CHỮ MÌNH & CHỮ
TÔI.
“Mình
ơi tôi gọi là nhà,
Nhà
ơi tôi gọi mình là nhà tôi.”. (Bùi Giáng).
Một
nữ thi hào gởi cho tôi bài thơ và nói: “Mình mới làm
xong bài thơ, bạn mình đọc rồi cho mình biết ý kiến
nha!”. Tôi trả lời rằng: “Cô thi sĩ ơi! Tôi với cô
nào có phải là tình vợ chồng thắm thiết chi mô mà cô
xưng hô (mình) với tôi ngọt như mía lùi vậy hử…?”.
Trong
bài viết nầy tôi không cần phải giải thích, phân tích
gì thêm về “chữ mình” trong cách xưng hô như thế nào
nữa, bởi vì tự xưa nay ai cũng biết chữ mình - đại
từ xưng hô thân mật giữa hai người (nam,
nữ), mà phần nhiều là ở trong tình vợ chồng. Theo: Hán
Nôm: Chữ
“mình”
(𠵴,
𨉟)
là một cách xưng hô âu yếm,
tự thân nó đã nói lên sự yêu thương, sự chung tình
tuyệt đối gần như bất di bất dịch - ranh giới đó
không thể tan rã ra như sương buổi sáng. Và, cũng có thể
nói đó là sự khẳng định (luật
bất thành văn) không
một ai chen ngang qua lằn ranh đó. Chữ mình trong sâu thẳm
là một sự cô độc, cô độc giữa đằm thắm, diệu
vợi, hy vọng nhưng lại ẩn giấu tự trong bản thân. Từ
đó, một khi cất tiếng gọi “mình ơi” là màn sương
cô đơn biến mất, một hơi nắng ấm tràn về từ cái
nhìn, từ tay trong tay, từ cái nghiêng đầu dựa vào vai
nhau - giây phút nồng ấm là một sự hồi sinh, sự rung
động mãnh liệt của cả hai thực thể… - đó là hạnh
phúc; đó là che chở.
Tiếng
gọi Mình ơi không thảng thốt giục giã; không ồn ào
giống tiếng búa bổ đinh tai nhức óc mà tiếng của tâm
lòng; của tình thương yêu vô cùng dịu êm thánh thiện.
Tiếng gọi mình ơi kèm theo từng ánh mắt nặng trĩu ân
tình; từng cử chỉ trân trọng, bày tỏ…, không gian lúc
bấy giờ chỉ còn là nhịp đập của hai trái tim.
Theo:
Hán Nôm, nếu như viết chữ "một" (沒)
kèm theo thì sẽ
thành ra chỉ có “một mình”, có nghĩa là “chìm mất,
lặn mất (mặt
trời).”. “Từ
khước thiên biên nguyệt, một nhân tri”. (Ngoại
trừ bóng trăng trên trời, không ai biết) -
lúc đã một mình thì sự cam chịu ẩn kín trong lòng nỗi
cô đơn, nỗi cô độc - đó chính là dịu dàng là tha
nhân, tất cả biến thành im lặng - chẳng có một ai để
đối thoại với người nơi xa xôi, với người ở phía
“hằng hữu”. Lúc nầy chỉ có (cảm)
chứ không thể (nhận),
- không nhận không có nghĩa vô tình, mà “tình trong như
đã…”. Tuy vậy, “một mình” tự vấn nghe ra có vẻ
đơn độc, song le nếu hiểu thấu ra không phải là không
có ai bên cạnh - mà “đã có” một ai đang chờ, họ có
đầy đủ, hoàn hảo, kiên nhẫn chờ…! Thăm thẳm sâu
trong “một mình” sẽ “liễu
nhiên ư tâm”. (sáng
tỏ trong lòng) những
điều kỳ vĩ từ vũ trụ bao la không có nghĩa là sẽ
không gặp lại – một chu trình khép kín sẽ từ từ mở
ra.
Chữ
“mình” thiêng liêng, trìu mến, hạnh phúc đã đi vào
ca dao chứa đầy sự tha thứ, sự bao dung đùm bọc lẫn
nhau bằng một tình yêu sâu đậm vô điều kiện, chứ
không phải lòng trắc ẩn thương hại.
“Mình
nói với ta mình hãy còn son,
Ta
đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con
mình những trấu cùng tro,
Ta
đi xách nước rửa cho con mình.”. (Ca Dao).
Hoặc lo lắng, hụt hẫng chẳng biết nhớ cái gì cho phải, lúc bịn rịn ra về mà đành hỏi bâng quơ, hỏi cho có hỏi:
“Mình
về có nhớ ta chăng,
Ta
về ta nhớ hàm răng mình cười.”.
Không
nhớ cái gì cho (đáng nhớ), lại đi nhớ hàm răng làm
chi không biết nữa...!?
Hoặc
Thúy Kiều khóc trước mả Đạm Tiên – khóc cho một
người con gái đã chết từ xa xôi diệu vợi chưa hề
một lần diện kiến.
“Khóc
than khôn xiết sự tình,
Khéo
vô duyên bấy là mình với ta!”
(Kiều)
Định mệnh hay số
phận tự xưa cho tới hôm nay không bao giờ chịu đứng
yên một chỗ. Duy chỉ có tình vợ chồng là sắt cầm
hòa minh được nâng lên “Đạo Vợ Chồng”, giữ được
trọn đạo vợ chồng là coi như hoàn thiện một kiếp
nhân sinh phù hợp với trời đất. Và, một khi đã thấy
được số mệnh thì đừng có bận tâm cho đường về.
Tuy vậy, hiện nay nhiều
người hiểu sai ý nghĩa chữ “mình” và viết sai chữ
mình trong thơ văn cũng như khi đối thoại... Tôi đọc
nhiều bài thơ, bài văn thấy các tác giả lấy chữ
“mình” để diễn tả nội tâm, trò chuyện thân mật
nơi chốn đông người, nơi diễn đàn văn thơ rất bình
thường như chồng vợ yêu thương thỏ thẻ với nhau. Ví
dụ, những câu thường thấy trong văn chương, như: “Hôm
nay mình đi dự hội nghị…”; “Ngày mai mình có hẹn…”;
“Mình sẽ đi du lịch”; “Mình đang viết hồi ký.”…
Biết
rằng, chữ “mình” nếu là “Danh Từ” thì: Mình là
bộ phận cơ thể của người, của động vật (không
kể đầu chân tay.). “Để mình trần.”, “Đau mình
nhức mẩy.”, “Gieo mình xuống sông.”. Cá nhân, thì:
“Sống cho hết mình.”, “Một thân một mình.”. Bộ
phận tạo ra hình dạng: “Con thuyền đắm mình trong mưa
to gió lớn.”, “Con cá dày mình.”. Còn “Đại Từ:
(khẩu ngữ) gọi chung lại một cách thân thiết: “Bạn
đi với mình.” “Bọn mình học chung trường.”. “Mình
ba đứa hôm nay gặp nhau nâng ly cà phê
ngát mùi hương ngọt ngào. Chiều thu về gió lạnh đìu
hiu thấy tâm tư dạt dào thấy buồn buồn làm sao…”.
Nhạc phẩm (Ly
Cà Phê Cuối Cùng). Dùng
để chỉ cho bản thân, thì: “Lúc nào cũng nghĩ cho riêng
mình.”, “Mình làm mình chịu còn trách cho ai.”.
Tại
Sao Ngày Nay Bỏ Hẳn Chữ “TÔI”...?!
“ Tôi
đứng bên này bờ dĩ vãng
Thương về con nước
ngại ngùng xuôi
Những người em nhỏ bên kia
ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi.”.
Trích thơ: (Hoàng Trúc Ly).
Hoặc:
“Tôi
trở lại căn nhà xưa đổ nát
Tìm
mồ chôn tình sa-mạc hoang-vu
Kỷ-niệm
nào tan theo vùng ảo-giác
Tôi
đứng bâng-khuâng vuốt mắt sương mù.”.
Trích
thơ: (Trang Y Hạ.).
Ngày nay chữ “TÔI”
biến mất trong văn chương, trong giao tiếp hằng ngày kể
cả trong hành chánh, công sở… Tất cả đều xưng “Anh,
Em” mỗi khi gặp cấp trên với vẻ khúm núm... Đáng lo
ngại hơn là xử dụng chữ mình một cách thiếu giáo
dục, thậm chí có thể nói là “mất dạy”. Mỗi khi
tới nhà người khác thì nói trống không, nói không chủ
ngữ, như: “Chào cả nhà.”, “Chào mọi người.”,
“Mời mọi người.”, “Mời cả nhà.”, “Mình chào
mọi người.”; “Mình chào cả nhà.”. Hoặc “Mọi
người có đọc thơ, văn của mình viết không?” Chào
hỏi, chào mời nói năng kiểu cá mè một lứa không cần
biết rằng ở trong nhà còn có: - người già, người trẻ,
người lớn, người trí thức, người công chức, người
tu hành... Tất cả những câu chào giao tiếp đó đều là
vô phép tắc, thiếu sự giáo dục căn bản.
Những người kém học
thức, mất nhân cách, thiếu tự trọng thì có thể bỏ
qua, nhưng người trí thức; người có bằng cấp và các
vị: Thi sĩ, Văn sĩ, Ký giả…, viết trong “văn chương,
thi phú, báo chí” - thì những chữ “kém văn hóa” đó
- thiết nghĩ là không thể chấp nhận được. Thậm chí
là làm hư hỏng tiếng Việt.
Ngày xưa, dưới mái
trường miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), học sinh được
dạy “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” – qua môn “Công
Dân Giáo Dục & Môn Đạo Đức”. Ví dụ: Đi ra đường
gặp người lớn phải cúi đầu chào, gặp đám tang đi
qua phải đứng lại dở nón cúi đầu… Đi thưa, về dạ
- xưng hô lễ phép, ví dụ: Kính thưa quí vị..., Kính
chào quí vị..., Kính chào quí ông bà anh chị em... Kính
mời quí vị... Kính mời bà ông bà bác chú cô dì dượng
cùng anh chị em… Thân mến chào bạn hữu xa gần…!
Chữ “TÔI” (Hán
Nôm) là đại danh xưng ngôi thứ nhất khẳng định ví
trí vững vàng tự tin trước người đối diện dù người
đối diện có cấp bậc chức vụ lớn trong xã hội cũng
mặc kệ. Xưng tôi là tự xác nhận Bản Lĩnh trước sự
sợ hãi cũng như nể nang... Và, nếu có bắt tay thì phải
bắt một tay, mắt nhìn mắt người đối diện, đứng
thẳng người - tuyệt đối không cúi gập lưng khúm núm
sợ sệt. Chữ tôi khi xưng hô trước công chúng - nghĩa
là xác định: - Nhân Cách, Tư Cách, lòng Tự Trọng của
chính bản thân và Tự Hào, Hãnh Diện trước cộng đồng
xã hội kể cả kẻ có quyền lực. Còn ở một nơi riêng
tư chỉ có [hai người] hay ở trong gia đình thì muốn
xưng hô cách nào thì tùy nghi...
Chữ “MÌNH”, nghĩ
theo cách nào, viết theo cách nào thì cũng chỉ quanh quẩn
trong cái khung tình cảm nồng ấm rất tế nhị mà nhiều
nhất là ở trong tình nghĩa vợ chồng. Còn chữ “TÔI”
chữ đó mới là cái chữ hun đúc ý chí trung trực, danh
dự trách nhiệm cho bản thân, cho xã hội và văn chương
thi phú... Chữ tôi đem lại cho con người niềm tự hào,
tự tại, khảng khái, hào sảng ngẩng cao đầu với nhân
gian với trời đất. Tôi mượn mấy câu thơ trong bài
“Hai sắc Hoa Ti Gôn”, để tạm dừng bài văn tại đây.
“Tôi
nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước
rất xa xôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi.”. (TTKH).
LỜI
GIÓ MƯA:
“Đừng
bao giờ khuyên răn người khác hãy quên đi quá khứ để
“hòa giải, hòa hợp” hướng tới tương lai, bởi chính
kinh nghiệm đau thương từ quá khứ sẽ định hình cho
tương lai.”.
“Đừng
để bản thân cho người khác dẫn đi theo luồng dư luận
mà phải dùng cái đầu suy nghĩ đặt vấn đề hầu tìm
ra một phương hướng, bởi cái đúng trước mặt (có
thể) là cái sai ở phía sau.”. (Trần Phước Hân).
Cảm ơn Bác sĩ văn sĩ Đào Duy An, đã cho in bài thơ trong tác phẩm của anh.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét