Thư viện

7/8/26

GIÁO DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG.

 


GIÁO DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG.

Tác giả: Trang Y Hạ.
(Trần Phước Hân).

           “Thiện căng ở tại lòng ta,
                Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Kiều (Nguyễn Du).

     “Mục đích của văn hóa là phát triển và nâng cao con người.”. (Tổng thống Ngô Đình Diệm). Chữ Việt từ nay về sau chỉ còn là Mẫu Tự, - còn nội dung văn chương hàn lâm thi phú thì đã đảo lộn theo một hướng khác. Nói cụ thể hơn là “lạc đường”.

     Nguồn gốc Chữ Việt hình thành bởi các Linh Mục thừa sai đi “Rao Giảng Tin Mừng”, các vị đã dùng mẫu tự La Tinh để phiên âm ra chữ Việt. Linh mục Francisco de Pina (1585 – 1625). Người Bồ Đào Nha đã đặt nền móng cho chữ quốc ngữ. Linh mục Alenxander Rhodius (Tiếng La Tinh), chuyển qua tiếng Pháp, là Alexandre de Rhodes. Ông tiếp tục biên soạn để hoàn thành bộ Tự-Điển "Việt-Bồ-La" - Trong tư cách là một công dân của một "Quốc Gia Giáo Tông", (Papal State), thời gian nầy chưa thuộc về nước Pháp”. Hiện nay kẻ bài xích vu khống một cách hàm hồ là thuộc lãnh thổ của nước Pháp (thời đó) nhằm phủ nhận công lao, xóa bỏ tiếng Việt.

     Âm Nhạc mà cả thế giới xài lâu nay cũng xuất xứ từ Thánh Ca Nhà Thờ. “Khoảng năm 1025, một tu sĩ dòng Biển Đức người Ý tên Guido d'Arezzo trăn trở việc học nhạc quá khó. Thời đó, âm nhạc chủ yếu truyền miệng, chứ chưa biết gọi tên các nốt nhạc. Một bữa nọ, ông chú ý đến bài thánh ca "Ut Queant Laxis", hát để kính Thánh Gioan Tẩy Giả. Từ trong mỗi câu của bài hát đều có nhịp trầm bổng du dương. Guido nảy ra một ý tưởng tạo ra âm tiết: Ông lấy âm tiết đầu của mỗi câu để đặt tên cho các nốt. Vậy là sáu nốt đầu tiên ra đời: (Ut – Re – Mi – Fa – Sol – La.). Vài thế kỷ sau, người ta bổ sung thêm nốt thứ bảy [7] bằng cách lấy hai chữ cái đầu của: Sancte Iohannes (Lạy Thánh Gioan) = Si. Đến thế kỷ XVII, vì "Ut" hơi khó hát, nên đổi thành "Do", từ đó chúng ta mới có: (Do – Re – Mi – Fa – Sol – La – Si.)”.

     Đạo Thiên Chúa (Công Giáo) rõ ràng đã đem lại nền văn minh cho nhân loại cả tinh thần và vật chất. Vậy cớ chi lại lên án bài xích? Và, tôi cũng không hiểu tại vì lý do gì những vị nhờ học chữ Quốc Ngữ Việt Nam, được đi thi rồi đậu bằng cấp: bác sĩ, kỹ sư, văn sĩ, thi sĩ, cử nhơn, tiến sĩ… lại quay ra bài xích, lăng mạ chữ Việt không tiếc lời. Người xưa nói (Uống nước nhớ nguồn..). “Ẩm thủy tư nguyên.”. Chẳng lẽ các vị chưa hiểu cái đạo lý đó sao?
   
     Để hoàn thiện Tiếng Việt, phải trải qua nhiều thời gian và những người Việt góp công lớn lao, gồm các ông: (Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Tịnh Của) tiếp tục truyền bá chữ quốc ngữ ra cả nước. Trong thời Pháp thuộc vẫn có tự do báo chí. Điển hình như các báo đã phát hành, gồm có:

     Các báo Quốc Ngữ Tiếng Việt (Latinh) phát hành đầu tiên là Gia Định Báo “嘉定報)”. Báo do ông Trương Vĩnh Ký làm Chánh Tổng Tài “Redacteur en chef” và ông Huỳnh Tịnh Của làm Chủ Bút. Báo phát hành từ ngày 1.4.1865 và chấm dứt ngày 31.12. 1909. Sau Gia Định bào còn có các báo: Phan Yên Báo (1868); Nông Cổ Mín Đàm (1900); Lục Tỉnh Tân Văn (1910); Công Luận Báo (1916); Đông Dương Tạp Chí (1913 – 1919); Nam Phong Tạp Chí (1917 – 1934); Đông Pháp Thời Báo (1923); Phụ Nữ Tân Văn (1929 – 1935). Đặc biệt có tờ báo Công giáo Nam Kỳ Địa Phận (1908 – 1945).

     Thời thuộc địa Pháp đã có được tự do báo chí. Chẳng lẽ vì lý do “Tự Do Báo Chí” mà người Cộng sản cho rằng chữ Việt là do các Cố đạo Thiên Chúa tạo ra nhằm xâm lăng Việt Nam chứ chẳng đem lại ích lợi gì? Chủ nghĩa Cộng sản hình thành từ cuộc cách mạng tháng mười, năm 1917 ở Nga. Nghĩa là thuộc lớp sinh sau đẻ muộn. Vậy cớ chi lại lấy cái mộc thời gian ngắn ngủi đó để “qui tội” cho các sự kiện lịch sử, văn học đã có từ trước?

     Ngày nay họ cho rằng: - “Thay đổi chữ viết (chữ Việt) là thay đổi ngôn ngữ”. Xin thưa: Ngôn ngữ là lời nói, tiếng nói giao tiếp của một dân tộc làm sao mà thay đổi được? Quan niệm chữ viết là “Ngôn Ngữ” đó là một tai họa diệt vong đất nước. Phải biết và phải nhớ - Chữ viết không phải là “Ngôn Ngữ”, chữ viết chỉ là một phương tiện để diễn đạt ngôn ngữ; để lưu lại ngôn ngữ, - Đó là “Văn, Thơ, Lịch sử, Nhạc, Họa”. Nếu nói thay đổi chữ viết từ (chữ Hán, chữ Nho, chữ Nôm qua chữ Việt) sẽ làm giảm và làm mất đi “trí nhớ” thì rõ là nói quá hàm hồ. Thành thật mà nói, - nếu có mất là mất ở một số người đã từng học chữ Hán, chữ Nôm mà thôi. Vậy, chữ Việt chỉ ghi lại ngôn ngữ Việt. Chữ Hán thì ghi lại ngôn ngữ Hán. Đôi bên hoàn toàn khác nhau.

     “Văn chương thiên cổ sự , Đắc thất thốn tâm tri”. (Đỗ Phủ). Tạm dịch:
     (Văn chương vốn chuyện ngàn đời. Được mất tất lòng mới hay.)

     Tiếng Việt là tiếng độc âm. Tiếp đầu ngữ (prefix), Tiếp vĩ ngữ (suffix) cũng độc âm. Tất cả ngôn ngữ đều có vay mượn ngôn ngữ của nước khác. Hoa Kỳ là một nước vay mượn từ ngữ nước ngoài nhiều nhất. Những chữ, như: “bungalow, amigo, adios, coup d’etat, kindergarten, Salem, ahimsa…” - vay mượn từ tiếng Bengali, Pháp, Đức, Do Thái, Ấn Độ. Tây Ban Nha, Ý…

     Chữ Việt từ lâu đã được quốc tế xếp vào nhóm “Ngôn Ngữ Văn Minh” [Langues de Civilisation] và “Ngôn Ngữ Văn Hóa” [Langues Cultureles] nằm trong khoảng ba ngàn ngôn ngữ nhân loại.
- Ông Dương Quảng Hàm, nói: “Ở trên hoàn cầu không có thứ chữ viết nào tiện lợi và dễ học dễ biết bằng thứ chữ ấy.” (Dương Quảng Hàm), Việt Nam Văn Học Sử Yếu, 1944, trang.177)".
- Ông Nguyễn Văn Vĩnh, nói: "Nước Nam ta mai sau nầy hay dở cũng ở chữ Quốc Ngữ”. Ông Phạm Quỳnh nói: "Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn"
- Ông Phan Chu Trinh nói: "Không Bỏ Chữ Hán Thì Không Cứu Được Nước Nam.".

     Tiếng Việt gốm có: - Hai mươi chín [29] chữ CÁI [29], được xếp theo thứ tự như sau: (A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G,H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.). Cùng theo với 29 mẫu tự là 5 dấu, gồm: {Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng.]. Tất cả tạọ ra một dàn sáu [6] âm giọng Việt Ngữ, nên mỗi khi người ngoại quốc khi nghe người Việt đối thoại gỡ như đang là ca hát líu lo. Còn ráp vần, thì chưa có chữ của quốc gia nào ráp vần dễ dàng, hợp lý như Việt Ngữ. Nhờ đó mà người Việt Nam học chữ Việt chừng ba bốn tháng là biết tường tận mặt chữ và đọc được báo chí cũng như viết thơ.

     Chữ Việt gồm có: (Ba mươi sáu Âm Vị [36]. Mười bốn Nguyên Âm [14]. Hai mươi hai Phụ Âm [22]). Trong lãnh vực thi ca, dùng danh xưng riêng: Dấu Tên các thanh: - Huyền ( ` ) Trầm bình thanh. - Sắc ( ´ ) Phù khứ thanh. - Nặng ( . ) Trầm khứ hay Trầm nhập thanh. - Hỏi ( ̉? ) Trầm thượng thanh. Ngã ( ~ ) Phù thượng thanh. Chữ Việt là một ngôn ngữ rất dễ học, dễ nhớ…! Đặc biệt là nói lái ngược xuôi, tùy ý. Thí dụ: “Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi.” hay “Con cá đối nằm trên cối đá.”. Muốn biết viết lái theo thơ thì tìm đọc thi phẩm của nữ sĩ (Hồ Xuân Hương).

     Chữ Việt luôn luôn gắn liền với vận mệnh dân tộc, đất nước, - rõ ràng là qua “Truyện Kiều”, - một tác phẩm lừng danh chẳng những ở trong nước Việt Nam mà còn lan truyền ra thế giới. Ngoài ra, còn có những tác phẩm văn thơ của nhóm “Tự Lực Văn Đoàn”... Và tiếp theo với hơn hai mươi năm dưới Chính Quyền Quốc Gia Miền Nam đã khai triển một nền giáo dục: - Dân tộc “Nationalistis”. Dân tộc là Yêu tổ quốc, bảo vệ Danh Dự Tổ Quốc và truyền thống xã hội, gia đình, nghề nghiệp… - Nhân bản “Humanistic”. Nhân bản là Tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người. Lấy con người làm cứu cánh để phát triển và phải có trách nhiệm. - Khai phóng “Liberlis”. Khai phóng là Khai triển giá trị khoa học, phát huy tinh thần dân chủ xã hội. Tiếp thu tinh hoa văn hóa, kỹ nghệ thế giới...

     Đó là Triết Lý Giáo Dục của Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa). Từ đó, đã để lại hàng chục ngàn tác phẩm giá trị, từ: - “Văn chương, Thơ, Phú, Âm nhạc, Điện ảnh, Họa, Điêu khắc, Kịch nghệ, Cải lương…”. Miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) chỉ có: Chín trăm bốn mươi mốt giáo sư (941), họ được đào tạo từ các quốc gia: (Anh, Pháp, Đức, Ý, Hoa Kỳ…). Dù số “lượng” có ít nhưng “phẩm chất” giáo dục căn bản, đã hình thành một nền giáo dục căn bản tuyệt vời.

     Xuyên qua bao thăng trầm - bởi chiến tranh - bởi xung khắc chủ thuyết vô thần mà phần nhiều người Việt yêu tự do đã bỏ quê hương ra đi định cư ở các quốc gia khác... Tiếc thay, có một ít cá nhân, phe nhóm, đã tự cho mình được cái quyền chỉnh sửa văn phạm Tiếng Việt theo ý riêng, ghép chữ “Hán Việt, Hán Nôm” sai nghĩa, tối nghĩa, tùy ý chỉnh sửa: Văn, Thơ Việt Cổ, truyện Kiều kể cả lịch sử.

Đáng trách hơn lại cho rằng:
    - "Chữ Quốc Ngữ là do các Cố Đạo Thiên Chúa và thực dân Pháp dùng như một công cụ để xâm lược Việt Nam chứ không phục vụ dân tộc cần phải loại bỏ". Nhà nghiên cứu (Nguyễn Đắc Xuân).

     Từ nguyên do chính trị mà Việt Nam hiện hành không công nhận chữ Việt là “QUỐC NGỮ” . Tiếng Việt hiện nay viết, nói sai mạo từ, đảo câu, đảo chữ, pha tiếng lóng, chêm ngoại ngữ, thiếu chủ ngữ "Subject", thiếu Vị Ngữ “Predicate”, sai Từ Vựng "Vocabulary"; sai Văn phạm "Grammar", hoặc nói viết theo cách “cào bằng” xa cạ lẫn nhau, hoặc nói viết không hết ý, không trọn câu văn và hơn nữa là không thể phân biệt đâu là: Danh từ ngoại giao, Danh từ quân sự, Danh từ kinh tế, Chính trị, Khoa học, Tôn giáo… Tuy rằng, chữ Việt chưa có “Hàn Lâm Viện”, nhưng không lẽ vì vậy mà nói viết tùy tiện bằng thứ ngôn ngữ lai căng, quái đản, dị hơm, loạn xạ... Quả thật là rất khó khăn cho việc trau dồi và truyền bá chữ Quốc Ngữ, nhất là dịch thuật...!

     Một vài thí dụ, như: Hiện nay hầu hết không xài chữ RẤT mà xài chữ “Siêu”, chữ "Đỉnh”. Không xài chữ CÓ, chữ RIÊNG TƯ mà hầu hết mọi vấn đề, mọi chuyện đều xài chữ “Sở hữu”. Không xài hai chữ GIẢI QUYẾT mà xài "Xử lý". Không xài chữ CÓ THỂ mà xài "Khả năng", Không xài chữ HAY mà xài chữ "Cực kỳ". Không xài NGẠC NHIÊN, BẤT NGỜ mà xài chữ "Sốc" (Shock).

     Có điều kỳ lạ là ngày nay từ văn chương cho tới đối thoại (trong nhà, ngoài ngõ) đều xưng “MÌNH” xa cạ bất kể người lớn, kẻ nhỏ... Cả xã hội hầu như quên bẵng chữ “TÔI”. Chữ Tôi là chữ định hình nhân cách, lòng tự trọng và ngay thẳng, không khúm núm cúi đầu trước cường quyền áp bức... Chữ Mình phần nhiều là để bày tỏ tình cảm vợ chồng, bạn hữu chí thân. “Mình ơi tôi gọi là nhà, Nhà ơi tôi gọi mình là nhà tôi.”. Bùi Giáng. Hoặc: “Mình ơi tôi vẫn nhớ mình, Mình ơi tôi vẩn chờ mình đợi tôi.”. Trang Y Hạ. Mời vô google, Facebook tìm đọc bài: “Chữ Mình và Chữ Tôi.” của tác giả Trang Y Hạ.

     Hiện nay, người ta cố ý nói viết đảo lộn Mạo Từ. Tiếng Việt có Mạo Từ rõ ràng, như: “Cái – Con – Những – Các”. Ngày nay (Văn nói, Văn viết) đều xài lộn xộn Mạo Từ. Cái sang con & Con sang cái. Ví dụ: "Con chữ, (có con chữ thì ắt có: Cha chữ, Mẹ chữ?). Từ bàn tay tiên nắn nót từng nét gửi cho anh. Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay. (Lời Nhạc). Con Facebook, Con tuổi, Con học sinh, Con nhà, Con iphone. Con sân khấu, Con xe, Con hàng, Con đặc sản…"! Cái trâu, Cái gấu, Cái gà, Cái bánh mì, Chiếc đám cưới. Thú vật thì kêu: “Chiếc mèo, Chiếc trâu... Đảo Ngữ: "Giản đơn, Vẹn nguyên, Mỏi mong, Muội mê, Mỏi mong, Láng lai, Ngác ngơ...". Hai người thì nói “Cặp đôi”, “Bộ đôi”. Qua lại hỏi thăm, thì nói “Tương tác”. Chào hỏi thì gom chung: “Chào mọi người. Chào cả nhà…”. Xưng hô tùy tiện một cách vô giáo dục. Thay vì xưng hô có thứ bậc và lễ phép, cung kính, như: “Kính chào quí vị. Kính thưa quí vị. Kính chào quí ông bà cô bác anh chị em. Kính chào quí vị khán thính giả. Thân chào các bạn hữu. Kính mời bà con cô bác cầm đũa ăn lấy thảo.”.

     Mạo từ: “Cái - Con, Các – Những” – Một: Theo quyển “Việt Nam Văn Phạm” của Trần Trọng Kim: “Mạo từ “Các” dùng để chỉ số nhiều như mạo từ “Những”. Mạo từ “Các” thường đứng trước danh từ để chỉ người hay chỉ vật mà người ta đã biết trước, thấy trước. Hiểu rõ hơn: “Các” là mạo từ xác định. Còn “Những” là mạo từ không xác định. Hoặc “Các” chỉ toàn thể, còn “Những” chỉ bộ phận.

     Phải nói rằng chữ nghĩa ngày nay “lộn tùng phèo” như vậy thì sẽ bao giờ mới viết ra được các tác phẩm có giá trị văn chương, văn học…? Dần dà tiếng Việt chỉ còn mớ hỗn tạp lai căng, mất gốc. Cái Chết Của Ngôn Ngữ Là Cái Chết Của Một Quốc Gia và Cái Chết Của Một Ngôn Ngữ Là Cái Chết Của Nhiều Thế Hệ Sinh Sau.

     Ngày xưa, Quân Minh xâm chiếm Đại Việt, Minh Thành Tổ (Chu Nguyên Chương), ra lịnh tiêu hủy nền văn học và các văn kiện chính trị, xã hội, lịch sử lâu đời của Đại Việt. Chỉ trừ sách Phật, sách chữ Hán viết về Trung Hoa.

     Dân Đại Việt thừa hiểu rằng: - Không cần phải đợi tới khi quân Minh chiếm Đại Việt, Đại Việt mới bị đốt sách vở, văn tự… Trước thời nhà Minh, mỗi khi xâm chiếm Đại Việt các vua nhà Hán trước đó đều có chủ trương tận diệt văn hóa Đại Việt, như: Bắt hết nhân tài người Việt đem về Tàu, bắt người Việt học chữ Hán, bắt người Việt theo phong tục, tập quán của người Hán…

     Từ năm một chín bốn lăm [1945] khi “Cộng sản Việt Nam tiếp quản Miền Bắc” họ cũng ra lệnh đốt sách của “Bọn tư sản phản động”. Và sau năm một chín bảy lăm [1975], chiếm miền Nam gọi là “giải phóng” một lần nữa họ tiếp tục ra lệnh đốt sách của bọn “Ngụy phản động”. Họ ghép tội cho nền văn học miền Nam là “Văn Hóa Đồi Trụy” để rồi cho thiêu hủy tất cả - sách, báo, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, văn kiện và lịch sử miền Nam… Các tác giả miền Nam cũng bị họ ghép cho cái tội “Biệt Kích Văn Nghệ” để rồi cho đi tù đày nhiều năm, một số chết trong tù, một số vượt biên tỵ nan khắp nơi ở các quốc gia khác.
Người Việt với người Việt còn đối xử tệ bạc như vậy huống hồ là người Hán họ nô lệ nước Đại Việt cả hàng ngàn năm.

     Từ mấy chục năm qua, học sinh không được dạy Việt Văn, (Quốc văn), dạy Ngữ Pháp mà thay vào đó là dạy “Ngữ Văn”. Ngữ Văn là ghép hai chữ “Ngôn Ngữ – Văn Học”, nội dung sơ sài khô khan chỉ dạy một chiều, không cho tranh luận, thảo luận và đặt vấn đề tìm ra cái hay cái mới mà chỉ dạy một cách khái quát về Việt Văn, phần nhiều là nhồi nhét chính trị mà những bài văn đó đã được viết theo mẫu sẵn buộc giáo viên phải dạy; buộc học sinh phải học.

     Theo Đào Duy Anh. “Ngữ Học” là một môn học nghiên cứu – bản tính khởi nguyên, sự phát đạt, sự biến thiên của ngôn ngữ (Philologic)”. Vậy môn Ngữ Học là để nghiên cứu chứ không thể dạy cho các học sinh. Ngữ Văn cũng là nghiên cứu, chứ không thể dạy phổ thông.

     Không dạy Việt Văn là giết chết tâm hồn học sinh biến học sinh, sinh viên thành người máy. Học sinh chỉ biết nghe lời tuyệt đối không được phản kháng đặt vấn đề “đúng, sai”. Không dạy Việt Văn (Quốc Văn) là không thể có những Văn sĩ, Thi sĩ để cho ra các tác phẩm lừng danh có giá trị văn học. Và sẽ không bao giờ hy vọng nhận được một "Giải Nobel Văn Chương".

     Ngày xưa sách “Quốc Văn Giáo Khoa Thư", do các học giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận - Biên soạn năm 1926, là bộ sách giáo khoa Tiếng Việt đầu tiên dành cho cấp Tiểu Học. Gồm: ba [3] cuốn và mười [10] bộ sách khác. Sau gần 100 năm ra đời, cho đến nay, “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” vẫn còn giá trị bởi tính toàn diện về mặt kiến thức sư phạm và tính nhân bản của các bài tập đọc.

     Tiếng Việt, chữ nói về “Tương Lai” có năm chữ [5]. Chữ nói về “Hiện Tại” có bảy chữ [7]. Chữ nói về “Quá Khứ” có mười tám chữ [18]. Như vậy, quá khứ định hình cho tương lai. Chúng ta luôn nhìn về quá khứ để đi đúng hướng.
Ông Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, đã từng nói:
- “Để phá hủy bất kỳ quốc gia, không cần phải xử dụng đếm bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất & lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên.”. Lời nói của ông Tổng thống Nelson Mandela, đã được khắc ghi trước cổng trường Đại Học tại Nam Phi.
Tổng thống Đài Loan, Tưởng Giới Thạch, nói:
- "Đất nước bị diệt vong còn có thể phục hưng, văn hóa bị tiêu hủy thì tất cả sẽ bị tiêu diệt.".
-GIÁO DỤC LÀ CÁI ĐỀN THIÊNG” (Cố vấn Ngô Đình Nhu).
- “Không phải nền giáo dục của ta lạc hậu đâu, lạc hậu thì ráng đuổi theo may ra còn kịp, nó lạc hướng.”. (Giáo sư Hoàng Tụy).

     Người Việt, không giữ gìn, trau dồi tiếng Việt, tất nhiên nền giáo dục sẽ không bao giờ bắt kịp với nền văn minh nhân loại và nền kinh tế cũng bị lụn bại, lạc hậu... Giáo dục lạc hậu thì mất tất cả. Lớp hậu sinh sẽ đi làm thuê, làm mướn hoặc ở đợ cho thiên hạ. Tệ hơn nữa là giết chết tâm hồn tuổi thơ dẫn đường cho cái ác ngự trị.

     Không cần thiết phải soạn Tự Điển mới, Từ Điển mới mà soạn sai thì soạn ra để làm gì? Chỉ cần các cuốn cuốn Từ Điển đã có, như: “Từ Điển Hán Việt” của tác giả (Đào Duy Anh) và “Từ Điển Hán Việt” của tác giả (Thiều Chửu). “Tự Điển Tiếng Việt” của (Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ). “Tự Điển Tiếng Việt” (Thanh Nghị). “Tự Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt” của Bác sĩ (Nguyễn Hy Vọng). “Việt Nam Tự Điển” (Khai Trí) là đã hoàn thiện chữ Việt, là quá đủ để giữ tiếng Việt đi đúng hướng, không cần phải mất công để soạn lại Tự điển mới. (Tự Điển soạn sau năm 1975 đều sai tiếng "Hán Việt", sai văn phạm.). Đồng thời tiếp tục dạy cho học sinh, sinh viên các tác phẩm của nhóm “Tự Lực Văn Đoàn”; “Việt Nam Văn Học Sử Yếu”. Và, "Việt Nam Sử Lược" của Dương Quảng Hàm là hoàn hảo rồi. Bước tiếp theo: Thành lập “Viện Hàn Lâm Tiếng Việt”. Ngày trước ở Miền Nam, Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa đã có dự trù thành lập một “Hàn lâm Viện Tiếng Việt”. Nhưng tiếc thay lịch sử đã sang trang…!

     Trong đất trời vạn vật luôn thay đổi, chữ nghĩa theo trào lưu văn minh khoa học kỹ thuật cũng thay đổi theo... Tuy vậy, không có nghĩa là những chữ cũ đem đi bỏ hoặc xóa sổ vĩnh viễn. Các chữ không còn phù hợp đó được xếp vào chữ Việt Cổ ai muốn xài thì xài, - xài cho hợp lý, xài cho hợp tình thì vẫn còn có giá trị. Thí dụ một số chữ cũ như: (Ắt, Đặng, Ngươi, Các ngươi, Bậu, Trẫm, Qua, Bẩm, Tấu, Chàng, Nàng, Mần...). Ngay trong chữ Hán cũng có chữ “Hán Cổ”, nhưng họ không bao giờ xóa bỏ.

     Nhìn chung, ngày nay bất cứ ở lãnh vực nào Chữ Việt cũng sai:
    - “Nhà văn sai, nhà thơ lại càng sai, nhà giáo sai, nhà báo sai, nhà khoa học sai; cử nhân thạc sĩ sai, tiến sĩ giáo sư sai; sách vở giáo trình sai, đề thi đáp án sai, luận văn luận án sai, từ điển sai, âm nhạc sai, văn chương sai, báo chí sai, công văn sai… Tất tần tật đều có sai. Đặc biệt, các nhà báo, nhà ngôn ngữ, giáo viên, giảng viên dạy tiếng Việt và Văn học cũng sai”. Trích từ cô Tiến sĩ Nguyễn Thị Tịnh Thy (Giảng Viên Chương Trình Giáo Dục Khai Phóng.).

     Văn sĩ Sơn Nam, nói: - “Văn chương Việt Nam sau giải phóng như nước lọt xuống rá.”.

     Viết sai nhiều hiện nay là: Thi sĩ, Văn sĩ, Ký giả. Họ phịa các câu văn, câu thơ rất tối nghĩa, vô nghĩa. Đụng tới họ là họ phản ứng kịch liệt rằng đó là ngôn ngữ thơ văn là nhân cách hóa, thi vị hóa… Hơn nữa là hiện nay xài hệ thống AI, Artificial Intelligence.” (Trí tuệ nhân tạo.) để làm thơ, viết văn, dịch thuật, tạo hình ảnh... “AI” vẫn có hay, cái tốt của “AI”. Tôi không “tẩy chay AI”, nhưng cũng đừng lạm dụng AI để làm bậc thang thăng tiến.

     Tôi còn nhớ rất rõ là ông thầy dạy văn đã dạy như sau: “Các trò một khi xài câu văn của người khác khoảng bốn [4] chữ bắt buộc phải bỏ vô dấu ngoặc kép [“], còn nếu biết tên tác giả thì ghi tên của họ, bằng không sẽ bị kiện là đạo văn.”. Lý do ông thầy dạy là bởi: - bốn chữ đã hình thành một câu thành ngữ. Ví dụ: “Ăn chắc mặc bền”; “Gần mũi xa mồm”. Và, thầy còn nói “Muốn luyện văn giỏi thì mua nhật trình mà đọc.”.

     Phải hiểu cho rằng: (văn nói và văn chương) khác nhau nhiều lắm; khác nhau xa lắm. Văn nói là nói cách nào miễn người đối diện nghe hiểu là được, không cần văn vẻ, trau chuốc hoặc đúng văn phạm, câu cú... Còn “văn viết” hay còn gọi là “Văn Chương Hàn Lâm thì lại khác. Theo (Hán Tự), chữ “Chương” có nghĩa là “Rực Rỡ, Trong Sáng”. Do đó, văn chương là phải viết đầy đủ: “Chủ ngữ, vị ngữ, văn phạm, chánh tả”. Và phải viết tròn câu, đủ ý, cũng như: “Trau chuốc câu văn kỹ lưỡng”. Hán Tự gọi là “tu từ”, chứ không thể viết kiểu lấp lửng, lơ lửng ai hiểu sao cũng được.

     Thiết nghĩ, Tiếng và chữ Việt vẫn còn, còn theo cách nào thì trách nhiệm đó không hẳn là trách nhiệm của các nhà giáo, nhà ngôn ngữ, mà là của mọi người.

Trang Y Hạ 
(Trần Phước Hân) San Francisco.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét