Thư viện

8/1/26

TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.

 



TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.

Kẻ Sĩ Ngày Xưa:

     Từ khi nhân loại biết dùng ký tự (chữ viết) và học hành thì chính là lúc đó đã có “kẻ sĩ”. Theo Hán Tự, chữ “SĨ” là người, (người có học vấn). Kẻ sĩ () là một danh xưng tôn kính chỉ về người có học vấn ở trong xã hội phong kiến Trung Quốc và các quốc gia phong kiến Đông, Tây. Kẻ sĩ, họ là những người có tài năng, có tri thức, có đạo đức, có trách nhiệm. Từ chỗ có học vấn uyên thâm: - họ đã cho ra đời rất nhiều công trình nghiên cứu và nhiều tác phẩm lừng danh.

     Trong trường đời, đôi khi có những người họ không lấy được bằng cấp cao, nhưng họ vẫn là kẻ sĩ. Và, một khi kẻ sĩ nhận định sai - đi sai đường hoặc phục vụ cho bạo chúa, độc tài thì cũng đem lại nhiều khổ đau cho bản thân và xã hội.

Từ lý do đó, mà người xưa nói:

     “Thiên hạ bổn vô sự, dung nhơn tự nhiễu chi.”. Tạm dịch: (Thiên hạ vốn bình yên,kẻ khờ tự khuấy động.).

     Kẻ sĩ ngày xưa đóng một vai trò rất quan trong lãnh vực giáo dục, kẻ sĩ giữ khuôn vàng thước ngọc, cân bằng về đạo đức, gia giáo, phê bình cái xấu củng cố cổ vũ cái đẹp... Bởi vậy, không một chế độ nào muốn tồn tại mà không thể không dùng kẻ sĩ. Xã hội ngày xưa rất coi trọng “kẻ sĩ”, nên có câu: “Nhất sĩ, Nhì nông”. Sống trong chế độ phong kiến và quân chủ chuyên quyền, thiên hạ luôn trông chờ một đấng Minh Vương, một vị quan Thanh Liêm, nếu xã hội suy đồi loạn lạc cướp bọc thì chỉ biết dựa vào Hiệp Sĩ. Từ nguyên do đó mà bá tánh luôn coi trọng những kẻ sĩ có tâm, kẻ sĩ có nhân cách.

     Thời chủ nghĩa cộng sản, thì “kẻ sĩ, trí thức”, đều thuộc thành phần tư sản “phản động” cần phải loại bỏ. Theo “Lenin Toàn Tập”. Bản tiếng Nga, thì:

     “Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là CỨT (говно).". Tiến Sĩ, Nguyễn Đình Đăng. Dịch.

     Câu nói của ông Lenin cho rằng “Bộ Não Của Trí Thức Là CỨT” cũng có phần đúng, - hiểu theo cách nhìn của một lãnh tụ theo chủ thuyết “cộng sản vô thần”. Theo ngụ ý của ông Lenin, nghĩa là: (Trí thức, một khi chưa được “tẩy não” sạch sẽ để có một lòng trung thành tuyệt đối phục vụ cho đảng thì chẳng khác gì một cục cứt.).

     Thật ra, nếu tẩy não trí thức đi theo một hướng như bầy cừu thì trí thức chẳng hóa ra “hèn” hết ư...?! Tại sao không nói trắng ra rằng: - phải “biết hèn để sống” bằng không sẽ bị loại trừ? Do đó, sống dưới thời phong kiến, thời độc đảng, độc tài thì - kẻ sĩ phải tự thích nghi, thay màu như con tắc kè để làm theo “tấm bảng chỉ đường” do người ta dựng sẵn.

     Tong cuộc sống cũng có khá nhiều kẻ sĩ thích được “hèn”, bởi thích chủ thuyết hoặc mượn chủ thuyết để “mua quan bán chúc” mưu cầu hạnh phúc cho bản thân - bất kể liêm sỉ, bất kể nhân cách làm người, bất kể sự thật. Kẻ sĩ tự hạ mình thành kẻ “hèn”, thì - loại kẻ sĩ này rất nguy hiểm cho cộng đồng; cho gia đình, bạn hữu. Loại kẻ sĩ tự hèn, họ không tuân thủ bất cứ quy tắc đạo đức, trách nhiệm. Họ có thể bán đứng bất cứ thứ gì (có thể bán), - miễn đạt được mục đích, là: có quyền, có tiền nhằm vinh thân phì gia.

     Loại kẻ sĩ nầy, tới một lúc nào đó sẽ chợt tỉnh ngộ ra rằng bản thân “cống hiến” quá nhiều, nhưng cuối cùng cũng bị “vắt chanh bỏ vỏ”, nên đâm ra (trở mặt) để tìm về vị trí cao quý của kẻ sĩ - dù có trễ. Điển hình, như: Vũ Thư Hiên với tác phẩm “Đêm Giữa Ban Ngày”, Nhạc sĩ Tô Hải với tác phẩm “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”. Trần Đĩnh với tác phẩm “Đèn Cù”…

Thi sĩ Trần Tế Xương cũng đã từng làm thơ chế riễu:

     “Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
    Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
    Phen này ông quyết đi buôn lọng,
    Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

    Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
    Phen này ông quyết đi buôn lọng,
    Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.".

      Thời Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam, - một nhóm trí thức (kẻ sĩ), gồm mười tám [18] người, phần nhiều họ có bằng tốt nghiệp đại học từ Pháp Quốc mà tổng thống Ngô Đình Diệm rất kính trọng, Cụ Diệm gặp họ - Cụ xưng là “Ngài” với tấm lòng ưu ái. Họ, là trí thức, bác sĩ, luật sư... đã được Cụ Diệm mời ra cộng tác nhưng họ cộng tác một thời gian ngắn thì đòi ly khai, ly khai bởi chính quyền không đáp ứng các yêu cầu theo (ý riêng) của nhóm họ. Tiêu biểu: (Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Văn Đỗ, Nguyễn Lưu Viên, Linh mục Hồ Văn Vui, Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát, và các người khác... ). Người đời gọi họ là “Nhóm Caravelle”.

     Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, một số lớn trong nhóm caravelle đó vẫn tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền – (chức vụ cao nhất là Thủ tướng Phan Huy Quát, ký thỏa thuận cho quân đội Hoa Kỳ đổ quân vô miền Nam năm một ngàn chín trăm sáu mười lăm [1965]) – Thời đệ nhị nhóm trí thức đó, họ cũng không làm nên chuyện gì nổi bật cho đất nước và dẫn tới ngày Bắc Việt xóa sổ miền Nam. Ngày chế độ miền Nam không còn - một số họ cũng chạy ra nước ngoài tỵ nạn, có người viết hồi ký kể tội phê phán gay gắt hai nền cộng hòa. Họ không dám quay đầu trở về với vị trí cao quý của một kẻ sĩ như thuở ban đầu. Tệ hơn nữa là ở nước ngoài, họ viết “Thư Ngỏ”, dâng lên đảng Cộng sản Việt Nam xin xỏ, như sau:

     “Thư ngỏ nêu lên Ba [3] yêu cầu chính, ngoài việc từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, nhóm nhân sĩ trí thức còn yêu cầu Hà Nội ngăn chận mưu đồ bành trướng của Trung Quốc, thoát khỏi sự lệ thuộc của Bắc Kinh về cả kinh tế lẫn chính trị và xã hội, đồng thời sửa đổi Hiến Pháp, thực hiện các quyền tự do dân chủ của người dân, xây dựng kỷ cương xã hội, sửa đổi luật đất đai.”. (Theo: VOA).

     Vậy là mới rõ rằng trí thức (kẻ sĩ), của người quốc gia vốn thơ ngây, mơ hồ… - bởi họ không hiểu một chút gì về bản chất của “chủ thuyết cộng sản” toàn trị. Họ, trước kia đã có một đất nước tự do; một thời phục vụ chính quyền (Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa), do dân bầu - hợp pháp, hợp hiến, hợp công pháp quốc tế. Đã có tự do, Đã có tư hữu, Đã có Nhân Quyền, Đã có tự do báo chí… Nhưng tiếc thay không biết quý trọng, giữ gìn! Bây giờ thân bại danh liệt tỵ nạn nơi xứ người - lại ngồi viết thư xin đảng Cộng sản Việt Nam các thứ, - đi xin những thứ mà Cộng sản Việt Nam không bao giờ có để mà cho - đi xin những thứ mà không thuộc về mình.

     Trong xã hội phong kiến vua chúa và quân chủ chuyên chế, thì chuyện học hành chỉ mong ra làm quan. May mắn, đậu Trạng Nguyên thì vinh quy bái tổ về làng, đồng thời được nhà vua trọng dụng, thậm chí gả công chúa làm vợ. Ngày xưa, một khi thi đậu “Trạng nguyên, Bãng nhỡn, Thám hoa, Cử nhơn, Tú tài”, tấm bằng đó là một gia sản của cả cuộc đời, - dù không ra làm quan cũng trở thành ông thầy giáo được người đời tôn vinh, kính nể, được ăn trên ngồi trước.

     Từ cái mộng làm quan, cộng với công lao, tiền của của cha mẹ lo cho ăn học - công ơn cao quý đó đã làm cho người “kẻ sĩ” co mình trong cái ơn nghĩa phải báo đáp - cho nên hầu hết kẻ sĩ thụ động, không dám dấn thân mà chỉ trông chờ một “đấng minh vương” nào đó gầy dựng cơ đồ là theo phò tá - tận trung, ngu trung tới suốt đời. Kẻ sĩ thuở xưa, nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”. Nghĩ là: (Thiên hạ có đạo thì mới ra làm quan).

     Và, kẻ sĩ ngày xưa, cũng nói: “Đại ẩn tại triều, trung ẩn tại thị, tiểu ẩn tại sơn”. Nghĩa là: Đại ẩn tại triều: Người ở ẩn khôn ngoan, mưu sâu là ẩn giữa chốn quan trường để chờ dịp mà hành động. Ví dụ, như: Tư Mã Ý, ẩn thân làm quan cho Tào Tháo, nhưng giấu kỹ mưu đồ soán ngôi. Tào Tháo dù biết nhưng không bằng chứng nên đành chịu và hậu quả là Tư Mã Ý tiêu diệt dòng họ nhà Tào. Hồ Quý Ly vốn người đất Mân (Phúc Kiến) phò nhà Trần cũng tương tự như Tư Mã Ý, - soán ngôi nhà Trần lập nên nước (Đại Ngu). Kẻ sĩ có lòng phản trắc như Tư Mã Ý, Hồ Quý Ly, Tần Cối... - đáo cuộc bản thân, gia đình đều bị tiêu vong và để tiếng xấu cho hậu thế. Trung ẩn tại thị, là người sống ẩn cư giữa chợ, nhìn thế cuộc cầu may, Ví dụ: Bách Lý Hề, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm... Tiểu ẩn, là người chạy vô trong rừng sâu để sống. Ví dụ, như: Khổng Minh, Hứa Do, Sào Phủ, Khương Tử Nha, Y Doãn... Họ trốn vô rừng, vô ruộng rẫy, sông suối ở ẩn để chờ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, mới ló đầu ra đi tìm chức quan hoặc nằm mong một ai đó, mời mọc, năn nỉ ỉ ôi, mới chịu ra giúp…

     Có một điều đáng nói là các kẻ sĩ đi tìm Minh Vương để phò tá, hoặc được đích thân các Minh Vương mời ra làm quan, làm quân sự, - tới khi các đấng (minh vương) đó đã hoàn tất việc chinh chiến tranh giành và nắm quyền hành tuyệt đối trở thành Hoàng Đế, Vua Chúa thì kẻ sĩ như: “cá nằm trên thớt.”. (Kẻ được phong chức, kẻ bị tru di tam tộc, kẻ bị cho ngồi chơi xơi nước, kẻ bị đày đi tù đày, kẻ mất chức về quê đuổi gà cho vợ). Từ xưa, chỉ có hai công thần “kẻ sĩ”, thoát khỏi tai ương đó. Một là: Trương Lương, sau thời gian âm thầm giúp Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán xong, ông không chờ nhận chức tước mà xin cáo lui về quê với lý do - tụng kinh “Huỳnh Đình”. Hai là: Phạm lãi, sau khi đã giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô Phù Sai, ông cũng lặng lẽ rút lui cùng với Tây Thi ngao du nơi Động Đình Hồ.

     Số phận thăng trầm của kẻ sĩ cũng bởi vì mộng công hầu mà phải gánh tai ương; chịu vạ sát thân - chứ không như “tu sĩ. Tu sĩ “Nhãn quán hình sắc nội vô hữu, Nhĩ thính trần sự tâm bất tri.”. Tạm dịch: (Mắt nhìn hình sắc, lòng không động, Tai vẳng chuyện đời, dạ chẳng hay.).

Vua, Không Xuất Thân Từ Kẻ Sĩ:

     Từ xưa, người lập nên nghiệp bá, đế vương phần nhiều không xuất thân từ “kẻ sĩ”. Nhưng được nhiều kẻ sĩ chạy theo phò tá rất đông. Tuy họ chỉ là người bình thường, có khi là rất bình thường. Điển hình như:

     - Lưu Bang là một trong vài người sáng lập triều đại Nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc, xuất thân từ tầng lớp nông dân chứ không phải là kẻ sĩ. Lưu Bang chỉ là một “Đình Trưởng” nhỏ bé.

     - Chu Nguyên Chương, dựng nên Nhà Minh xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, phải đi giữ dê bò cho địa chủ. Thiên tai, dịch bệnh, hạn hán nên cha mẹ, các anh chị của ông đều nối tiếp nhau chết đói. Ông tới chùa Hoàng Giác làm thầy tu, đi khất thực ba năm, trải qua quá nhiều gian khổ.

     - Thành cát Tư Hãn. Ông lớn lên trong cảnh nghèo khó nơi sa mạc với các bộ tộc và bị ruồng bỏ sau khi cha của ông chết sớm, ông lang thang trong cảnh túng thiếu nên buộc phải chiến đấu để sinh tồn. Cuối cùng thống nhất được các bộ lạc Mông Cổ. Từ đó ông được tôn làm Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206, trở thành người sáng lập Đế quốc Mông Cổ.

     - Hoàng Đế Toyotomi Hideyoshi ở Nhật Bản, người thống nhất đất nước và Hoàng đế Basil I của Đế quốc Byzantine, họ cũng xuất thân từng tầng lớp thấp.

     - Nhà Vua Trần. Họ Trần, tổ tiên của nhà vua là người đất Mân, Phúc Kiến (Trung Quốc) di cư tới Tức Mặc, phủ Thiên Trường, đời đời làm nghề đánh cá. Đặt tên cũng đặt bằng tên của các loài cá. Ông Trần Thủ Độ cũng đâu có biết nhiều chữ nghĩa, nhưng ông lại là công thần hàng đầu dựng nên nhà Trần.
     - Lý Công Uẩn, dựng nên Nhà Lý (chú tiểu ở chùa). Theo sách: “Mộng Kê Bút Đàm” của (Thẩm-Hoạt) đời Tống thì Lý-Công-Uẩn vốn gốc là người Mân (Phúc-Kiến). Và, Tiến sĩ Từ-Bá-Tường, người Quảng-Tây, nhà Tống. Nội dung trong thư gửi cho Công Uẩn cũng nói: “Tiên thế đại vương vốn là người đất Mân. Tôi nghe nói công khanh ở Giao Chỉ cũng có nhiều người đất Mân.”.

     Và, còn nhiều người xây dựng cơ đồ hay lập nên nghiệp vương, nghiệp bá mà họ không là “kẻ sĩ”. Tuy rằng các bậc khai cơ, khai nghiệp lớn đó không học vấn cao thâm, thậm chí rất ít học nhưng họ có cặp mắt “thần”. Họ, - nhận biết người tài. Họ hiểu người tài. Họ biết trọng dụng người tài. Họ biết đãi ngộ người tài… Và, đặc biệt là có niềm tin mãnh liệt cũng như tầm nhìn bao quát tình hình thế sự... Người xưa nói, họ có “Chân Mạng Thiên Tử”. Người có chân mạng thiên tử ắt sẽ có nhiều bậc trí sĩ ẩn cư tìm gặp, mang tài cán ra giúp đỡ làm nên nghiệp đế vương.

     Thiên hạ từ xưa đã tự hỏi - “Tại sao kẻ sĩ có học vấn, có tri thức và bằng cấp mà không tự đứng ra lập vương, lập đế?”. Có nhiều nguyên do, nhưng tựu trung chỉ có hai nguyên do chánh:

Thứ Nhất:
     Ngày xưa, người đi học, học theo lối mòn từ một khuôn nắn ra. Đó là chỉ biết “văn hay, chữ đẹp”!. Sĩ tử quanh đi quẩn lại chỉ học sách của các bậc đi trước, soạn sẵn, - một thứ “Kinh Sách” cố định một chiều truyền từ đời này sang đời khác, cứ vậy mà học theo lối mòn chứ không “cải cách” hay “khai phóng”. Không dạy cách nhìn thực tiễn sâu rộng ra ở bên ngoài xã hội và tranh luận, suy luận để tìm tòi. Và hơn hết là sợ “thay đổi”. Đầu óc thủ cựu đó thấm sâu vào não bộ, truyền lại các thế sau như một “mệnh lệnh” vô hình ràng rịt tới mê muội.

Thứ Nhì:
     Học là để làm quan, báo ơn vua, báo ơn cha mẹ dòng tộc... Hơn nữa là chốn quan trường chẳng khác gì chiến trường phải cạnh tranh khốc liệt để giữ mạng sống, giữ địa vị nên không còn thời gian lo nghĩ chuyện cao xa. Ngại dấn thân, bởi sợ thất bại, sợ bị vu khống tù tội... Trong não kẻ sĩ chỉ biết vâng lệnh, không dám mạnh dạn nêu ra ý kiến và đặt vấn đề tranh luận đúng sai. Từ lý do đó mà hầu hết kẻ sĩ e dè không dám phiêu lưu.

Kẻ Sĩ Hiện Nay:
 
     Kẻ sĩ ngày xưa thì đã rõ ràng, còn kẻ sĩ hiện nay thì khái niệm kẻ sĩ có vẻ mơ hồ và càng mơ hồ hơn. Tại sao gọi là “mơ hồ”? Bởi kẻ sĩ thời nay không nhằm phục vụ cho một thế lực nào cố định hay một lãnh vực nào cố định. Kẻ sĩ ngày nay, họ có toàn quyền lựa chọn nghành nghề; họ có quyền nêu ra vấn đề “đúng, sai”. Họ có quyền xin thôi việc nếu bị chèn ép. Họ cũng không bị áp lực phải trả ơn. Kẻ sĩ ngày nay đa dạng và tự do tranh luận công khai. Họ không bị gò ép phải đi theo một hướng. Thời đại văn minh, kỹ nghệ, nên cuộc sống hầu như vội vã, suy nghĩ cũng thực tế, thực dụng. Tất cả đều lo tìm tòi để theo kịp đà phát triển của khoa học.

     Tuy vậy, kẻ sĩ sống dưới chế độ độc tài thì họ vẫn là công cụ cho người khác sai khiến để phục vụ cho một nhóm, một đảng phái. Do đó, họ cũng phải (biết hèn) để tồn tại, cái hèn thời cuộc buộc phải hèn, nhưng trong số kẻ sĩ không cam tâm hèn – để cúi đầu khuất phục làm tôi mọi suốt đời mà họ vùng dậy đấu tranh. Kẻ sĩ thời nay họ cũng biết “sai lầm”, dẫn tới nguy hiểm cho bản thân, - cũng may là ở thời buổi bùng nổ truyền thông, báo chí... - kẻ sĩ có chỗ tranh luận bày tỏ chính kiến. Chính điều này mà đã làm cho nhà cầm quyền độc tài e ngại, rồi từ e ngại không kiểm soát nổi, nên đàn áp, bỏ tù. Điển hình: Vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” là một bằng chứng.

     Kẻ sĩ ở trong “Nhân Văn Giai Phẩm” dù là nạn nhân nhưng họ không “hèn”. Họ chịu bản án bất công và chịu tù đày nhiều năm. Điển hình, như: Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Hữu Loan, Bùi Xuân Phái, Lê Đạt, Nguyễn Bính, Nguyễn Mạnh Tường, Văn Cao, Đào Duy Anh, Yến Lan, Trần Đức Thảo… Và còn một số tên tuổi khác nữa. Đặc biệt là có nữ văn sĩ Thụy An. Ngược lại, có nhiều “kẻ sĩ” cùng thời lại vì sợ liên lụy tới bản thân gia đình mà bị khuất phục đầu hàng trước cường quyền để rồi cam tâm làm “đầy tớ trung thành” thậm chí còn quay lại làm chứng gian tố cáo, vu khống bạn hữu thân thiết đã một thời cùng cộng tác với nhau trên các văn đàn.

Biết bao oan ức tới nỗi Nguyễn Hữu Đang, phải thốt lên, Câu đối: - “Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
- Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế, quý cuộc đời Nguyễn Trãi, Trương Lương. (Nguyễn Hữu Đang)

Và, một Phùng Quán muốn “làm người chân thật”, nhưng quá khó. Ông viết bài thơ:

Lời Mẹ Dặn.

   Người làm xiếc đi dây rất khó
      Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
      Đi trọn đời trên con đường chân thật.
      Yêu ai cứ bảo là yêu
      Ghét ai cứ bảo là ghét
      Dù ai ngon ngọt nuông chiều
      Cũng không nói yêu thành ghét
      Dù ai cầm dao doạ giết
      Cũng không nói ghét thành yêu.
      Tôi muốn làm nhà văn chân thật.”.

                           Trích thơ: (Phùng Quán)

     Tiêu chí, mục đích của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đơn giản chỉ là đòi “cởi trói” cho văn nghệ sĩ tự do sáng tác văn chương thi phú; cởi trói cho nền văn học được khai phóng. Nhóm chỉ vì hai chự “Tự Do” mà bị tù đày.

     Câu nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”, của kẻ sĩ ngày xưa vẫn còn có ý nghĩa và “hữu dụng” cho tới tận ngày nay. Tại sao phải nói “hữu dụng”? Bởi kẻ sĩ hiện nay khôn ngoan và thuận lợi hơn kẻ sĩ thời phong kiến. Họ không cần “đấng minh vương”, cũng không hẳn cúi đầu lâu dài phục vụ cho bọn “độc tài, độc đảng”, họ biết thức thời để kiếm ăn, làm giàu rồi tìm đường rút lui. Nghĩa là kẻ sĩ hiện nay vẫn còn núp bóng “Thiên Hạ Hữu Đạo”, với một hình thức mới, hình thức tinh vi hơn với nhiều biến tướng và che giấu kỹ lưỡng.

     Kẻ sĩ thời phong kiến, bị gò ép vào quá mức vào đạo đức, truyền thống gia đình, xã hội và trung thành với vua chúa nên không dám đòi hỏi quyền lợi quá đáng. Ngược lại, kẻ sĩ thời bây giờ, họ cũng nhìn thế sự thăng trầm ra sao rồi mới “tham chính”. Một khi đã tham chính thì, - lại so kè, chạy vạy tìm đủ mọi cách để được tiến chức; thăng quan thu được quyền lợi nhiều hơn, nếu không đáp ứng đầy đủ thì quay ra “phản phé” thoát ly, chạy trốn, lập phe nhóm riêng.

     Ngày nay các môn học đa dạng, kẻ sĩ hiện nay bằng cấp nhiều hơn, mỗi người có năm bảy cái bằng tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhơn là chuyện bình thường. Tuy bằng cấp có nhiều, còn tài năng thục học thì có khi theo không kịp cái bằng, đôi khi bằng cấp lại là “bằng mua, bằng giả” để hợp thức hóa một chức vụ, một cấp bậc nào đó... Một xã hội suy đồi tha hóa đạo đức thì kẽ sĩ - dù có trốn nơi trốn triều trung, có trốn giữa chợ, có trốn vô rừng sâu, thiết nghĩ cũng đều giống như nhau. Thôi, tốt hơn hết là đối mặt mà ngẫm câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”. Biết đây là biết thời, biết thế và rồi kẻ sĩ lại chờ một “Đấng Minh Vương” mới để phò tá. Nhưng khổ thay, cái đấng minh vương tự cổ chí kim chỉ có đếm trên đầu ngón tay.

     Nhìn chung, (kẻ sĩ hay hèn sĩ) khoảng cách chỉ là giao thoa mỏng manh của lý trí trước biến thiên phức tạp bí ẩn của thời cuộc cũng như thực dụng và lý tưởng. Biết vậy, nếu có tâm lòng ngay thẳng; có sự thông minh nhạy bén thì có thể đi đúng hướng, để lại công trạng. Thời buổi khoa học hiện nay hèn với không hèn cũng chẳng qua chỉ còn là một khái niệm mơ hồ khó định hình trừ phi có ai đó tự nói ra.

Thi sĩ Nguyễn Du cũng đã từng báo trước:
     “Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong.”.

     Dù gì, thì kẻ sĩ (hiện nay) vẫn là kẻ sĩ; kẻ sĩ vẫn có ích cho đời. Các chế độ độc tài, độc đảng mới e sợ kẻ sĩ có nhân cách, có đạo đức, có thực tài - những kẻ sĩ đó rất khó thuyết phục và khuất phục.

Trang Y Hạ
(Trần Phước Hân).



Quán Ven Đường Ngày Xưa!


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét