NGHĨ VỀ BỐN CHỮ
“RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.
Người
xưa nói: “Tu đâu
cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa”.
Hoặc: “Cha mẹ sống
không cho ăn, khi cha mẹ chết làm văn tế ruồi.”.
Bất cứ đạo giáo nào cũng dạy thờ cha kính mẹ là
“phúc đức” lớn nhất. Trong “Mười Điều Răn” của
Chúa, thì điều thứ nhất là: “Thảo
kính Cha Mẹ”. Từ
đó, mà người xưa đã nghĩ tới bốn chữ “Cửu
Tự Cù Lao” để
phân tích, diễn giải các giai đoạn mà cha mẹ đã vất
vả sinh con, nuôi dưỡng con nên người.
“Chiều
chiều ra đứng ngõ sau
Ngó
về quê mẹ ruột đau chín chiều.”
Và:
“Vẳng
nghe tiếng vịt kêu chiều
Bâng
khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.”
Tuy
vậy, nhưng lại có một nhạc sĩ lại sửa lời trong nhạc
phẩm “Dân Ca”, rằng:
“Chiều
chiều chim vịt kêu chiều, bâng khuâng nhớ “BẠN”
chín chiều ruột đau”. Bạn
bè không sinh bạn, cũng không nuôi dưỡng bạn, thì mắc
mớ chi phải nhớ bạn tới chín chiều ruột đau dữ vậy?
Tình yêu trai gái cũng không tới nỗi, nhớ tới chín
chiều ruột đau kia mà! Người nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ,
thiết nghĩ khi cầm viết để viết hãy suy tính cẩn thận
đừng bao giờ - sửa lời, sửa ý các câu: Thành ngữ.
Tục Ngữ. Cao dao. Bởi các câu đó tuy ngắn nhưng lại
chứa đựng nhiều ý nghĩa huyền vi, triết học thâm sâu.
Thời
xưa, ông Thầy dạy rằng: “Các trò lấy văn của người
khác khoảng bốn [4] chữ
là phải bỏ vô dấu ngoặc kép, còn nếu biết tên tác
giả thì ghi tên tác giả, - bằng không làm vậy sẽ bị
phạm tội đạo văn”. Ông thầy dạy đúng, vì bốn chữ
thì đã hình thành một câu thành ngữ. Ví dụ như các
câu thành ngữ “ăn chắc mặc bền”; “tay làm hàm
nhai”, “Dao cùn cứa thịt”... Vậy, nếu mà không bỏ
vô dấu ngoặc kép là chẳng phải ăn cắp sao...?!
Biết
rằng trong đời người, từ thuở bé cho tới lúc trưởng
thành và bước chân vào xã hội, dù (giàu, nghèo) đều
phải có bạn bè, bạn hữu. Nhớ bạn, thương là đúng,
nhưng nhớ bạn tới “chín chiều ruột đau” sao? Người
xưa, nói: Bạn bè dù chơi thân thiết tới bạc đầu vẫn
luôn đề phòng họ chứ không phải là chỗ dựa, là chỗ
đặt niềm tin yêu mãnh liệt ở họ. Duy nhất, chỉ có
cha mẹ ruột mới là nơi an toàn, nhà của cha mẹ là nhà
của các con, gia sản của cha mẹ ruột là của các con.
Tình thương yêu của cha mẹ dành cho con đó là tình yêu
không vụ lợi, cha mẹ hy sinh cho các con cả về tinh thần,
vật chất - không bao giờ tính toán thiệt hơn. Ngoài tình
yêu của cha mẹ ra thì không còn một tình yêu có thể so
sánh.
Chín
chiều có nghĩa là thầm nhớ tới công lao cha mẹ đã
sinh ra và nuôi cho khôn lớn; cho ăn học thành tài. Từ
đó, người xưa dùng “Cửu Tự Cù Lao” là chín Chữ
tiêu biểu cho việc khó nhọc khi sanh con ra và nuôi nấng.
Tuy vậy, cha mẹ cũng chưa bao giờ bắt các con phải trả
ơn mà ngược lại cha mẹ lại còn lo cho con của con, (tức
là cháu ngoại, cháu nội.).
Chín
Chữ:
*Một:
- Sinh = (chín tháng cưu mang và sanh đẻ). Sinh đẻ ví như
một lần chết đi sống lại. Từ đó mới có câu: “Đàn
ông đi biển có đôi. Đàn bà đi biển mồ côi một
mình,”.
*Hai:
- Cúc = (nâng đỡ, tận tụy, lo toan, chăm sóc yêu thương).
“Cúc cung tận tụy”, đôi khi người mẹ quên hẳn
bản thân dù đau ốm để lo cho con.
*Ba:
- Phủ = (vuốt ve, trìu mến, bao bọc khi trời ấm lạnh).
Kỷ niệm đẹp nhất của tuổi thơ là (cái gối êm ái)
khi trở về tuổi già. Mùi của mẹ còn vương vấn mãi
suốt cuộc đời của con. Mẹ chính là “cây dù” che
mưa, che nắng – cả nghĩa đen, nghĩa bóng.
*Bốn:
- Súc = (cho bú mớm, cho ăn uống). Khoảng thời gian con
còn đang bú là khoảng thời gian người mẹ mệt mỏi
nhất, khi cai sữa xong là tập cho con ăn, phải bón đút
từng muỗng.
*Năm:
- Trưởng = (nuôi cho con khôn lớn.). Giai đoạn con khôn
lớn cũng là lúc cha mẹ bận rộn lo toan cả vật chất,
tinh thần và xã hội.
*Sáu:
- Dục = (giáo dục, dạy dỗ theo nế nếp gia phong và
thuần phong mỹ tục.). Cho con học thành tài. Dạy cho con
biết nhân cách làm người, làm người không nhân cách,
lương thiện thì dù có học hành, có bằng cấp cao, có
quyền chức cao cũng trở thành có hại cho bản thân, xã
hội.
*Bảy:
- Cố = (chiếu cố, trông nom bất cứ lúc nào). Tự cổ
chí kim người mẹ lúc nào cũng xem con của mình là (con
nít) – dù rằng đã có chồng vợ, con cháu đầy đàn và
ra ở riêng. Gặp mặt lại con, là mẹ kêu: (Thằng Hai,
Thằng Ba… Con Tư, Con Năm…). Tiếng kêu yêu thương giống
y như những ngày còn sống chung dưới một mái nhà thời
còn bé.
*Tám:
- Phục = (xem bản tính, tính nết.). Tính tình của mỗi
đứa con đều khác nhau chứ không hề giống, bản tính
rất khó nhận ra. Nhưng người mẹ thì nhận ra tính tình
mỗi đứa con rất dễ, bởi người mẹ biết mỗi đứa
con yêu cầu (làm nũng) điều gì, muốn cái gì? Đứa nào
nóng tính, ưa gây lộn, đứa nào ít nói. Từ đó người
mẹ biết mà uốn nắn.
*Chín:
– Phúc = (không để con rách rưới, đói lạnh.). Người
mẹ nào cũng nói “Đi làm kiếm gạo tiền nuôi con”.
Người mẹ chỉ biết nuôi con, nhịn cơm cho con ăn. Theo
Hán Tự. Phúc là no (bụng).
Ngó
về quê mẹ! Ôi! Chữ “ngó”, sao buồn bã ảm đảm thê
lương…! Tại sao không “đứng trông” về quê mẹ mà
lại ngó? Ngó đây là (lén ra ngõ sau mà ngó) chứ không
dám ra trước nhà vì sợ chồng, sợ gia đình chồng, -
khoảng thời gian quá ít, rất ngắn - chỉ liếc mắt về
phương trời cũ cho đỡ nhớ rồi trở về với hiện
tại; trở về với hiện thực của cuộc sống gia đình,
của công việc hằng ngày... Còn “trông” là có một
khoảng thời gian nhất định (đứng trông), để hồi
tưởng lại thuở còn bé sống cùng cha mẹ anh chị em và
trong tâm lòng (dường như mơ hồ) - sẽ trở về thăm
cha mẹ.
Người
con gái (nông thôn) còn trẻ, lần đầu xa nhà về sống
bên nhà chồng thời ở một xa xưa; thời phong kiến lễ
nghi ràng buộc chung quanh người phụ nữ, do đó chỉ dám
chiều chiều (là ngày nào cũng ra ngõ sau len lén ngó), -
chớ không dám đứng trông thoải mái mỗi ngày vì biết
phận con gái một khi đã đi lấy chồng thì coi như “đứt
dây nôi”. Đứng trông hoài, – nỗi buồn càng hiện rõ
lên khuôn mặt thì nhà chồng ắt biết, họ sẽ tỏ thái
độ…! Và, chính bản thân cũng không tập trung làm tròn
nhiệm vụ người vợ. Người con gái chỉ âm thầm - ngó
về quê mẹ mà ruột đau chín chiều. Do đó mà người
con gái ngày xưa, van nài đấng sinh thành:
“Má
ơi đừng gả con xa,
chim
kêu vượn hú, biết nhà má đâu”.
Thời
đại văn minh với đủ loại phương tiện di chuyển –
đường bộ, đường hàng không và thông tin liên lạc qua
điện thoại, qua email…, quá dễ dàng nên người con gái
dẫu lấy chống xa cũng không tới nỗi thương nhớ quay
quắt. Tuy vậy, một số cô gái lấy chồng người ngoại
quốc: (Đài Loan Dân
Quốc, Đại Hàn Dân Quốc…) chỉ
vì mong thoát cảnh nghèo cho bản thân, cho gia đình mà
nhắm mắt đưa chân cầu may nơi xứ người - từ cuộc
hôn nhân do người khác “dắt mối” chỉ vì tiền chứ
không tình yêu. Người con gái là một món hàng mặc cho
các “chú rể” dị tộc săm soi lựa chọn giống như
người đi chợ lựa cá, một khi lựa xong là (chồng
tiền) đặt cọc, sau đó lễ cưới diễn ra tượng trưng
rồi theo về quê chồng ở bên kia bờ đại dương mà
không biết quê chồng ở phố hay ở quê. Cuộc nhân duyên
phó mặc cho số mệnh đẩy đưa đau khổ biết bao! Con
gái có mười hai bến nước, biết bến nào mà chọn?
Sống
ở nơi phương trời xa thăm thẳm đó, người con gái cũng
chỉ dám ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều, người
con gái ở bất cứ thời nào, khi về nhà chồng thì vẫn
nhớ cha mẹ có khác chi người con gái thời “phong kiến”
xa xưa là mấy!
Câu
ca dao diễn tả tình cảm người con gái khi lìa xa nhà,
lìa xa cha mẹ ruột để theo chồng mà đứt từng đoạn
ruột. Mối dây tình cảm gia đình sâu nặng trong tâm hồn
không bao giờ phai lạc. Và, sau nầy dù có con rồi cũng
vẫn tơ tưởng về quê ngoại, sóng gió cuộc đời hay
đói khổ hoặc cơm không lành canh không ngọt đều quay
trở về bên ngoại để tìm nguồn an ủi vỗ về... Nơi
quê ngoại, đó chính là nơi cưu mang mà không đòi hỏi
bất cứ điều kiện gì cả ở con gái, ông bà ngoại chỉ
mong vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng dẫu
có là ly dị hay chồng chết, muốn đi thêm bước nữa
thì cứ ẵm con về giao cho ông bà ngoại để mà an tâm
đi lấy chồng mới.
Ông
bà xưa, nói:
“Cháu
ngoại thương dại thương dột,
Cháu
nội chẳng vội gì thương.”.
Cháu
ngoại thương dại thương dột, thương vội vàng, thương
vội vã là đúng. Bởi thương cháu ngoại tức là thương
con gái, ôm cháu ngoại tức là ôm con gái. Con gái dẫn
con về thăm ngoại đôi ba bữa nửa tháng rồi cũng phải
trở lại nhà chồng, trở về bên nhà nội. Người xưa
nói “lá rụng về cội”, từ nguyên do đó mà bên nội
“chẳng vội gì thương”. Bằng cái lý do bất di bất
dịch truyền kiếp nên bên ngoại phải vội vàng “thương
dại, thương dột.” được lúc nào hay lúc đó. Đôi khi
ông bà ngoại nhớ cháu ngoại quá thì đành phải khăn
gói, quà cáp tới thăm.
Người
xưa, cho biết “Cửu Tự Cù Lao”, thiết nghĩ đã tích
lũy công lao cần cù của đấng sinh thành - chẳng những
là truyền giống, nối dõi mà còn là tình yêu sâu nặng
của cha mẹ dành cho con mênh mông như trời biển. Dù là
con gái hay con trai cũng là con và luôn đối đãi yêu
thương ngang bằng chứ không phân biệt đố kỵ như Khổng
Tử, dạy: “Nhất tử viết nam, thập nữ viết vô”
hoặc: "Tam niên vô tử bất thành thê.” một
cách khinh miệt, hạ thấp nhân phẩm của người phụ nữ.
Tạm
xài hai câu thơ để kết thúc bài văn:
“Công
cha như núi Chứa Chan,
Nghĩa
mẹ tựa suối trên ngàn chảy ra”.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét