Nha (George Santanaya), cuối thế kỷ 19, có nói:
- "Những kẻ nào không nhớ đến những chuyện xảy ra trong quá khứ thì thế nào cũng bị rơi vào hoàn cảnh tái diễn lịch sử". Và: - “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục. Tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”. Thi sĩ: (Gamzatov). Thuộc quốc gia Daghestan.

     Và, ngày nay Việt Nam cũng đã xin “đế quốc” Hoa Kỳ cho vào Hệ Thống Thị Trường Tư Bản Tự Do “WTO”. (World Trade Organization) để “thoát nghèo”. Đưa hàng chục ngàn sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ du học. Cộng sản Việt Nam bao năm qua cũng ngửa tay nhận hàng tỷ Mỹ Kim viện trợ từ chính phủ Hoa Kỳ. Nền kinh tế Việt Nam hiện giờ đang đi theo quỹ đạo kinh tế Thế Giới Tư Bản giống y chang Miền Nam đã đi trước mấy chục năm. Cộng sản Việt Nam hiện nay cũng đã xin chánh phủ Hoa Kỳ công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường tự do, nhưng chưa được công nhận.

     Tôi còn nhớ lời nói của ông Kissinger, rằng: “Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam và người dân Việt Nam sẽ cảm ơn Hoa Kỳ.”. Tôi không thích ông ngoại trưởng Hoa Kỳ Kissinger, nhưng lời của ông nói quả là đã đúng.

     Vậy, năm một ngàn chín trăm năm mươi chín [1959], - Bắc Việt xua quân ồ ạt vô Miền Nam gây ra cuộc chiến tranh đẫm máu Để Làm Gì? Giải Phóng Miền Nam tư bản tự do ĐLàm ? Một khi người dân bị tước đoạt quyền sở hữu đất đai, ngôn luận thì tất cả xã hội đều trở thành nô lệ; trở thành kẻ làm thuê và ở nhờ trên chính quê hương đã sống và đang sống.

     Tôi mượn câu nói của (Goerge Orwell) để kết thúc bài viết, - “Trong một xã hội đầy rẫy sự gian dối, cất lên một tiếng nói chân thật là một hành động cách mạng.”.

Trang Y Hạ.

San Francisco, 2015




24/5/26

CƯU KIM SƠN CÒN ĐÓ.

 



CỰU KIM SƠN CÒN ĐÓ.

       “Đánh tranh chụm nóc thảo đường,
      Một gian nước biếc mây vàng chia hai.”.
                                     (Nguyễn Du).

Phố vắng ngắt, dội bước chân khách trú
Cựu-Kim-Sơn ẩn mình nén trùng-sinh
giọt dĩ-vãng trở mùa rây sương phủ
nấp tàng cây ráp nối mảnh dáng hình.

Jacket ứa gót quân-hành rừng thẳm
chẻ ưu tư tâm phát chẩn u hoài
thân trống hoác thủy-triều dâng ắp-lẵm
tủi lá vàng chao động đáy nước soi.

Trăng cổ độ lần dò đôi bờ vắng
tầm nguyệt sa sống chết ngụ nơi đâu
dẫn xác khuyết soi bến đò yên ắng
tầm cây dầm chịu gánh khổ úa nhàu.

Tôi cổ độ lạc qua vùng đất trích
Gia-Định thành ký ức bám rong rêu
hồn đại-lộ ngựa xe chìm tịch-mịch
thương lục bình chiều con sóng phập phều.

Cô da đỏ giọt sầu chìm mắt biếc
có giận hờn xua đuổi kẻ phương xa
đã mất đất lẽ nào không hối tiếc
lại cưu mang thêm một kẻ không nhà.

Tâm muốn phẳng giấu trong đầu đèo dốc
răng bỏ hàm gối lỏng tóc trổ hoa
đồi trơ trọi cành chờ chi ra lộc
trời Văn-Lang vệt nắng chói chưa nhòa.

Soi nghiệm số suy phương-trình hai bậc
cầu Cổng Vàng nhìm-nhịp giỡn thời gian
sương dẻo-nhẹo quện xuống đầu váng-vất
nẻo từ tâm ai đó thúc vội vàng.

Tay siết chặt vòng eo cô starbucks
sờ đáy mò hàng chữ dẫn “careful” *
hơi nồng sưởi tội cảnh đời lây-lất
chân còn xài, dò dẫm xuống metro.

Kim Sơn Cựu vấn an tình cố cựu
phố già tồn, tôi du-ngoạn thiên-cung
chân thành cảm mối tương-giao hiện hữu
hẹn mai kia kỳ-ngộ ắt tương-phùng.

Trang Y Hạ
San Francisco.
Cước chú:
* - “Careful, the beverage you’re about to injoy is extremely hot. Do not microware.”.
*- Cựu Kim Sơn = (San Francisco).




ĐỌC; KIẾM HIỆP DÃ SỬ.

 



ĐỌC: KIẾM HIỆP DÃ SỬ.

        “Tay trỏ xuống, một phen bạc phơ đầu lũ giặc
       Vươn mình cao trăm trượng Sóc Sơn kia.”.
                                              (Trần Thúc Vũ).
Trang Y Hạ

     Tôi đọc truyện kiếm hiệp “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” gồm bốn [2] cuốn. Tác giả: Trần Phiên Ngung và thi phẩm “Dựng Cõi”, của Tác giả Trần Thúc Vũ. Cả hai “đầu sách” tôi nhận từ chị Hà Tuyết Vân ở Anaheim gửi tặng. Thật ra: (Trần Phiên Ngung - Trần Thúc Vũ. Tuy hai, nhưng cùng một tác giả.).

     Từ lâu, khi nhận được sách tôi đã có ý nghĩ viết đôi dòng như một “lời phi lộ” hầu bày tỏ chút (tương giao) cảm nhận lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn bày tỏ trong tác phẩm kiếm hiệp dã sử và thi tập như một lời cảm ơn. Tuy vậy, muốn thẩm thấu một tác phẩm trường thiên tiểu thuyết kiếm hiệp nổi danh trong một thời gian ngắn không phải chuyện ngày một ngày hai... Bây giờ ngồi viết cũng chỉ là lướt qua ý tưởng như người “cởi ngựa xem hoa” chứ không dám nói “bình văn, bình thơ” đối với một tác phẩm đồ sộ như vậy.

     Tóm tắc lai lịch sau bìa sách: “Thi sĩ Trần Thúc Vũ sinh năm 1941 ở Thái Bình. Cựu thiếu tá không quân VNCH, đi tù “cải tạo” ngoài Bắc mười hai [12] năm; đi tù đợt hai năm [5] năm. (Tổng cộng là mười bảy [17] năm.). Trục xuất ra khỏi nước năm 1999, được định cư ở Anaheim California (Hoa Kỳ) cho tới khi qua đời.”.

     Tựa sách “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, tạm hiểu là (Cõi trời phương Nam có một tay kiếm lừng danh.). Tuy rằng, cốt truyện dã sử là hư cấu, hư cấu nhưng không hẳn là muốn nói gì thì nói; nói không mục đích; nói không chủ đề. Tư tưởng cốt yếu trình bày trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, chủ đích tác giả gợi lại lòng yêu nước, lòng quyết tâm giữ nước của tiền nhân và người dân Đại Việt trải qua hàng ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Đồng thời tác giả cũng dẫn chứng ra các âm mưu thâm độc mà phương Bắc đồng hóa dân tộc Đại Việt qua các tổ chức, giáo phái bí mật có tên “Thất Sát Đoàn”... Hơn nữa, tác giả cũng nhắc lại cho hậu thế tên tuổi của các đấng anh hùng Đại Việt cũng như các địa danh xảy ra cuộc chiến chống quân phương Bắc.

     (Truyện kiếm hiệp dã sử dựa vào sử Đại Việt, tác giả viết trong thời gian còn ở quê nhà, biết rằng nội dung không đụng chạm, nhưng lại đụng chạm tới giặc Tàu nên không cho xuất bản trong nước.).

     Ngày xưa (ở miền Nam) tôi đã từng say mê đọc tiểu thuyết kiếm hiệp: “Đồ Long Đao”; “Anh Hùng Xạ Điêu”; “Võ Lâm Ngũ Bá”; “Tiếu Ngạo Giang Hồ”; “Lộc Đỉnh Ký”… Đọc xong có thể nói là để giải trí chứ chẳng lưu lại gì nhiều ngoại trừ tên của một vài nhân vật chính dễ nhớ hoặc một vài môn võ: “Giáng long thập bát chưởng”. “Cửu âm chân kinh”. “Hàm mô công”. “Nhất dương chỉ”. “Càn khôn đại nã di”. Đả cẩu bổng pháp”. “Thiết bố sam”…”. Và, các loại độc dược: “Thập Hương Nhuyễn Cân Tán” của Triệu Mẫn. “Xà Vương Độc” của Tây Độc Âu Dương Phong. “Hủ Thi Độc của Đinh Xuân Thu” “Tâm Thi Não Thần Đan” của Nhậm Ngã Hành. “Sinh Tử Phù” của phái Thiên Sơn Đồng Hủ. “Cốt Xuyên Tâm Cao” của Ngũ Độc Thánh Cô.

     Tất cả các thứ võ công, độc dược trong tiểu thuyết kiếm hiệp chỉ là để (gà nhà bôi mặt đá nhau.) của người Tàu. Trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” cũng có nhiều bí kiếp võ công thượng thừa: “Sát na vô lượng thần công”. Một tuyệt kiếm của Hưng Đạo Vương trong “Vạn Kiếp Bí Truyền”. “Bạch hạt kiếm”. “Ưng dực trảo pháp”. “Thái ất long hình công”... Những môn võ nầy dùng để đánh giặc phương Bắc, diệt kẻ phản quốc…, chứ không sát hạn đồng bào ruột thịt. Còn các loại độc dược độc địa thì trong Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm tuyệt đối không dùng. Bọn tiểu nhân, bọn độc ác mới chế độc dược tiêu diệt đối thủ có võ công thượng thừa để giành chiến thắng mà không hao tốn binh lực.

     Đọc “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, tác giả xử dụng cách hành văn miền Nam để diễn tả nội tâm nhân vật - dằn xé giữa sự trắc trở tình yêu trai gái; tình yêu gia đình; tình yêu tổ quốc và diễn tả các sự kiện lịch sử xung đột nội tình thế sự trên quê hương trước họa xâm lăng từ ngoại bang... Tác phẩm đậm tính văn học, văn chương tiểu thuyết. Tuy vậy, tác giả có xử dụng một số địa danh và nhân vật (tượng trưng) trong truyện kiếm hiệp của văn sĩ Kim Dung.

Trích đoạn:
     “Từ ngày lớn khôn Uyển Thanh hiểu được rằng, cha nàng tuy bề ngoài bình thản, nhưng tự trong lòng ông chất chứa một nỗi đau đớn khôn nguôi. Dù ông chẳng hé răng kể một lời về mẹ nàng, nhưng nàng biết ông yêu thương bà vô hạn. Uyển Thanh lớn lên, không được lưu một chút nào hình ảnh về người mẹ, những lúc buồn phiền, nàng ước mong có mẹ để được thổ lộ, để được cảm thông. Nàng biết cha yêu thương nàng, nhưng tình cha con dẫu đằm thắm, dẫu dịu dàng vẫn có điều gì xa cách, ông không thể thay thế một người mẹ trong tâm hồn nàng. Nàng làm sao ngỏ cùng cha những biến chuyển tâm tư của một đời thiếu nữ. Hằng đêm, nàng thao thức thương nhớ mẹ, dẫu rằng nàng chỉ có cái cảm giác thật là quá mơ hồ về một người mẹ, một người mẹ nàng không biết mặt, nàng chẳng còn nhớ được một kỷ niệm nào của những ngày thơ ấu, tất cả ký ức thuở ấu thơ như một đám mây mù.”.

     (Cô Uyển Thanh cũng là nhân vật chính cùng với Nguyên Huân ở trong truyện.).

     Trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, nhân vật chính là Trần Nguyên Huân. Tôi nghĩ (nhân vật Trần Nguyên Huân có thể là hậu duệ của dòng họ Trần.) - đã ba lần đánh tan quân Nguyên. Nhân vật Nguyên Huân, đưa tôi đi diện kiến các vị anh hùng tài trí Đại Việt: (Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn, Trần Nguyên Đán, Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Trần Ngỗi...) và nhiều vị khai quốc công thần khác nữa. Tôi còn được ngồi ngắm cảnh sương mù lạnh lẽo trên Ải Chi Lăng hùng vĩ. Được ngồi lắng nghe tiếng vó ngựa của đoàn quân giặc phương Bắc và tiếng trống thúc quân tiến công của nghĩa quân Đại Việt... Được ngồi lắng nghe tiếng hò reo chiến thắng của nghĩa quân Đại Việt. Được ngồi lắng nghe vong hồn vị tướng Liễu Thăng than thở vì bỏ mạng trên xứ người…!

     Từ trong tâm khảm, Tôi lại còn nghe văng vẳng lời thì thầm bên tai của các vị tiền nhân Đại Việt, rằng:

     - “Này, chú em hậu bối. Chú mầy đọc “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” thì phải nhớ kỹ câu “Bắc Môn Tỏa Thược”. Nghe rõ chưa?”.

     Tôi mừng rơn vì hồn thiêng sông núi Đại Việt vẫn còn linh hiển chứ chưa hẳn là tan biến mất. Đại Việt là quốc gia nhỏ bé sống cạnh một ông hàng xóm to lớn. Năm ngàn năm qua, ông ta ỷ bự con lấy thịt đè người coi khinh Đại Việt. (Hàng xóm bất lương không thể nhận là “anh em” được.).

Trích đoạn:
     “Giữa lúc đó Trần Trí và Phương Chính “tướng Tàu” đem đại quân từ Nghệ An tiến lên Trà Long, dùng cả thủy quân ngược sông Lam mà tiến. Địch đến bờ nam của Khả Lưu, chuẩn bị tiến đánh lên bờ bắc. Đây là trận đánh then chốt, lần đầu tiên một trận chiến, có thời gian cho hai bên chuẩn bị, có sự tham chiến cả hai quân thủy bộ. Quân địch rất đông, mà nghĩa quân quân số chỉ chừng ba mươi ngàn, nên cuộc đọ sức phải bằng mưu trí và tinh thần quyết tử của nghĩa quân Lam Sơn hơn là thực lực.”.

     Lang thang trong truyện, tôi có gặp các môn phái: “Không Động, Võ Đang, Thiếu Lâm, Côn Lôn, Nga Mi, Hoa Sơn, Cái Bang…”. Có thể nói - tôi vui nhất là gặp anh chàng Trương Vô Kỵ! Gặp anh ta tôi nhớ lại cha mẹ của anh là Trương Thúy Sơn, Hân Tố Tố cùng người sư phụ Kim mao sư vương của họ, Tạ Tốn. Văn sĩ Kim Dung cho họ trôi ra Băng hỏa đảo và Trương Vô Kỵ được sinh ra ở đó. Tôi không biết Băng hỏa đảo ở biển nào? Đọc truyện kiếm hiệp của tác giả Kim Dung, ông không nói biển nào? Tôi nghĩ văn sĩ Kim Dung có biết và biết rất rõ, bởi trong tiểu thuyết của ông có nhân vật Trần Hữu Lượng – vốn dòng dõi nhà Trần, Đại Việt lưu vong. Chu Nguyên Chương không cướp công, - thì Trần Hữu Lượng đã lên ngôi làm vua. (Sách tái bản, văn sĩ Kim Dung loại bỏ nhân vật Trần Hữu Lượng ra khỏi sách?).

     Tôi cũng có thể tưởng tượng; tôi cũng có thể hư cấu như văn sĩ Kim Dung... Tôi tưởng tượng, tôi hư cấu: - Băng hỏa đảo có thể là Hoàng sa. Hoàng sa nghĩa là (cát vàng, cát vàng hợp với “hỏa”, màu lửa đỏ). “Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn đàn, lấy đàn bà thử đàn ông.”. Biển Đông rộng lớn mênh mông, ai kiểm soát biển đông thì tự do tung hoành.

     Trong tiểu thuyết văn chương thi phú không ai bỏ công lao ngồi viết ra toàn những thứ chữ vô nghĩa, nội dung trống rỗng, khô khan cho mất công... Ai cũng hiểu điều đó. Và, từ đó suy ra...

     Đọc: Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm, tôi gặp mặt chưởng môn nhân các phái. Ngày nay họ hiền khô, mặt mày hết bặm trợn, - một thời họ đã từng kéo đệ tử đi gây chiến, đi trả thù với các bang phái khác, với các quốc gia khác - gây ra xáo trộn giang hồ đồng đạo; xáo trộn đời sống xã hội khắp nơi... Bây giờ, họ biết trách nhiệm; biết đoàn kết thương yêu cùng nhau phục vụ cho quê hương của chính họ, hơn là cứ gà nhà bôi mặt đá nhau. Đi gây chiến xâm lấn với các quốc gia láng giềng. Tôi nghĩ, Trần Nguyên Huân đã giải thích đạo nghĩa làm người cho họ, nêu lên chính nghĩa Đại Việt cho họ hiểu, nên họ mới thức tỉnh mà “hồi đầu thị ngạn”...!?

Trích đoạn:
     “- Điều nầy vãn bối đã hiểu, tình người không phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng nói, phong tục. Cái đạo làm người là yêu mến mọi người, chữ Nhân kia lớn biết bao! Xin lão trang chủ chớ bận tâm áy náy. Đau thương, máu lửa, càng giảm đi được chừng nào, thì vận nước càng hưng thịnh, cái Nhân càng sáng tỏ…”.

     Tôi viết tới đây thì… (sức tàn, lực kiệt) - thôi đành chống gậy đi vô chốn vườn thơ: “Dựng Cõi” để nâng ly, ngâm vịnh vài ba bài thơ của tác giả Trần Thúc Vũ nhằm lấy lại sức... Tôi đọc một thôi hết cả tập thơ, chẳng những không lấy lại sức lực mà còn ngẩn ngơ ra với những câu thơ:

     “Trên chót vót đỉnh buồn ta đã tới. Cho một đời thoắt chốc những hư không. Dòng nước mắt này đây xin giữ lại. Tặng riêng em ngày tháng nặng khôn cùng.”! Trích thơ: (Trần Thúc Vũ).

Và: “Về Đâu”.

     “Muôn sau con cháu thay màu mắt. Đo hộp đầu lâu có ngẩn ngơ. Ngàn năm “gène” cũ còn hay mất? Có xót thương gì lũ thất cơ.
Trích: “Về Đâu”. Trần Thúc Vũ.

Trang Y Hạ
Viết tại, San Francisco- 2023.

Lời Gió Mưa:
Thần kiếm sắc bình chân Nam Quan Ải,
Dòng kinh trong nâng chén ngắm Cà Mau.”.
             Trích thơ: (Trang Y Hạ).






16/5/26

TỪ TRONG "KHAI THỊ".

 



TỪ TRONG “KHAI THỊ”.

Trang Y Hạ

     - “Một khi Thiên Chúa không muốn xây nhà thì tất cả thợ nề đều làm việc uổng công.”. (Cựu Ươc Kinh).

     Chúa nói đúng! (Xây nhà ở dưới thế gian ắt sẽ bị mối mọt làm cho sụp đổ.) - “Xả bất liễu tử, hoán bất liễu sanh; Xả bất liễu giả, thành bất liễu chân.”. Tạm hiểu: (Bỏ không được cái chết, thì không đổi được sự sống; Bỏ không được cái giả, thì chẳng có được cái thật!).

     Một lần tôi tới thăm viếng: “Viện Đại Học Pháp Giới – Vạn Phật Thánh Thành”, ở Burlingame, California. (Nơi đây cũng là nơi dịch thuật và xuất bản sách.). Diện tích viện đại học rộng hàng mấy mẫu tây. Tôi đi lần vào Thư Viện; Thư Viện Pháp Giới quy mô với các loại sách xếp ngăn nắp. Vị quản thủ thư viện biếu cho tôi sách “Khai Thị” của Hòa Thượng Tuyên Hóa – người sáng lập Viện Đại Học – (Ngài đã viên tịch từ lâu.).

     Nói thật, tôi không hiểu chút gì về giáo lý Phật; kinh Phật. Biết là không hiểu nên tôi cố gắng tìm hiểu. Tôi thích đọc các bài: (có thể là Thơ; có thể là Kệ.) vì trước đây - một Sư ca già có tặng cho tôi một cuốn Kinh Lăng Nghiêm (bản cũ).

     Tuy vậy, dù thơ hay kệ thì tôi vẫn đọc... - đồng thời nghiền ngẫm suy ra may ra tìm được một sự tương giao giữa tâm hồn và huyền nhiệm – Chúa, Phật đều hướng tới “Chận – Thiện – Mỹ” - hơn nữa là – vốn ham mê viết lách – tôi xin trích dịch qua văn vần Tiếng Việt một số bài thơ bên dưới. Đầu đề “Vô Đề” là tôi tự đặt.

1.
Vô Đề.
Phú quý ngũ canh xuân mộng
Công danh nhất phiến phù vân
Nhãn tiền cốt nhục dĩ phi chân
Ân ái phản thành cừu hận
Mạc bả kim già sáo cảnh
Hưu tương ngọc tỏa triền thân
Thanh tâm quả dục thoát hồng trần
Khoái lạc phong quang bổn phận. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Giàu sang kéo năm canh dài xuân mộng
Mảnh công danh lơ lửng bóng mây trôi
Bày trước mắt cốt nhục nào đâu thật
Đang yêu đương hóa giận ngẫm sự đời
Vàng tròng cổ đeo đầy chỉ làm kiểng
Ngọc quý nhiều thêm nặng trĩu châu thân
Dẹp tham vọng cho tâm lòng thanh thoát
Đón gió êm giữ phận chẳng nợ nần.
Dịch: (Trang Y Hạ)
2.
Vô Đề.
Nhân sanh nhất trường mộng
Nhân tử mộng nhất trường
Mộng lý thân vinh quý
Mộng tỉnh tại cùng hương
Triêu triêu tại tác mộng
Bất giác mộng hoàng lương
Mộng trung nhược bất tỉnh
Uổng tác mộng nhất trường. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Nhân sinh cõi chẳng qua là giấc mộng
Người mất đi nào khác giấc mộng dài
Thân trong mộng tưởng rằng đang giàu có
Tỉnh mộng rồi mới thấy trắng hai tay.
Mỗi sớm sớm cảnh mộng mơ trờ tới
Giật mình ra mới rõ mộng kê vàng
Giữa mơ mộng đầu chập chờn chẳng tỉnh
giấc mộng dài tác động quả tiêu tan.
Dịch: (Trang Y Hạ).

3.
Vô Đề.
Nhân thân nan đắc kim dĩ đắc,
Phật pháp nan văn kim dĩ văn.
Thử thân bất hướng kim sinh độ,
Cách hướng hà sinh độ thử thân. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ
Thân người khó, kiếm được nay đã được,
Thuyết giáo nghe, khó nghe nay đã nghe
Chẳng lẽ ngó xác thân không tế độ
Chờ đợi chi mới có sự chở che.
Dịch: (Trang Y Hạ).

4.
Vô Đề.
Nhân thân hảo tỷ nhất gian phòng,
Khẩu vi môn hộ nhãn vi song.
Tứ chi hảo tỷ phòng tứ trụ,
Đầu phát hữu tượng sơn phòng thảo.
Sấn trước hảo thời cần tu bổ,
Mạc đãi hoại thời trước liễu mang. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ
Thân người đó ví như căn phòng đẹp,
Mắt miệng là cửa sổ với cửa ra.
Tay chân khỏe kể là bốn cây cột,
Tóc trên đầu làm rơm cỏ lợp nhà.
Hãy sốt sắng sửa sang khi còn tốt,
Đừng đợi khi mọt đục mới lo xa.
Dich: (Trang Y Hạ).

5.
Vô Đề
Đãn đắc bổn, mạc sầu mạc,
Như tịnh lưu ly hàm bảo nguyệt.
Ký năng giải thử như ý châu,
Tự lợi lợi tha chung bất kiệt. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Lo bón gốc, chứ đừng lo tỉa ngọn,
Tấm gương trong giữ sáng ánh trăng thanh.
Ngọc như ý suy ra đà hiểu được.
Lợi cho thân cho kẻ khác trọn lành.
Dịch: (Trang Y Hạ).

6.
Vô Đề.
Sừ hòa nhật đương ngọ,
Hãn trích hòa hạ thổ.
Thùy tri bàn trung xan.
Lạp lạp giai tân khổ! (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Trời đứng bóng ruộng bừa không ngơi nghỉ,
Giọt mồ hôi trộn đất đá mặn chua.
Bưng một bát cơm đầy ai có hiểu,
Hạt lúa vàng gian khổ mới được mùa!
Dịch: (Trang Y Hạ).

7.
Vô Đề
Mộng đổng truyền mộng đổng
Nhất truyền lưỡng bất đổng
Sư phụ hạ địa ngục
Đồ đệ vãng lý cỗng. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ
Thầy mù mịt dạy học trò mộng ảo
Cả hai người kết quả có ra chi
Thầy khăn gói xuôi về nơi địa ngục
Trò theo sau số phận chẳng ra gì.
Dịch: (Trang Y Hạ).

8.
Vô Đề
Dữ thiên địa hợp kỳ đức
Dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh
Dữ tứ thời hợp kỳ tự
Dữ quỷ thần hợp kỳ kiết hung. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Cùng thiên địa ắt hợp thành với đức
Cùng ngày trăng ắt hợp ánh sáng hơn
Cùng bốn mùa ắt xoay vòng tuần tự
Cùng ma tiên kiết hung ắt chờn vờn.
Dịch: (Trang Y Hạ).

9.
Vô Đề.
Thiên bách niên lai oán lý canh,
Oán thâm tự hải hận nan bình.
Dục tri thế thượng đao binh kiếp,
Thí thính đồ môn dạ bán thanh. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Ngàn năm ngập bát canh đầy thù hận,
Ân oán sâu chìm đáy biển khó tan.
Lòng thử hỏi tại sao gây chiến loạn,
Nửa đêm nghe lò mổ thịt mơ màng.
Dịch: (Trang Y Hạ).

10.
Vô Đề.
Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa,
Trí huệ xuất, hữu đại ngụy.
Lục thân bất hòa, hữu hiếu từ.
Quốc gia phân loạn, hữu trung thần. (Khai Thị).

KHÔNG ĐỀ.
Đạo lớn mất ắt người ngay sẽ hiện,
Có người khôn ắt có kẻ gian manh.
Gia đình rối ắt con hiền có mặt,
Quốc gia phân ắt có bậc trung thành.
Dịch: (Trang Y Hạ).

11
Vô Đề
Dĩ sanh vô hữu sanh
Vị sanh diệt vô sanh
Ly dĩ sanh vị sanh
Sanh thời tức vô sanh.

KHÔNG ĐỀ.
Sanh đã có, đâu phải cần sanh nữa,
Nếu chưa sanh, kể ra cũng không sanh
Sự sanh cách, cớ chi mong sanh lại
Khi đang sanh, chưa chắc đã sanh thành.
Dịch: (Trang Y Hạ).

     Chữ “đạo”! Hán Tự là đường, là con (đường ngay nẻo chánh) dẫn tới thiện tâm. Muốn đi tới thiện tâm chỉ có con đường thôi thì chẳng bao giờ đi tới đích mà cần phải biết hướng đi. Vậy, hướng đi đó chính là niềm tin là tín lý và giữ lời dạy của người đi trước (mở đường, dẫn đường). Tuy vậy, cũng có khi tự tu thân, tức tu tại nhà. Ông bà xưa, nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa.”. Hoặc nếu muốn phụng sự “pháp giới” tu tại nhà thì giới Phật gọi là: “Ưu bà tắc”. (cận sự nam). “Ưu bà di”. (cận sự nữ.).

     Tóm lại, phải hiếu rằng: “Thiện thí nhất lạp mễ, trọng như Tu Di Sơn. Ngật liễu bất tu đạo, phi mai đái giác hoàn,”. Tạm hiểu: (Nhận một hạt gạo, ơn nặng như núi Tu Di, Ăn rồi không tu thân, thì đội lông mang sừng mà trả.).

Trang Y Hạ
San Francisco, 2015.


Áo Trắng Ngày Xưa.


VƯỢT BIÊN: "ĐI BÁN CHÍNH THỨC".

 



VƯỢT BIÊN: “ ĐI BÁN CHÍNH THỨC.”.

          “Người nách thước, kẻ tay đao,
        Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.”. (Truyện Kiều)

     Tôi đã mua và đọc sách của các tác giả, như: “Đêm Giữa Ban Ngày” của (Vũ Thư Hiên), “Đèn Cù” của (Trần Đĩnh). “Chuyện Kể Năm 2000” của (Bùi Ngọc Tấn). “Hoa Xuyên Tuyết” của (Bùi Tín). “Những Thiên Đường Mù” của (Dương Thu Hương). “Nhật Ký Rồng Rắn” của (Trần Độ). “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” của (Tô Hải).”Đường Đi Không Đến” của (Xuân Vũ). “Bên Thắng Cuộc” của (Huy Đức)...

     Nhìn chung, thì tất cả nội dung giống như một “Goulug” quá thâm cung bí sử, như đi lạc vào thời kỳ tiền sử, cái thời còn ăn lông ở lỗ... Tuy vậy, các tác giả cũng đã trình bày rất rõ ràng khúc chiết một giai đoạn lịch sử (không tình người) đối với đồng bào trong “Cải Cách Ruộng Đất” ở miền Bắc giết hàng trăm ngàn địa chủ, giết luôn cả đồng đội. Và hơn nữa là tranh giành ảnh hưởng giữa hai phe: - “Phe thân Nga, phe thân Tàu mà chà đạp lẫn nhau không thương tiếc trong suốt cả nhiều năm.”. (Trần Đĩnh).

     Dẫu gì thì các tác phẩm đó vẫn tồn tại với lịch sử với thời gian mặc kệ sự sụp đổ như: Liên Xô, Đông Âu cũng chẳng hề hấn gì – cứ xem là “nghĩa khí tương giao” mà nơi giấu hạt cát tốt nhất là ở sa mạc. Xin cảm ơn các vị tác giả.

     Tôi chỉ trích một số ý để diễn nghĩa thêm một số đoạn từ “bên thắng cuộc”, chứ không bàn hay bình luận - cũng không bình luận các tác phẩm bởi vì khi mỗi người đọc sách thì sự thẩm thấu nhận định nhận thức tùy thuộc vào trình độ riêng biệt chứ không ai giống ai. Đôi khi cũng có vài điều rất tế nhị là “Đạo bất đồng bất tương vi mưu.”.

     Thời cuộc biến chuyển. Ngày 30.4.1975, Bắc Việt chiếm Sài Gòn bởi do Dương Văn Minh đầu hàng – (lúc nầy không còn quân đội Mỹ.). Tại sao người dân miền Nam phải vượt biên nhào ra biển để rồi bị hải tặc Thái Lan sát hại cũng như sóng dữ nhận chìm chiếc thuyền gỗ mỏng manh. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc thì khoảng 600 ngàn người vượt biên bỏ xác ngoài Biển Đông. Tại sao “thống nhất” đất nước mà nhà cầm quyền tổ chức cho đi vượt biên gọi là “bán chính thức”? Phải chăng đây là một cái bẫy?

          “Trải qua một cuộc bể dâu,
        Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”. (Kiều).

     Nhà triết học nổi tiếng nước Pháp và thế giới là văn hào Jean Paul Sartre, nói: “Kẻ nào chống cộng sản là con chó.”. Thế nhưng khi thấy tình cảnh người dân miền Nam Việt Nam vượt biên chạy trốn cộng sản, ông mới ngẩn người ra! Từ đó, ông gom góp tiền của ông, mượn của bạn hữu mua một chiếc thuyền chạy ra biển cứu người tỵ nạn.

     Cuộc vượt biên cho người Hoa do nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tổ chức hợp pháp dưới cái tên - “Đi Bán Chính Thức.”. Đi Bán Chính Thức hay còn gọi là “Phương Án 2” . Từ sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng ngày càng gay gắt và quyết liệt do CsVN nghiêng hẳn qua phía Liên Xô để nhận viện trợ... Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và Trung cộng muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, CsVN xem người Hoa là một đạo quân (tình báo) thứ năm và họ muốn “té nước theo mưa” để trả lại người Hoa Chợ Lớn về với mẫu quốc.

      Hơn nữa là chính sách “Đánh Tư Sản Mại Bản” và “Cải Tạo Công Thương Nghiệp”, cùng với Ba Lần Đổi Tiền: - (Lần thứ nhất: ngày 22-9-1975 - Lần thứ nhì: ngày 02-5-1978 - Lần ba: ngày 14-9-1985). Đã quy ra: 500 $ VNCH = Một [1] đồng Miền Bắc. Tức là, chỉ cần một [1] đồng rưỡi tiền Miền Bắc lúc đó đã đổi được một [1] $ Mỹ kim.(Chuyện nầy, chỉ duy nhất trên thế giới làm được là đồng [$] đồng Bảng Anh.).

     Đó là nguyên do chính đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ trắng tay và không tìm ra lối thoát, - Và, họ quyết định vượt biên qua các quốc gia tư bản tỵ nạn thay vì phải về với Trung Cộng mà đối với họ về với Trung Cộng thì chẳng khác gì xuống chốn địa ngục. Người Hoa ra đi vượt biên ngày càng nhiều, chết trên biển cả cũng rất nhiều. Cs Việt Nam bị thế giới chỉ trích... Để đối phó, Việt Nam cho phép (người Hoa) ra đi bán chính thức, ban đầu có thể xem ra là một (thiện chí.) xoa dịu ngoại giao đối với Trung Cộng.

     Kế hoạch ra đi bán chính thức giữ kín, chỉ phổ biến nội bộ khoanh vùng tại thành phố HCM. Tuy vậy, một thời gian sau thì kế hoạch này lộ thông tin rộng ra ở các tỉnh thành phía Nam. Theo đó, công an các tỉnh đưa giá thu lệ phí vượt biên, từ: 8-10 lạng vàng cho một đầu người, họ dùng một phần số vàng để mua tàu, đóng tàu, lập bến bãi - đẩy người Hoa vượt biên ra khơi với cam kết không bắt tàu ra đi của họ còn ở trong lãnh hải Việt Nam.

      THỰC CHẤT CỦA “ĐI BÁN CHÍNH THỨC.”.

     Một khi những thuyền nhân đã đi đến được các nước tư bản tự do an toàn thì chuyện “bí mật” cho người Hoa ra đi bán chính thức không còn giấu được với truyền thông thế giới. Do đó, Nhà cầm quyền bắt buộc cho dừng kế hoạch lại vào tháng 12/1978. Tuy vậy, phải đợi tới tháng 5/1979 mới được có hiệu lực vì phải lo tiêu thụ cho hết số tàu đã đóng còn tồn đọng cả hàng trăm chiếc.

          “Mặt trông đau đớn rụng rời,
        Oan này còn một kêu trời, nhưng xa.
        Một ngày lạ thói sai nha,
        Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”. (Kiều)

     Kế hoạch cho người Hoa ra đi bán chính thức ban đầu chỉ áp dụng cho người Hoa Chợ Lớn nhưng những người Việt có giấy tờ của người Hoa cũng ra đi vượt biên rất nhiều. Ở các tỉnh không có bờ biển cũng xin cho người dân ra đi bán chính thức như một dạng kinh doanh. Nhà cầm quyền nhận thấy kế hoạch khó kiểm soát, ngày 20/03/1981 ông Trường Chinh đã cho lập “Ban Kiểm Tra 69” kiểm tra việc thu vàng. Kết quả điều tra khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ.

     Theo dữ liệu của “Bên Thắng Cuộc” thì từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi chở theo 134.322 ngàn người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ (Mỹ Kim), và nhà cửa ruộng đất được đóng thay cho vàng để được vượt biên. Có 105 sĩ quan công an bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều vướng phải tội gian lận và lập quỹ riêng cho tỉnh. Nghiêm trọng là phải kể đến Tỉnh Minh Hải, giấu: 48.195 lượng vàng, Tỉnh Cửu Long giấu: 27.000 lượng, Tỉnh Nghĩa Bình giấu: 27.000 lượng, Tỉnh Phú Khánh giấu: 10.987 lượng…”.

          “Đồ tế nhuyễn, của riêng tây,
        Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.”. (Kiều)

     Các tỉnh thu vàng mỹ kim nhưng lại thất tín, số người bị lừa tiền vàng lên đến 18.435 người. Kế hoạch ra đi bán chính thức thực sự dẹp bỏ khi công an các tỉnh giao cho các thuyền nhân số tàu thuyền không an toàn, đã không an toàn lại dồn số lượng người vượt biên quá tải trọng của tàu. Bởi lý do đó mà tàu bị chìm ngay khi mới rời khỏi bến. Trường hợp đắm tàu ở Cảng Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép kinh doanh.

     Điều hiển nhiên dù không ai nói ra, nhưng mọi người cũng có thể hiểu rằng một khi ra đi vượt biên tìm tự do thì hẳn nhiên đã có tiên liệu dự trữ Mỹ Kim, vàng giấu trong người, trong tàu thuyền để phòng thân.

           TANG THƯƠNG Ở CẢNG CÁT LÁI.
  
     Vào một ngày thứ bảy, trời quang mây tạnh giữa năm 1979, từ Cảng Cát Lái người ta huy động rất nhiều công an canh gác vòng trong, vòng ngoài. Ở bên trong một con tàu vượt biên có chiều dài khoảng ba mươi mét, rộng chừng mười mét, gồm có ba tầng. Tàu này vốn là một chiếc tàu kéo trong khoang nhằm chứa đá - được thay thế cho khoang chứa nước uống khi ra khơi. Thật ra là tàu cũ thiết kế lại để chứa được nhiều người. Động cơ cũng được thay mới mạnh hơn để tăng sức đẩy. Người đóng tàu chỉ quan tâm làm sao chở được nhiều người chứ không tính toán về tải trọng của tàu khi ra khơi đối diện với sóng to gió lớn.

     Đúng giờ hẹn, số người đi đã nằm chờ suốt đêm tại Cảng Cát Lái và bắt đầu nôn nao hồi hộp... Bỗng người trưởng tàu đi ra cầm loa phóng thanh điểm danh theo danh sách. Hai trăm tám mươi [280] con người mừng rỡ lũ lượt chen chân xuống tàu, thân tàu chao đảo. Những thuyền nhân ngồi ở khoang dưới khoang đáy không chịu nổi sức nóng, ngạt thở phải leo trở lên trên mui làm cho con tàu thêm nghiêng ngả... Thuyền trưởng, do không kinh nghiệm sông nước đã bắt đầu hoảng loạn vội tìm đường thoát thân. Không còn thuyền trưởng chỉ huy, con tàu tự do từ từ chúi mũi xuống sông. Tiếng kêu la, tiếng kêu cứu từ trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương ảm đạm cả một vùng sông nước. Tiếng khóc uất nghẹn của cư dân sống trên bờ sông Cát Lái, họ than trời: - Trời ơi...! Mất hết cả rồi...! Chết hết cả rồi...!

           “Long lanh đáy nước in trời,
        Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.”. (Kiều).

     Nhà cầm quyền có điều động cần cẩu từ Vũng Tàu vào trục vớt con tàu. Người ta đếm có tất cả 227 người chết và hơn 40 người còn sống trở về từ cõi chết nhưng tất cả họ đều như những người loạn trí vì đã chứng kiến thảm cảnh gia đình tan nát còn bản thân từ nay là kẻ bơ vơ không nhà... Suy ra, chỉ có trâu bò kiến mối mới đi thành đàn, còn mãnh thú thì đi một mình!

     - Ai đã đem cho thêm một cái Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?!

     Các người khâm liệm kể rằng trong số xác chết được vớt, người ta thấy có BỐN [4] Người Mẹ Trẻ ôm chặt đứa con của mình trong lòng như những cố gắng cuối cùng với một tia hy vọng rất mong manh là giữ cho kỳ được đứa con thơ dại để hai mẹ con còn có thể cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Người ta chứng kiến kính trọng tình mẫu tử thiêng liêng, nên các người khâm liệm đã để cho hai mẹ con của họ yên nghỉ cùng nhau trong một cỗ quan tài thê lương lạnh lẽo. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất ở gần cầu Giồng Ông Tố.

            “Đoạn trường là số thế nào,
         Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.” (Kiều).

     Nỗi đau không chỉ có một cảng Cát Lái bị tai họa. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng chưa đầy một năm đã có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử kiểm tra lại vài trường hợp đau lòng khác như sau: Ở Bến Tre có một tàu chìm với 54 người chết đuối, ở Long An có một tàu chìm với người 38 chết đuối, ở Nghĩa Bình một tàu chìm với 78 người chết đuối. Và kinh khủng nhất là ở Tiền Giang có ba [3] tàu chìm đem theo 504 người chết đuối.”.

     Câu hỏi mà nhiều người người đặt ra là tàu ra khơi bị trục trặc kỹ thuật máy móc mà bị chìm hay có bàn tay “bí ẩn” đánh chìm để lấy tài sản?! Cái giá của việc đi tìm tự do quá thảm khốc. Tuy vậy, dù thảm khốc tới đâu thì người dân miền Nam vẫn tìm mọi cách để ra đi. Và hơn nửa thế kỷ sau lớp trẻ vẫn mong muốn được ra đi, - dù là ra đi để làm thuê, làm mướn hay ở đợ cũng cam chịu ra đi.

     Những sự kiện vượt biên bán chính thức hay chạy trốn khỏi quê cha đất tổ diễn ra lắm cảnh tang thương của hơn năm mươi năm về trước đã dự báo một bức tranh ảm đạm cho Việt Nam ngày hôm nay. Một nén nhang, nghiêng mình cúi đầu cầu cho các linh hồn uẩn tử về nơi an nghỉ.

Trang Y Hạ.
San Francisco – một ngày mùa đông.


LỜI GIÓ MƯA:

     Từ phương án cho người Hoa vượt biên “bán chính thức” nảy sinh ra một vụ án lừng danh thiên cổ đó là vụ án Nguyễn Hữu Giộc, tức Mười Vân giám đốc công an tỉnh Đồng Nai. Mười Vân gom góp hơn nửa tấn vàng và đã tra tấn 82 người tới thân tàn ma dại. Mười Vân chỉ là bề nổi, không biết có còn bao nhiêu Mười Vân khác nữa? Thử đặt vấn đề tại sao các chuyến đi vượt biên trước đều ra khơi bình an, số còn lại chưa ra khỏi hải phận là đã bị chìm? Câu trả lời có lẽ là của những người còn sống sót.

     Có một điều thú vị là khi kêu án tử hình (Mười Vân và Vũ Cao Thanh) thì tôi chợt nhớ ra là ngày tôi vào trại tù “cải tạo” K-4 năm 1975. Nhóm anh em chúng tôi đã thấy Vũ Cao Thanh, ông ta mặc áo bà ba, mang dép râu ra đón chúng tôi. Ông múa tay múa chân quát tháo nên anh em chúng tôi cứ nghĩ ông là “cán bộ” của trại tù. Một thời gian ngắn chúng tôi không thấy ông ta ở trong trại nữa. (Ông Vũ Cao Thanh là công chức hành chánh VNCH tại Bà Rịa.).

     Tòa tuyên án tử hình Nguyễn Hữu Giộc và Vũ Cao Thanh sau ba ngày xét xử. Mọi người vui mừng…! Nhưng không một phiên tào nào xử bồi thường thiệt hại cho hàng ngàn người bị chết oan dưới lòng sông, cho người còn sống trong các vụ đánh chìm thuyền để lấy vàng ở thành Tuy Hạ và các nơi khác.

Buồn và đau đớn thay!

Trang Y Hạ.



1/5/26

MỘT BUỔI SÁN THÁNG SÁU.

 


MỘT BUỔI SÁNG THÁNG SÁU.


          “Chàng từ đi vào nơi gió cát,

       Đêm trăng nầy nghỉ mát nơi nao”

                              (Chinh Phụ Ngâm Khúc).


Một buổi sáng bước lên xe đi tù “lao cải”

bậu đứng co ro bên mương nước đục ngầu

cơn mưa đầu tháng năm, thay cho dòng nước mắt

trở về nhà bậu hóa đá đợi bao lâu.


Đôi mắt mỏi dán qua khung cửa kiếng

vẫy tay chào hết sinh khí thần hồn

xe lăn bánh ngỡ như lăn vào nơi địa ngục

xác thân còn, tưởng co ro trong nấm mồ chôn.


Đoạn đường cũ thân quen, mỗi mùa qua ấm áp

nhìn về đâu cũng ngập ngụa khói nhang bay

hàng cây đứng ven đường, cũng cúi đầu im lặng

người lại qua ôm chiếc bóng dõi theo ngày.


Bác tài xế tuổi đời ước chừng đà hoa giáp

đoán biết rằng đã từng lái xe nhà binh

mặt khắc khổ giống một vị sư già khổ hạnh

chẳng hở một câu, bậm môi nói với mình.


Nhìn lại thân thùng thình trong bộ đồ dân sự

tuổi học sinh hiện về đau nhói cả tâm can

con ve sầu lánh mặt nằm im trong lòng đất

phượng vĩ đau bởi bầy mọt đục lụi tàn.


Màu mưa miết vẽ khung trời thêm ảm đạm

núi Chứa-Chan mây tang viền đỉnh đầu

rừng cũng khóc, khóc thay ngôi đổi chủ

đất linh-thiêng văng-vẳng nhịp vó câu.


Xe mệt mỏi chạy lòng vòng đi tìm bến đậu

ngồi trong xe lòng lo lắng phận hàng binh

thuốc độc mạnh đó chính là thù hận

chỉ còn mong thần thánh đoái thương tình.


Không kêu án, người tù biết bao giờ đoàn tụ

bậu cô đơn từng đêm gió hú úa dung nhan

đêm lạnh cẳng thân tù tỉ tê cùng đàn rệp

ngọn huân phong hy vọng giấc mơ màng.


Một buổi sáng dồn lên xe đi vào tù “lao cải”

siết đôi tay thay ngàn lời tiễn đưa nhau

bậu trở lại vô ra trong ngôi nhà lầm lũi

khắp núi đồng mong mỏi lá xanh màu.


Trang Y Hạ

(Trần Phước Hân).

Xuân Tâm, 1975.