Thư viện

30/1/26

NGHĨ VỀ BỐN CHỮ “RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.

 



NGHĨ VỀ BỐN CHỮ “RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU”.

     Người xưa nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ bằng ba tu chùa”. Hoặc: “Cha mẹ sống không cho ăn, khi cha mẹ chết làm văn tế ruồi.”. Bất cứ đạo giáo nào cũng dạy thờ cha kính mẹ là “phúc đức” lớn nhất. Trong “Mười Điều Răn” của Chúa, thì điều thứ nhất là: “Thảo kính Cha Mẹ”. Từ đó, mà người xưa đã nghĩ tới bốn chữ “Cửu Tự Cù Lao” để phân tích, diễn giải các giai đoạn mà cha mẹ đã vất vả sinh con, nuôi dưỡng con nên người.

     “Chiều chiều ra đứng ngõ sau
    Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.”
Và:
     “Vẳng nghe tiếng vịt kêu chiều
    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.”

     Tuy vậy, nhưng lại có một nhạc sĩ lại sửa lời trong nhạc phẩm “Dân Ca”, rằng:

     “Chiều chiều chim vịt kêu chiều, bâng khuâng nhớ “BẠN” chín chiều ruột đau”. Bạn bè không sinh bạn, cũng không nuôi dưỡng bạn, thì mắc mớ chi phải nhớ bạn tới chín chiều ruột đau dữ vậy? Tình yêu trai gái cũng không tới nỗi, nhớ tới chín chiều ruột đau kia mà! Người nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, thiết nghĩ khi cầm viết để viết hãy suy tính cẩn thận đừng bao giờ - sửa lời, sửa ý các câu: Thành ngữ. Tục Ngữ. Cao dao. Bởi các câu đó tuy ngắn nhưng lại chứa đựng nhiều ý nghĩa huyền vi, triết học thâm sâu.

     Thời xưa, ông Thầy dạy rằng: “Các trò lấy văn của người khác khoảng bốn [4] chữ là phải bỏ vô dấu ngoặc kép, còn nếu biết tên tác giả thì ghi tên tác giả, - bằng không làm vậy sẽ bị phạm tội đạo văn”. Ông thầy dạy đúng, vì bốn chữ thì đã hình thành một câu thành ngữ. Ví dụ như các câu thành ngữ “ăn chắc mặc bền”; “tay làm hàm nhai”, “Dao cùn cứa thịt”... Vậy, nếu mà không bỏ vô dấu ngoặc kép là chẳng phải ăn cắp sao...?!

     Biết rằng trong đời người, từ thuở bé cho tới lúc trưởng thành và bước chân vào xã hội, dù (giàu, nghèo) đều phải có bạn bè, bạn hữu. Nhớ bạn, thương là đúng, nhưng nhớ bạn tới “chín chiều ruột đau” sao? Người xưa, nói: Bạn bè dù chơi thân thiết tới bạc đầu vẫn luôn đề phòng họ chứ không phải là chỗ dựa, là chỗ đặt niềm tin yêu mãnh liệt ở họ. Duy nhất, chỉ có cha mẹ ruột mới là nơi an toàn, nhà của cha mẹ là nhà của các con, gia sản của cha mẹ ruột là của các con. Tình thương yêu của cha mẹ dành cho con đó là tình yêu không vụ lợi, cha mẹ hy sinh cho các con cả về tinh thần, vật chất - không bao giờ tính toán thiệt hơn. Ngoài tình yêu của cha mẹ ra thì không còn một tình yêu có thể so sánh.

     Chín chiều có nghĩa là thầm nhớ tới công lao cha mẹ đã sinh ra và nuôi cho khôn lớn; cho ăn học thành tài. Từ đó, người xưa dùng “Cửu Tự Cù Lao” là chín Chữ tiêu biểu cho việc khó nhọc khi sanh con ra và nuôi nấng. Tuy vậy, cha mẹ cũng chưa bao giờ bắt các con phải trả ơn mà ngược lại cha mẹ lại còn lo cho con của con, (tức là cháu ngoại, cháu nội.).

Chín Chữ:

     *Một: - Sinh = (chín tháng cưu mang và sanh đẻ). Sinh đẻ ví như một lần chết đi sống lại. Từ đó mới có câu: “Đàn ông đi biển có đôi. Đàn bà đi biển mồ côi một mình,”.
     *Hai: - Cúc = (nâng đỡ, tận tụy, lo toan, chăm sóc yêu thương). “Cúc cung tận tụy”, đôi khi người mẹ quên hẳn bản thân dù đau ốm để lo cho con.
     *Ba: - Phủ = (vuốt ve, trìu mến, bao bọc khi trời ấm lạnh). Kỷ niệm đẹp nhất của tuổi thơ là (cái gối êm ái) khi trở về tuổi già. Mùi của mẹ còn vương vấn mãi suốt cuộc đời của con. Mẹ chính là “cây dù” che mưa, che nắng – cả nghĩa đen, nghĩa bóng.
     *Bốn: - Súc = (cho bú mớm, cho ăn uống). Khoảng thời gian con còn đang bú là khoảng thời gian người mẹ mệt mỏi nhất, khi cai sữa xong là tập cho con ăn, phải bón đút từng muỗng.
     *Năm: - Trưởng = (nuôi cho con khôn lớn.). Giai đoạn con khôn lớn cũng là lúc cha mẹ bận rộn lo toan cả vật chất, tinh thần và xã hội.
     *Sáu: - Dục = (giáo dục, dạy dỗ theo nế nếp gia phong và thuần phong mỹ tục.). Cho con học thành tài. Dạy cho con biết nhân cách làm người, làm người không nhân cách, lương thiện thì dù có học hành, có bằng cấp cao, có quyền chức cao cũng trở thành có hại cho bản thân, xã hội.
     *Bảy: - Cố = (chiếu cố, trông nom bất cứ lúc nào). Tự cổ chí kim người mẹ lúc nào cũng xem con của mình là (con nít) – dù rằng đã có chồng vợ, con cháu đầy đàn và ra ở riêng. Gặp mặt lại con, là mẹ kêu: (Thằng Hai, Thằng Ba… Con Tư, Con Năm…). Tiếng kêu yêu thương giống y như những ngày còn sống chung dưới một mái nhà thời còn bé.
     *Tám: - Phục = (xem bản tính, tính nết.). Tính tình của mỗi đứa con đều khác nhau chứ không hề giống, bản tính rất khó nhận ra. Nhưng người mẹ thì nhận ra tính tình mỗi đứa con rất dễ, bởi người mẹ biết mỗi đứa con yêu cầu (làm nũng) điều gì, muốn cái gì? Đứa nào nóng tính, ưa gây lộn, đứa nào ít nói. Từ đó người mẹ biết mà uốn nắn.
     *Chín: – Phúc = (không để con rách rưới, đói lạnh.). Người mẹ nào cũng nói “Đi làm kiếm gạo tiền nuôi con”. Người mẹ chỉ biết nuôi con, nhịn cơm cho con ăn. Theo Hán Tự. Phúc là no (bụng).

     Ngó về quê mẹ! Ôi! Chữ “ngó”, sao buồn bã ảm đảm thê lương…! Tại sao không “đứng trông” về quê mẹ mà lại ngó? Ngó đây là (lén ra ngõ sau mà ngó) chứ không dám ra trước nhà vì sợ chồng, sợ gia đình chồng, - khoảng thời gian quá ít, rất ngắn - chỉ liếc mắt về phương trời cũ cho đỡ nhớ rồi trở về với hiện tại; trở về với hiện thực của cuộc sống gia đình, của công việc hằng ngày... Còn “trông” là có một khoảng thời gian nhất định (đứng trông), để hồi tưởng lại thuở còn bé sống cùng cha mẹ anh chị em và trong tâm lòng (dường như mơ hồ) - sẽ trở về thăm cha mẹ.

     Người con gái (nông thôn) còn trẻ, lần đầu xa nhà về sống bên nhà chồng thời ở một xa xưa; thời phong kiến lễ nghi ràng buộc chung quanh người phụ nữ, do đó chỉ dám chiều chiều (là ngày nào cũng ra ngõ sau len lén ngó), - chớ không dám đứng trông thoải mái mỗi ngày vì biết phận con gái một khi đã đi lấy chồng thì coi như “đứt dây nôi”. Đứng trông hoài, – nỗi buồn càng hiện rõ lên khuôn mặt thì nhà chồng ắt biết, họ sẽ tỏ thái độ…! Và, chính bản thân cũng không tập trung làm tròn nhiệm vụ người vợ. Người con gái chỉ âm thầm - ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều. Do đó mà người con gái ngày xưa, van nài đấng sinh thành:
     “Má ơi đừng gả con xa,
    chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu”.

     Thời đại văn minh với đủ loại phương tiện di chuyển – đường bộ, đường hàng không và thông tin liên lạc qua điện thoại, qua email…, quá dễ dàng nên người con gái dẫu lấy chống xa cũng không tới nỗi thương nhớ quay quắt. Tuy vậy, một số cô gái lấy chồng người ngoại quốc: (Đài Loan Dân Quốc, Đại Hàn Dân Quốc…) chỉ vì mong thoát cảnh nghèo cho bản thân, cho gia đình mà nhắm mắt đưa chân cầu may nơi xứ người - từ cuộc hôn nhân do người khác “dắt mối” chỉ vì tiền chứ không tình yêu. Người con gái là một món hàng mặc cho các “chú rể” dị tộc săm soi lựa chọn giống như người đi chợ lựa cá, một khi lựa xong là (chồng tiền) đặt cọc, sau đó lễ cưới diễn ra tượng trưng rồi theo về quê chồng ở bên kia bờ đại dương mà không biết quê chồng ở phố hay ở quê. Cuộc nhân duyên phó mặc cho số mệnh đẩy đưa đau khổ biết bao! Con gái có mười hai bến nước, biết bến nào mà chọn?

     Sống ở nơi phương trời xa thăm thẳm đó, người con gái cũng chỉ dám ngó về quê mẹ mà ruột đau chín chiều, người con gái ở bất cứ thời nào, khi về nhà chồng thì vẫn nhớ cha mẹ có khác chi người con gái thời “phong kiến” xa xưa là mấy!

     Câu ca dao diễn tả tình cảm người con gái khi lìa xa nhà, lìa xa cha mẹ ruột để theo chồng mà đứt từng đoạn ruột. Mối dây tình cảm gia đình sâu nặng trong tâm hồn không bao giờ phai lạc. Và, sau nầy dù có con rồi cũng vẫn tơ tưởng về quê ngoại, sóng gió cuộc đời hay đói khổ hoặc cơm không lành canh không ngọt đều quay trở về bên ngoại để tìm nguồn an ủi vỗ về... Nơi quê ngoại, đó chính là nơi cưu mang mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì cả ở con gái, ông bà ngoại chỉ mong vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng dẫu có là ly dị hay chồng chết, muốn đi thêm bước nữa thì cứ ẵm con về giao cho ông bà ngoại để mà an tâm đi lấy chồng mới.

Ông bà xưa, nói:
      “Cháu ngoại thương dại thương dột,
     Cháu nội chẳng vội gì thương.”.

     Cháu ngoại thương dại thương dột, thương vội vàng, thương vội vã là đúng. Bởi thương cháu ngoại tức là thương con gái, ôm cháu ngoại tức là ôm con gái. Con gái dẫn con về thăm ngoại đôi ba bữa nửa tháng rồi cũng phải trở lại nhà chồng, trở về bên nhà nội. Người xưa nói “lá rụng về cội”, từ nguyên do đó mà bên nội “chẳng vội gì thương”. Bằng cái lý do bất di bất dịch truyền kiếp nên bên ngoại phải vội vàng “thương dại, thương dột.” được lúc nào hay lúc đó. Đôi khi ông bà ngoại nhớ cháu ngoại quá thì đành phải khăn gói, quà cáp tới thăm.
 
     Người xưa, cho biết “Cửu Tự Cù Lao”, thiết nghĩ đã tích lũy công lao cần cù của đấng sinh thành - chẳng những là truyền giống, nối dõi mà còn là tình yêu sâu nặng của cha mẹ dành cho con mênh mông như trời biển. Dù là con gái hay con trai cũng là con và luôn đối đãi yêu thương ngang bằng chứ không phân biệt đố kỵ như Khổng Tử, dạy: “Nhất tử viết nam, thập nữ viết vô” hoặc: "Tam niên vô tử bất thành thê.” một cách khinh miệt, hạ thấp nhân phẩm của người phụ nữ.

Tạm xài hai câu thơ để kết thúc bài văn:

     “Công cha như núi Chứa Chan,
    Nghĩa mẹ tựa suối trên ngàn chảy ra”.

Trang Y Hạ.
San Francisco.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét