Thư viện

13/5/17

Một Chuyến Đi Dài


MỘT CHUYẾN ĐI DÀI
 
Tác giả: Trang Y Hạ
 
     Thôi em trở lại anh đi
     hai mươi bữa - có sá gì mà lâu
     giang san thay đổi nhịp cầu
     thân trai trót đã nhuốm màu phong sương. (Trang Y Hạ)
      
Nhà không còn tiền. Mẹ tôi đem chiếc xe đạp “mini” bán cho người hàng xóm được hai mươi nghìn đồng! Số tiền nầy, mẹ giữ lại chút ít… số còn lại tôi đem theo để đóng tiền ăn cho hai mươi ngày đi “Học Tập Cải Tạo”! Theo như thông báo của “Ủy ban cách mạng”.
     
Buổi chiều, trước ngày 25 tháng 6 năm 1975. Trời miền Đông mưa tầm tã, nước chảy hai bên đường đỏ ngầu như màu máu.. Căn nhà tranh vách lá của mẹ tôi rung lên bần bật tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi trước những cơn gío giật… Nhìn năm đứa em gái và một thằng em trai út mới tám tuổi đầu ngồi co ro… mà trong lòng tôi vô cùng xót xa…! Cha tôi mất từ lâu… Một mình mẹ tần tảo nuôi nấng đàn con. Tôi là con trai đầu nhưng rày đây mai đó trên chiến trường… Tiền lính, tính liền!... Không phụ giúp được gì cho gia đình ngoài một vài món qùa vào những dịp lễ tết!
      
Ngày “giải phóng”! Tôi về quê không còn một thứ gì trên người ngoài bộ quần áo dân sự!

– “Hòa bình rồi con còn sống về nhà là mẹ mừng lắm! Về đây làm phụ với mẹ lo cho các em của con và rồi lập gia đình . Xin cảm ơn Chúa!” .

 
Mẹ tôi nói như vậy. Nhưng niềm vui chưa được bao lâu thì chính quyền ra lệnh:
 
“Những người Ngụy quân- Ngụy quyền”. Trong khi chờ đợi gọi đi “học tập cải tạo”, hằng ngày tập trung về trụ sở ấp để đi – gỡ mìn chung quanh công sự, đồn bót”!  Nghe tin…, mọi người sững sốt – tưởng như sét đánh ngang tai!
      
Khoảng vài ba ngày, tin chỗ nầy có người chết, chỗ kia có người bị thương… Thật là thê thảm! Chỉ nghe có một tiếng nổ, là: Cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, bà con hoảng hốt chạy đi xem ai còn, ai chết…? Ai bị thương?... Để hỏi, có người thân của mình trong số đó hay không?!
 
Chung quanh đồn bót cỏ mọc um tùm…, biết chỗ nào có mìn mà gỡ…? Dù có biết chút ít cũng không ai dám gỡ, vì không phải ngành chuyên môn, và sơ đồ đã thất lạc… Bị thúc bách của chính quyền… Anh em chúng tôi dùng thân cây chuối chặt ra từng đoạn, chừng một thước đóng cọc tre hai đầu rồi cột dây dài ném vào đám cỏ tranh lẫn gai mắt cỡ… Sao đó, nằm xuống kéo từ từ, nếu vướng mìn thì sẽ nổ… Cứ như vậy, chúng tôi miệt mài làm với tâm trạng lo âu, sợ hãi…! Buổi sáng ra đi không biết buổi chiều có còn sống hay lại chết tan thây…! Bầu trời đầy tang thương bao trùm lên khắp xóm!
      
Ngày lên đường đi ”học tập”, trong lòng ai cũng mừng là vì không còn sợ bị chính quyền kêu đi gỡ mìn... Tất cả tập trung về Ủy ban nhân dân xã. Chúng tôi gồm có – ba mươi người, đủ các thành phần, được dồn hết lên chiếc xe đò. Cơn mưa chiều hôm trước nước hai bên đường vẫn còn chảy đục ngầu… Xe chạy đến cầu Suối Cát thì tài xế bị lạc tay lái đâm ra thành cầu, chỉ tích tắc là cả xe và người nhào xuống dòng sông đang mùa nước lớn và chảy xiết… Cũng còn may là thắng lại kịp.
 
GIAI ĐOẠN ỦY BAN QUÂN QUẢN: 1975 – 1976
     
… Nhưng một nỗi lo âu khác lại về xâm chiếm tâm hồn chúng tôi. Không biết “họ” sẽ đưa chúng tôi đi đâu…? Có bị thủ tiêu hay không…? Trên khuôn mặt mỗi người đầy vẻ đăm chiêu lo lắng…! Ba mươi người chúng tôi mỗi người một dòng suy nghĩ… Chiếc xe đò vẫn lặng lẽ chạy về hướng Long Khánh. Đến nơi, “họ” dồn chúng tôi vào trường tiểu học Bùi thị Xuân. Người bộ đội nói giọng miền Bắc dẫn chúng tôi đi nhận một chiếc chiếu nhỏ, rồi ra lệnh: “Các người tự tìm chỗ ngủ trong các phòng trống đấy!… Ngày mai làm thủ tục khai báo và nộp tiền ăn…”. (số tiền ăn phải đóng là 13, 600$). Tôi thấy số người đến trước khá đông từ các nơi: Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Sài Gòn, Lâm Đồng...
     
Trại “K4”. Trước kia nguyên là ty “CSQG của VNCH”, thuộc tỉnh Long Khánh, nằm trên quốc lộ 1, đối diện là khu vườn của Thống tướng Lê văn Tỵ , cách thị xã Xuân Lộc khoảng hơn hai cây số, hướng đi ra miền Trung. Bên hông ty CSQG cũ là khu Gia Binh và nhà thờ Tuyên úy Công Giáo. Phía sau là Ấp Đoàn Kết với rừng cao su bạt ngàn… Sau ngày “giải phóng”, bộ đội vào chiếm giữ… Từ trường Bùi thị Xuân, “họ” chở chúng tôi thẳng vào khu trại K.4… Đón chúng tôi là ông Bí thư của Trại, dáng người cao lớn, mặt bự, tóc hớt đầu đinh, mắt bị lé trông dữ dằn… Mở miệng ra là chửi phủ đầu:
 
- “Bọn ngụy các anh là những người bại trận! Đầu hàng vô điều kiện! Các anh đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác cho nhân dân đất nước, làm tay sai cho đế quốc Mỹ, cho bọn đế quốc thực dân mới… Đáng lý ra chúng tôi bắn bỏ cũng chưa hả giận, nhưng chính sách nhân đạo của đảng, của cách mạng, rộng lượng khoan hồng tha chết cho đi học tập cải tạo. Giấy thông báo đi học tập cải tạo là hai mươi ngày, nhưng hai mươi ngày mà các anh học tập cải tạo không tốt thì thời gian có thể kéo dài: Một năm, hai năm, ba năm, sáu năm, mười năm và lâu hơn nữa. Muốn được về sớm, phải khai báo thành thật không dấu diếm. Các anh nên nhớ rằng: Hồ sơ cá nhân của các anh cách mạng đang nắm giữ. Sau cùng là phải lao động tốt! – “Lao động là vinh quang”! Lao động là thước đo kết quả để trại xem xét… nếu có tiến bộ! Thì trại sẽ có “nghị quyết” cho viết thư về thăm gia đình!”.
 
Thời gian nầy bên ty “CSQG” cũ là khu A – Khu Gia Binh cũ là khu B. Sau khi hết thời gian quân quản, khu A trả lại cho công an huyện. “Cải tạo viên” dồn hết qua Khu Gia Binh, và nơi đây trở thành khu A. Trại trưng dụng hai mươi mẫu vườn của Thống tướng Lê văn Tỵ và sáu mươi mẫu của dân làm nông trang canh tác.
     
Chúng tôi lẳng lặng nhìn nhau ngầm hiểu rằng, “họ” đã nuốt lời! Hai mươi ngày chỉ là một lời hứa suông! Tương lai mù mịt, đành phó thác mạng sống… Từ nay, mỗi người hãy chuẩn bị tinh thần bước vào con đường tù khổ sai… – tù không có án thì làm sao biết được ngày trở về?!... Tôi lặng lẽ ôm túi xách theo chân người “khu phó” cũng là người cải tạo, đi tới dãy lô… Ông ta chỉ tôi vào căn thứ ba trong đó đã có khoảng -bảy, tám… người trải chiếu nằm ngồi la liệt dưới đất… Nhà không có cửa, trống huơ, trống hoác, không có lấy một tấm ván để nằm nghỉ, khu Gia Binh nầy hình như chưa xây dựng xong là đến ngày “giải phóng”... Suốt dãy chỉ có một bóng đèn tròn ngoài hành lang. Toàn trại chỉ có một vòi nước ở nhà bếp chỉ để nấu ăn, còn tắm giặt cũng như nước uống cho cá nhân đều dùng nước suối.
     
Bên kia đường đối diện với trại K.4 là nông trại của Thống tướng Lê văn Tỵ, nông trại rộng chừng hai chục mẫu đất. Trong khu vườn trồng nhiều loại cây: Cà phê, vú sữa, sapoche, mít, xoài, chuối, cốc, dừa… Ở giữa vườn có một ngôi nhà sàn lớn, bên trên để ở, bên dưới nhà và chung quanh nhà đều tráng ciment, có một cái sân cũng tráng ciment rất rộng để phơi cà phê… Chung quanh nhà cây trái sum suê, đặc biệt có hai cây hoa quỳnh to cao, bông rụng trắng sân. Trong vườn có một con suối lớn nước chảy thường xuyên, dọc theo hai bên suối trồng nhiều dừa, thân cây dừa cao vút nghiêng ra bờ ao. Trong vườn có nhiều ao dọc theo con suối, trong số đó có một cái ao dài được thiết kế theo mô hình chữ ” S ” . Giống y chang như bản đồ Việt Nam, chung quanh bờ ao xây kè bằng những viên đá ong… Ao cá mang hình chữ “S” cũng có dòng suối chảy ngang qua tượng trưng cho dòng sông “Bến Hải”! Một chiếc cầu bằng sắt rộng hai mét, dài khoảng mười mét, bắt ngang con suối, tượng trưng cho cây cầu “Hiền Lương”, nối đôi bờ hai miền Nam Bắc. Chạy suốt hai bên bờ suối mọc đầy loài rau riệu… Chính loài rau riệu nầy đã giúp cái bao tử đói chúng tôi trong những tháng ngày lao động khổ sai... Thời gian tắm, giặt chỉ được mười lăm phút…! Người nào tắm xong chạy lên bờ đứng xếp hàng theo tổ, dãy, ai chậm trễ sẽ bị la mắng…!
     
Sau ngày “giải phóng” khu đất vườn của Thống tướng Lê văn Tỵ, do “Ủy ban quân quản huyện Long Khánh trưng thu”, sau đó giao lại cho trại K.4 quản lý… Vợ chồng người quản gia trang trại của Thống tướng Lê văn Tỵ vẫn được tiếp tục ở lại chăm sóc… Khi anh chị em cải tạo ra làm vườn và thâu hoạch đều đến nghỉ trưa tại đây. Người quản gia, tôi không nhớ tên, nhưng vợ chồng họ rất tốt. Họ được quyền nói chuyện với chúng tôi, cũng như giúp chúng tôi những việc nho nhỏ… Sau nầy vợ chồng họ cũng bị bắt nhốt như chúng tôi vì không chịu ký vào biên bản bàn giao khu trang trại của Thống tướng Lê văn Tỵ cho trại K.4. Chúng tôi kính phục, vì người quản gia trung thành và làm việc cần mẫn… Chính trực, thà chịu tù đày còn hơn mang tiếng giao đất của chủ mình cho người khác.
      
Trong ba tháng đầu, trại bắt chúng tôi khai lý lịch cá nhân. Khai nháp trước- khai đi, khai lại rất nhiều lần, rồi mới viết vào tờ khai chính bằng mẫu in sẵn. Sau đó, chọn những người cải tạo viên viết chữ đẹp viết vào mẫu in chính, nếu các lần khai không khớp nhau thì phải khai lại, đôi khi cán bộ trại không tin lời khai thì phải khai lại từ đầu… Do đó, chúng tôi gần như thuộc lòng những lời khai của mình. Cải tạo sang năm thứ ba vẫn còn khai lý lịch. Vừa khai lý lịch vừa học tập chính trị, nội dung tài liệu quanh quẩn cũng là:
 
“Lên án đế quốc Mỹ đi cướp đất của Việt nam và các nước trên Thế giới, bóc lột tài nguyên các nước nghèo đem về nước làm giàu cho bọn tư bản – còn đời sống nhân dân Mỹ rất cơ cực, đói khổ! Bọn Ngụy tay sai bán nước cho Mỹ…xã hội miền Nam là xã hội thối nát, tham nhũng – phồn vinh giả tạo…Ba giòng thác cách mạng sẽ nghiền nát bọn Tư bản chủ nghĩa bóc lột – đang giẫy chết…” .
     
Hằng ngày chúng tôi chứng kiến từng đoàn xe nối đuôi nhau chở những cái “phồn vinh giả tạo” như: Xe Honda, xe đạp, TV, tủ lạnh, bàn ghế, cho đến hàng hóa, quần áo, vải vóc, vật liệu xây dựng…chất đầy trên trần xe đò nườm nượp chạy ra miền Bắc “Xã hội chủ nghĩa”!
     
Nói thật ra, có gì để mà “học tập cải tạo” cả – “giáo án” quá thấp nhằm để tuyên truyền... Chỉ có chửi… và chửi…! Khủng bố tinh thần, hạ nhục là chính, nào là:
 
“Không khai báo tốt, không lao động tốt, không chấp hành nội quy tốt…, sẽ ảnh hưởng đến ngày về, cũng như ảnh hưởng đến thân nhân ở địa phương”.
 
Hạ nhục bằng nhiều cách: Cho ăn đói, uống khát, ăn độn cũng không đủ no, mặc rách, chăn chiếu thiếu thốn… Các phòng không được nói chuyện với nhau… Ban đêm đi tiểu tiện cũng phải la lớn lên: “báo cáo cán bộ, tôi đi vệ sinh”! Sau nầy không còn báo cáo nữa vì đã có thùng vệ sinh trong phòng.
    
Báo chí, sách vở…, thì năm khi mười họa mới có một vài tờ “nhân dân, quân đội nhân dân” cũ mèm! Phần nhiều, dùng hình thức kỷ luật để biệt giam hành hạ đủ mọi cách… Chẳng những đối với bản thân người tù mà cả với những người thân cũng bị ảnh hưởng như: “Không cho thăm nuôi, không cho viết thư…”. Cấm tiệt không được học Tiếng Anh, Thánh Kinh… Không được hát “nhạc vàng” phản động, đồi trụy… Không được kể chuyện quá khứ liên quan đến chuyện làm tay sai, bán nước… Không được mặc quần áo “Ngụy”… Khi nhắc đến người “Liên xô”, tuyệt đối phải xưng bằng… “ông”! Ai vi phạm sẽ bị kỷ luật rất nặng.
     
Mỗi buổi sáng, đúng 5 giờ khi nghe tiếng kẻng báo thức tất cả thức, tập trung dậy ra đứng trước hiên tập thể dục và hát những bài hát cách mạng như:
 
“Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước, diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước. Ôi xương tan máu rơi lòng hận thù ngất trời, sông núi bao nhiêu năm tách rời…”; hoặc “Mùa thu rồi ngày hăm ba ta ra đi theo tiếng ca sơn hà nguy biến, rền khắp trời lời hoan hô…”.
 
Cứ thế, ngày nào, sáng nào, tối nào. Chúng tôi cũng cố: Gào…!Gào..! Gào…! Thật to. Cứ như chính bản thân mình cũng vác AK đi ra bưng nằm vùng chống Mỹ… Ngày xưa đọc những cuốn sách nói về đệ nhị thế chiến do “Người Sông Kiên” dịch:
 
“Lính Đức Quốc Xã bắt những người Do Thái, Ba Lan trong những trại thiêu người hát những bản nhạc ca tụng nước Đức hằng ngày...”.
 
Sau khi tập thể dục xong là làm vệ sinh cá nhân… Những tổ – toán – đến phiên trực thì lo đi nhận thức ăn về phân chia... Số người lao động bên ngoài được nhận luôn khẩu phần ăn trưa. Những dụng cụ lao động cũng vậy, mỗi buổi sáng sau khi tập thể dục xong là – tổ, toán trực trong ngày chạy ra kho nhận dụng cụ về phân phát lại cho những người trong tổ đi lao động - tùy theo ngành nghề mà nhận dụng cụ… Chiều, sau khi đi lao động về, tổ toán trực gom trả đầy đủ. Thủ kho sẽ kiểm tra, nếu mất hoặc hư thì phải làm báo cáo nêu rõ lý do.
       
Chính trị viên tên Ba Ý – Ba Kiều, nói:
 
“Văn hóa miền Nam là văn hóa đồi trụy chỉ dạy thanh thiếu niên làm tình, để tóc dài…, và thanh niên miền Nam ăn chơi hiện sinh, sống gấp lêu lỏng, mặc quần loe ống túm chạy theo văn hóa suy đồi đó. Cho nên cách mạng chúng tôi vào giải phóng, dẹp hết tàn dư Mỹ – Ngụy” để cứu nước”.
 
Chính trị viên Ba Kiều, nghe đâu là người ở Nam Định, nói giọng Bắc “đớt… đớt…” khó nghe. Một lần đi về phép ở ngoài Bắc trở vô, ông ta thành thật, kể:
 
“Tôi chở về ngoài quê tôi một chiếc “Hon-Da – 68”. Thấy lạ, người dân cả huyện kéo nhau tới - sờ, xem rồi trầm trồ… !“
     
Một bữa, tôi và mười chín cải tạo viên lên xe vào nông trường Cẩm Mỹ đốn tre, “cán bộ” đi theo mãi mê bắn chim… Một số anh chị em thanh niên xung phong nói:
 
-“Các anh Sĩ quan cải tạo chạy trốn đi!... Mau lên!... Chúng tôi sẽ canh giữ mấy “tay du kích” nầy không cho chúng nó đuổi theo các anh”.
 
Tôi lắc đầu và suy nghĩ: “Các anh còn không chạy được, thì chúng tôi làm sao chạy cho thoát…”!
      
Hai mươi ngày theo lệnh tập trung đã qua từ lâu! Nhũng người tù cải tạo vô cùng thiếu thốn những vật dụng cá nhân như: Hết kem đánh răng, bàn chải các loại, xà phòng, dao cạo râu, gương, lược... sống như người tiền sử! Thấy vậy, trại có cho mượn một bộ đồ hớt tóc và “cải tạo viên” – Nguyễn Ph, Nguyễn Thanh V, đứng hớt tóc cho anh em – đôi khi Công an, bộ đội và ban Chỉ Huy Trại cũng đến hớt tóc ké..! Có lần ông Bí thư Trại đến hớt tóc. “cải tạo viên” Nguyễn Ph chơi khăm lấy cái khăn choàng làm bằng vải bao cát choàng vào người ông ta. Ông ta nổi xung điên quát mắng: ”Anh biết tôi là ai không? Mà dám lấy tấm vải bao cát của tụi ngụy choàng lên người tôi?...”. “cải tạo viên” Nguyễn Ph – hoảng vía xin lỗi lia lịa, nói: “Bởi chúng tôi không có tấm khăn choàng, nên phải xử dụng vải bằng bao cát!”. Ông Bí thư Trại ra lệnh xuất cho hai mét vải trắng để làm khăn! Sau nầy ở chỗ riêng tư. Tôi nói đùa cùng bạn Nguyễn Ph rằng: “Hồi đó, cậu mà lấy con dao cạo cắt cuống họng lão bí thư Trại – thì cậu là người anh hùng còn hơn cả Kinh Kha ngày trước”. (Anh Nguyễn P.. Anh là Trung úy Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Đơn vị anh phục vụ ở Cần Thơ. Em trai của anh lấy em gái thứ của tôi năm 1977. Hai vợ chồng vô thăm nuôi và cho biết… Thành ra hai đứa tôi là thông gia).
     
Trại có mở một cái “căng tin”, chỉ bán vài bánh thuốc lào và kẹo… Anh em chúng tôi hầu hết không ai có tiền để mua. Một vài anh em có tiền mua thuốc lào thì trở thành người “giàu có”! Những người nghiện thuốc rất khổ sở, thường hay lân la đến xin – đâu có thuốc để mà xin hoài…? Thèm thuốc qúa, đành năn nỉ hưởng chút sái nhì cho đỡ cơn nghiện…! Có một anh đại úy hút thuốc lào chưa quen, say xỉn té úp mặt vào đống lửa, bị phỏng nặng…!
     
Quần áo anh em chúng tôi rách bươn, mục nát, bởi mồ hôi trong lúc lao động mà không có xà phòng để giặt. Tôi và những anh em khác moi móc bao cát vải trong những công sự chiến đấu cũ đem giặt sạch đất để vá áo quần. Kim may thì bẻ cọng kẽm, mài cho nhọn một đầu – đập dập đầu còn lại và đục một cái lỗ để xỏ chỉ, chỉ may cũng là chỉ bao cát. Có một số anh em dùng vải bao cát may nguyên một bộ quần áo để đi lao động, hoặc kết lại thành tấm lớn làm mền đắp cho khỏi lạnh. Thân thể chúng tôi lúc nào cũng âm ẩm mùi mồ hôi… Ban đêm rệp từng đàn từ trong kẽ gỗ; trong tường gạch lốc bò ra tha hồ hút máu, cũng như ghẻ, lác, chí, rận đầy người… Những ngày được nghỉ, khi buổi sáng nắng lên… Người có ghẻ cởi trần, mặc quần xà lỏn ra ngồi ngoài sân phơi nắng…
     
LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG!
    
      Lao động – nhổ cỏ bằng tay ở trong vườn cà phê của Thống tướng Lê văn Tỵ. Từ ngày “giải phóng” trong vườn đầy cỏ gai rậm rạp… Năm đầu không có dụng cụ: cuốc, xẻng, dao, rựa… Hỏi “cán bộ” thì được trả lời: “cái khó (ló) cái khôn”!... Chúng tôi lay nhổ những cây cọc sắt hàng rào kẽm gai, đập bằng một đầu rồi đo đúng một gan tay bẻ gập lại thành lưỡi cuốc. Đầu còn lại cũng đập nhỏ lại làm cán cuốc! Cứ như vậy, hằng ngày lên liếp trồng - rau lang, rau muống, bầu, bí , khổ qua, mồng tơi, rau dền… Một bữa chúng tôi trồng ba hàng cây cải trên một luống rau, ông bí thư trại Út Nhân đi ngang qua thấy… Ông kêu chúng tôi lại chửi như tát nước vô mặt:
 
-“Các anh là những thằng tù – vào tù mà còn nhớ đến cờ ba que, muốn ở tù rục xương phải không…?”.
 
Từ đó, làm bất cứ công việc gì chúng tôi đều né con số ba!
     
Không có nồi, soong để nấu nước uống thì cũng… cái khó (ló) cái khôn! Chúng tôi cạy những tấm tôn trên những công sự cũ đem đàn ra cho thẳng thớm... Gò thành nồi to, nồi nhỏ, thùng đựng nước có quai xách, hộp, khay đựng thức ăn… Phải công nhận rằng, có rất nhiều anh em khéo tay…! Người nào làm không được thì có thể trao đổi thứ khác, hoặc kiếm hai miếng tôn đưa cho người “thợ gò”, sau vài ngày lấy lại một cái xô, hay cái nồi!
     
Sau nầy được thăm nuôi, thì lon guigoz mói là người bạn đồng hành trên khắp mọi nẻo đường gian lao… Về mặt tình cảm, hằng ngày nhìn cái lon guigoz là nhớ đến cha mẹ, vợ con ở nhà; như một hình ảnh sống động gián tiếp gần gũi làm vơi bớt những thương nhớ cồn cào ở trong lòng… Đêm nằm lấy cái lon guigoz để gối đầu và dòng suy nghĩ về người thân với những kỷ niệm một thời – giấc ngủ hiện về mang theo ước mơ… – Đó là ngày trở về! Khi đi lao động, lon guigoz rất đa năng, nhờ dẫn nhiệt nhanh nên nấu nước hay thức ăn mau sôi…, mau chín… Nếu có bị xẹp lép cũng không sao, nắn lại là y nguyên.
     
Trong những ngày nghỉ, có số người tìm những ống nhôm M-72 (loại súng chống tank đã qua xử dụng), cưa ra từng khoanh đem mài, dũa, rồi chạm trỗ thành những vòng đeo tay nhìn rất đẹp…! Hoặc làm những cái lược rồi khắc tên tuổi vợ con hay người yêu. Vẽ chêm thêm hoa lá cành vào cho có màu mè…! Ai có tay nghề thì khắc “Long- Lân- Quy -Phụng!”. Những bao cát bằng ny lông chúng tôi moi lên trút bỏ cát đất giặt sạch sẽ, rút ra từng sợi nối lại và se dây đan thành những cái võng để nằm. Đan thành những cái giỏ lưới để xách đồ đạt, thức ăn, nước uống… Hai năm sau khi được phép “thăm nuôi”, chúng tôi gửi đem về nhà cho người thân làm vật kỷ niệm!
     
Tôi được các anh ở miền biển - Bà Rịa, Long Điền… Các anh dạy cho tôi cách đan lưới, đan võng và tôi trở thành tay đan võng, giỏ “chuyên nghiệp”…! Khách hàng tôi không ai khác hơn là anh em “tù cải tạo”. Người giúp tôi nối sợi và quay dây là anh Đỗ Văn B, đồng hương và cũng ở chung phòng… Năm đầu còn thời giờ rỗi rảnh nên đan được nhiều, những năm sau công việc lao động nặng nhọc; hơn nữa trại cấm làm vật dụng cá nhân… Có những ngày mưa dầm suốt ngày không đi lao động, tôi cùng anh Đỗ văn B ở trần truồng như nhộng ra phía sau dãy lô nhà ở quay dây để đan giỏ. Sở dĩ ở trần vì trời mưa quần áo ướt không có chỗ để phơi!
     
Tôi và anh Đỗ văn B còn có một kỷ niệm đáng nhớ: Những cần xé đựng cơm sau khi phân phát xong, nhà bếp xịt nước gom lại cho vịt… Đói qua ngủ không được, đợi trời tối tôi làm “đặc công” bò vô hốt một mớ đem về giao cho anh Đỗ Văn B gạn lọc bỏ cát đất, rác và hấp lại mà ăn!
     
Năm nào trại K4 cũng thanh lọc lý lịch chuyển người đi trại khác như: Trại “Bàu Lâm – Long Giao – Z-30C – K3- Ông Đồn – miền Bắc... Mỗi lần chuyển trại... Bí thư Trại bắt chúng tôi mang hết đồ đạt cá nhân ra sân ngồi dưới nắng cả buổi, chờ gọi tên… Các “cải tạo viên” nào được gọi tên thì đứng dậy xách túi vật dụng cá nhân theo cán bộ ra xa xếp hàng, không được nói chuyện với người còn ở lại. Trong đợt nầy tôi có ba người bạn thân ra đi, đó là: Tr/úy Nguyễn Ph, Th/úy Nguyễn Th và Đ/úy Nguyễn Tr. Ba anh nầy là người cùng xã với tôi. Ngày đi tù “cải tạo” đi cùng chuyến xe.
     
Những người còn ở lại được sắp xếp chỗ ở mới. Trại luôn luôn xáo trộn mọi “nề nếp” cũ… để tránh - phe nhóm và gài “ăng ten” để kiểm soát… Không biết vô tình hay hữu ý, tôi và anh Đỗ Văn B (cùng xóm) quen nhau ngày lên xe đi cải tạo, bởi chúng tôi cùng ngành và cũng đồng hương cùng ở chung một xã. Sau bao nhiêu lần chuyển chỗ ở anh em chúng trôi vẫn ở cùng phòng gần hai năm… Coi như anh em, anh lớn hơn tôi mười tuổi. Anh lớn tuổi nên lao động nội khu, còn tôi thường xuyên theo xe be hằng ngày đi vào rừng cưa gỗ súc đem về cho xưởng gỗ của trại. Tôi thường tranh thủ gom một bó củi và rau tàu bay đem về. Anh ở nhà “chế biến” món ăn. Số rau tàu bay tôi mang về nhiều… – anh thường hay phân phối cho anh em trong phòng. Sau nầy được “thăm nuôi”… Gia đình anh thăm và tiếp tế hằng tháng – thực phẩm nhiều, anh thường chia xẻ cho tôi… Tôi ăn nhiều bởi sức trẻ, nhưng tôi nhịn đói cũng rất giỏi, có nhiều ăn nhiều, không…, thì nhịn hay ăn ít cũng không sao. Chính vì sự ở chung và thân quen nầy không ngờ là một “tai họa” cho chúng tôi về sau… Khi lũ “ăng ten” ganh ăn báo cáo chúng tôi âm mưu cướp súng C.A thả tù vào ngày sinh nhật “Bác Hồ”… Anh Đỗ văn B bị bắt giam vào “nhà đá” tra tấn liên tục kể cả chích điện nhưng nhất định - anh không khai cho anh em, cũng như nhận tội – đau quá anh khai luôn cho công an, quản giáo và vợ của họ…
     
Cuối cùng tôi cũng bị bắt vào lúc sáu giờ chiều khi đang ngồi ăn tối trước hiên. Tôi thấy hai công an quản giáo xăm xăm đi về phía tôi và chĩa súng AK vào đầu… – miếng vải đen nhanh chóng bịt mắt tôi lại dẫn lên văn phòng – họ tháo miếng vải đen xuống và bắt đầu đánh tra khảo… Họ đánh túi bụi vô người tôi…  Tôi không nhận tội và cũng không khai gì cho anh Đỗ văn B.., cũng như các anh em khác… Dù bị đánh đau tôi vẫn không khai bậy cho anh Đỗ Văn B… Tôi khai bậy thì coi như anh Đỗ Văn B… chết trong tức tưởi… Tôi cương quyết không nhận tội. Tôi nói với các anh cán bộ, rằng tôi bị vu vạ… Cán bộ các anh ở cách xa chỗ chúng tôi hàng hai ba trăm thước, thì làm sao tôi có thể cướp súng được…? Cuối cùng trại phó Tư Hằng – (lúc nầy xuống làm phó). Còn ông Bí thư Út Nhân lên nắm trưởng trại. Ông Phó trại Tư Hằng đi vào phòng cởi trói cho tôi và nói trống không -“ Về trại đi, tụi nó báo nên trại phải bắt!” .
     
Bảy ngày sau tôi bị bắt lần thứ hai và biệt giam hơn ba tháng! Thì ra, họ thả tôi là để “nhử” các em anh khác ra tự thú…(vu cáo, mà có ai tự thú…). Còn anh Đỗ Văn B biệt giam hai năm… Sau bốn tháng “biệt giam”, tôi được cho ra khỏi phòng biệt giam và chỉ định về Tổ anh nuôi. Hằng ngày, vào - buổi sáng, trưa, chiều. Tôi và các anh trong tổ phát thực phẩm, gánh thức ăn, nước uống cho các phòng biệt giam & kỷ luật… Tôi đi theo tổ phát thực phẩm đến khu “nhà đá”. Tôi không thấy anh Đỗ văn B cũng như anh em biệt giam trong đó, vì tối om… Tôi chỉ thấy có cái cửa nhỏ để đưa thức ăn, nước uống vào... Nhưng anh em ở bên trong nhìn qua lỗ châu mai thấy rõ chúng tôi… Tôi nghe giọng anh Đỗ Văn B vọng ra… – anh không kêu tên tôi – anh chỉ nói trống không -“Nhắn chị đến xin thăm nuôi…!”. Tôi chỉ nghe được chừng đó… Thật sự tôi không ngờ “ăng ten” của trại họ cài ở trong nhóm cho tù kỷ luật ăn… Họ “ăngten”, báo cáo láo lên trại là: “Tôi có ý định cướp súng công an giải thoát cho anh Đỗ văn B và các anh em cải tạo khác vào ngày lễ 30.4 – 1.5…”! Thật đáng buồn…! Tôi và anh Đỗ Văn B biết mặt tên “ăn ten” đó. Anh ta tên là Nguyễn H… Sau nầy có một số “anten” định cư ở Hải Ngoại, nhưng không bao giờ dám chường mặt ra, mặc dầu anh em chúng tôi tha thứ, xem như chuyện đã qua vì đôi khi các anh em đó cũng bị bắt buộc phải “bán đứng đồng đội”... Chứ trong lòng họ cũng rất đau khổ không ít.
     
Vậy là, tôi bị bắt lần thứ ba và bị giam bảy ngày! Lần nầy không bị đánh nhưng hăm dọa: Không được “liên hệ” với anh Đỗ Văn B và gia đình anh ấy. Sau nầy có thời gian tôi phụ trách ở phòng thăm nuôi… Tôi gặp chị H…, vợ anh Đỗ Văn B, nhưng tôi không dám chào vì có “ăngten” theo dõi…! Khi được thả khỏi nhà biệt giam anh Đỗ Văn B ở phòng riêng, lao động cũng ngồi riêng một mình, thân hình anh tiều tụy, tong teo như que củi mục, ghẻ lở…! Chân vẫn bị cùm hai cái “U”. Hai tay lúc nào cũng bị xích, sợi xích sắt dài khoảng sáu tấc... Hằng ngày anh ngồi đập đá một mình trước hiên, trông thật tội nghiệp… Tôi đi qua không dám ngó thẳng hay dừng lại nói chuyện… Bọn “ăng ten” như loài cú vọ, luôn rình rập… Tôi vẫn bị theo dõi nên không giúp gì được cho nhau!

Nói thêm về Antenna, như sau:

 (Ở trong tù “cải tạo”. Chúng tôi lo ngại những kẻ bán mình làm antenna… Người “cải tạo” làm antenna, họ cứ nghĩ: tâng công bằng cách vu vạ cho người khác càng nhiều sẽ chóng được thả về nhà càng sớm… Họ không ngờ rằng đó là cái bẫy; cái bẫy nguy hiểm đang giết cả cuộc đời của họ và nếu còn sống trở về - là một sữ sỉ nhục cho gia đình vợ con dòng họ.
 
“Tự điển Webster định nghĩa về antenna:
 
a movable segment organ of sensation on head of insects, myriapods and crustaceans (tạm dịch : cơ quan về cảm giác có nhiều đoạn khúc có thể chuyển động được, ở trên đầu các loài côn trùng, loài đa túc và loài giáp xác).
 
a usual metalic device (as a rod or wire) for radiating or receiving radio waves (tạm dịch : thiết bị bằng kim loại thường dùng cho các làn sóng bức xạ hay nhận làn sóng vô tuyến - có thể là một thanh sắt hay bằng dây).
 
Trong tất cả máy truyền tin, đều phải có anten để nhận tín hiệu sóng điện đàm vô tuyến.
 
Phần nhiều anh em tù nhân chính trị và nhân dân miền Nam hiểu về antenna qua định nghĩa thứ hai, ít ai để ý đến định nghĩa thứ nhất, ngoại trừ những chuyên viên nông nghiệp và các giáo sư dạy môn vạn vật. Tất cả các loài côn trùng đều có antenna mà chúng ta thường gọi là "râu" như các loài bướm, cào cào, châu chấu, dán, dế...C ác loài đa túc như: kiến, cuốn chiếu, rết... cũng có antenna. Loài giáp xác như tôm, cua... cũng có antenna. Chúng dùng antenna để truyền thông cho nhau. Trong khi thiết bị bằng kim loại ở định nghĩa thứ hai hoặc chỉ là phát sóng hoặc chỉ nhận sóng chứ không vừa phát vừa nhận như antenna của sinh vật.
 
Trong quyển sách “Nông Học Đại Cương”. Tác giả Tôn Thất Trình đề cập phương pháp diệt côn trùng bằng hóa học rất hữu hiệu nhưng lại làm thay đổi sinh thái và ảnh hưởng tới sức khỏe của con người.
Các nhà khoa học chiết xuất "nhục tình hương" từ các loại côn trùng và dùng "nhục tình hương" làm bẫy bắt giết những côn trùng, cách nầy ít gây độc hại đối với sức khỏe con người. Tuy nhiên giá cả của "nhục tình hương" chiết xuất quá đắt, do đó chỉ có các nước giàu, như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Israel.. mới đủ tiền xử dụng.
 
Trong "trại cải tạo", cũng có "nhục tình hương". Đó là “Ban Văn Hóa Tư Tưởng”. Thực chất là Antenna… Đó là các chức vụ: Trưởng khu, Phó Khu, Trưởng Dãy, Phó Dãy… Đội trưởng, Đội phó, Đội thi đua, Học tập tốt, Cải tạo tốt... Đã quyến rũ được những tên ”Ham công trạng” làm antenna… Đâm trước mặt chiến sĩ – bằng những trò báo cáo gian dối…!”
 
Người làm antenna. Họ không thể trốn tòa án lương tâm.).
 

Mỗi lần nghe tiếng kẻng do anh Nguyễn ngọc A phụ trách vang lên liên tục và trên loa phóng thanh “Thông báo tất cả cải tạo viên gom vật dụng tư trang ra sân tập họp!”. Linh cảm…, biết có chuyển trại tiếp tục…, hoặc đổi chỗ ở từ phòng này qua phòng khác; dãy lô này qua dãy lô khác… Anh em chúng tôi buồn lắm! Không biết: ai ở, ai đi…? Không có thời gian nói lời tạm biệt khi chia tay hay dặn dò hoặc chia sớt cho nhau những vật dụng cần thiết… Nói thiệt, ngày chia tay vợ con cha mẹ để đi tù, chúng tôi cũng đâu có khóc…! Vậy mà, lúc chia tay bạn tù đột ngột ở trong tù cải tạo - dù mới quen nhau không bao lâu nhưng thân thiện như anh em ruột thịt… Chúng tôi nhìn nhau, bậm môi cố nuốt cảm xúc vào lòng…! Hối hả xếp hàng bước lên xe bít bùng, kẻ ở lại người ra đi… Không biết đi đâu…? Về đâu…?!

     
Năm 1976, trại nhận những người “phản động” theo “tàn quân Ngụy” vào rừng chống phá cách mạng. Trong trong nhóm nầy phần nhiều là các anh em “sĩ quan, công chức VNCH”. Năm 1977, là những người vượt biên “phản quốc”, trong số nầy cũng có lính VNCH… Và khoảng hơn 100 người toàn nữ… Trong số chị em nữ đó có một người là gái mãi dâm… Cô gái mại dâm đó trông khỏe mạnh, đẹp gái… (chị em nữ được cho ở một dãy nhà lô riêng). Năm 1978, họ đưa thêm vô trại toàn thành phần hình sự, trọng án, khoản hơn 300 người… Trại giao cho chúng tôi “kèm cặp” họ… Tôi “quản lý” 10 phòng, mỗi phòng từ 20 phạm nhân (Quân, Cán, Chính VNCH đi cải tạo đều gọi chung là: “Phạm nhân cải tạo” y như tội phạm hình sự). Số trọng án nầy bị cùm hai chân suốt ngày ở trong phòng… Thời gian sau mới cho ra đập đá trước hiên…
 
Trong những ngày mới vô trại, số người nầy bị nhốt ở trong phòng và mang cùm chữ U. Họ chỉ được ra trước dãy nhà ngồi đập đá dăm cỡ 4x6… (ngồi đập đá vẫn bị cùm). Mỗi buổi chiều, sau khi đập đá trước hiên xong. Người hướng dẫn, cũng là “cải tạo” dọn dẹp và cho anh em tắm và ăn uống… Sau đó, tất cả đi về phòng - leo lên sạp ván và tra hai cái cùm chữ “U” vào cổ chân ngồi chờ... Người hướng dẫn - xỏ cây sắt cỡ 16 ly, dài 11, 7 mét, từ bức tường phía sau xuyên suốt qua các cùm “U” của anh em thẳng ra bên ngoài bức tường phía trước… Người hướng dẫn, đi ra cửa trước - lấy miếng thép có lổ, chặn phía trong đầu cây sắt và móc cái khóa vô cái lổ ở đầu cây sắt phía bên ngoài. Vậy là xong. Ban đêm bất cứ giờ nào công an quản giáo cũng bất ngờ xuống kiểm tra ổ khóa của các phòng trọng phạm. Chìa khóa công an quản giáo cất giữ.
 
Tôi chịu trách nhiệm toàn dãy 10 phòng. Tuy nhiên, ban ngày tôi vẫn phải đi công tác lấy gỗ ở (Bàu Cối, Suối Nho), tới tối mịt mới về… Tôi chỉ chịu trách nhiệm vào ban đêm… Trên tinh thần, tôi vẫn là người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn Dãy (10) phòng, với 200 tù phạm các loại đó… Trại cho tôi có toàn quyền đứng ra “bảo lãnh” số anh em nầy, nếu họ có “tiến bộ, chấp hành nội quy…” được ra lao động ở trước hiên mỗi ngày… Nếu người “bảo lãnh” để phạm nhân trốn thì tôi phải thế chỗ… Có một đêm, tôi móc khóa nhưng chưa bóp lại, vì mê đọc tờ báo mới mượn… Bất ngờ ông Trưởng và Phó trại từ đâu, cứ xăm xăm đến cái bàn chỗ tôi ngồi mà thẳng tới… Hai ông mặt mày đỏ kè, nồng nặc mùi rượu. Một trong hai ông nhìn thấy ổ khóa tôi chưa bóp. Thế là, hai ông sững cồ lên rút hai cây súng ngắn “colt 45” chĩa vào đầu tôi nói:
 
-“Mày định thả tù trọng phạm đêm nay phải không? Tại sao không bóp khóa lại?...”.
 
Tôi suy nghĩ rất nhanh, nếu nói sai là chết liền – vì hai ông đều “say sỉn”…! Hai mũi súng lạnh ngắt thì đang chĩa vào đầu – dù cho hai ông không có ý bắn, nhưng hai ông đã không còn tĩnh táo, lỡ cướp cò là toi mạng…! Chết một cách oan uổng, chết một cách vô duyên… Mồ hôi trong người tôi túa ra…, nhưng tôi vẫn bình tĩnh, nói:
 
-“Thưa Trưởng trại, tôi "đăng ký" cả tháng nay mới tới phiên đọc được tờ báo (Văn Nghệ). Tôi mê tờ báo…”. Tôi đang nói thì ông ta cướp lời “Nếu không cẩn thận để phạm nhân thoát ra, thì người chết trước là – các anh chứ không phải chúng tôi. Đây là bài học về sự cảnh giác đề phòng là trên hết. Nói cho biết thôi!”.
 
Hai ông khệnh khạng bỏ đi. Tôi bóp ổ khóa, và cảm thấy như… từ địa ngục trở về!
 
(Xin nói thêm. Trưởng trại đầu tiên là Năm Nam, ông nầy mù chữ chỉ biết ký “chữ thập”. Út Nhân tức Lê Nhân) chỉ là Bí Thư trại… Người thứ nhì, là Ba Xuân. Ông nầy ở Biên Hòa có xe hơi, vợ là quả phụ của một Trung tá VNCH… Người thứ ba, là Tư Hằng, ông nầy vốn là giáo sư (giáo viên) theo cách mạng… Nghe đâu bị bắt đưa ra ở ngoài Côn Đảo… Sau ngày “giải phóng” mới trở về. Út Nhân, nghi ngờ Tư Hằng khai lý lịch giả mạo… Người thứ tư, là Út Nhân (Lê Nhân). Út Nhân hất cẳng Tư Hằng lên làm trưởng trại K.4 kiêm luôn chức Bí Thư trại. Út Nhân từ Chuẩn Úy, chỉ trong vòng năm năm…- vọt lên Trung tá kiêm trại trưởng trại K.4. Tư hằng bị “đì”, xuống làm phó trại. Gia đình Tư Hằng sống trong nghèo khổ… Ông xin một miếng đất nhỏ ở xã Bảo Định, cất một căn nhà cấp bốn… Cất nhà cho ông, chính là do anh em cải tạo chúng tôi cất cho ông… Ngày ông chết, hay tin – anh em cải tạo chúng tôi có ghé thăm… Nói thẳng ra ông Tư Hằng vẫn còn lương tri đối với chúng tôi – dù gì, ông cũng là người Nam, có học thức… Nói thẳng ra: Bà vợ Út Nhân và vợ ông Tư Hằng – Hai bà nhìn chúng tôi với cái nhìn thiện cảm lẫn có chút nễ trọng… Chúng tôi cảm nhận ra điều đó… Tôi nhớ ông Tư Hằng, nói:
 
“Các anh có muốn chống cộng, hãy đợi tới khi ra khỏi trại, đi về nhà các anh hãy chống”.
 
Ý câu nói…, sau nầy mới hiểu, là Tư Hằng nhắn nhủ hãy giữ mạng sống mà về nhà, muốn chống cộng thì “vượt biên”…).
 
Trại thấy tôi công việc vất vả… Vài ngày sau, tôi được tăng cường một người “cải tạo viên”. Tên anh là: Phong Tay S… Anh Phong Tay S…, giúp tôi coi đám “trọng phạm” ở trong phòng số một – phòng đầu của dãy lô số 5 với 18 người, chưa kể tôi và anh Phong Tay S… là 20 người. Tôi và anh Phong Tay S… cùng ngủ chung ở trong phòng đó... Anh Phong Tay S, là Thiếu úy (Biệt Kích)… Anh chuyển về K4, từ trại (Tam Bum) Định Quán. Anh nhỏ tuổi hơn tôi ba tuổi. Anh em chúng tôi rất hạp ý nhau… Vài tháng sau tôi hết đi rừng, ở nhà phụ C.A trại lấy lời khai lý lịch của 200 con người trong dãy lô mà tôi có trách nhiệm phụ trách... Công việc lấy lời khai rất lâu… Tôi đi theo C.A ghi lại lời khai và tổng kết biên bản.
 
(Nói thêm về anh Phong Tay S… Số là tháng 2 năm 1977 có một người cải tạo vượt trại. Anh ta tên (Minh)… Anh em chúng tôi không biết anh là ai, có phải là sĩ quan hay công chức VNCH hay không…? Anh ta vượt rào trại một cách dễ dàng… Sau khi bị bắt trở lại anh ta khai tùm lum… Trong số người cải tạo, bị anh ta khai, có anh Phong Tay S…, và anh Đặng Trúc… Vậy là hai anh nầy bị bắt nhốt… Mấy ngày sau chúng tôi không còn thấy anh (Minh) đó nữa. Chúng tôi nghi họ gài người, nhưng không dám nói ra).
 
Giai đoạn đầu, tôi “bảo lãnh” cho một chú em khoảng 15 tuổi, ra lao động… Chú em nầy phạm tội – “Thường xuyên cùng bạn bè ăn cắp đồ trên đoàn tàu Thống Nhất Bắc Nam và nhảy tàu khi bị phát giác…”. Một bữa chị cán bộ ở ban hậu cần trại C.A, cần người khuân đồ ngoài cổng trại… Tôi cho chú em nầy đi… Trong lúc ra vô cổng chú em nầy bỏ trốn… Trại biết, nhưng không thể bắt phạt tôi được. Sau nầy, tôi gặp chú em đang chạy xích lô đạp ở bến phà Thủ Thiêm. Chú em kêu tôi: “Đại ca, em đây…”. Chú em dẫn tôi qua phà – nhà chú ở xóm Cây Bàng… Hai chúng tôi uống vài xị, nói chuyện… Tôi hỏi: Làm sao mà trốn đươc khỏi trại K4…? Chú em trả lời, rằng: “Đệ còn nhỏ, lại trắng trẻo, lúc chị cán bộ biểu ra ngoài cổng bưng hai canh rượu, mỗi canh 20 lít. Đệ bưng được một canh. Lúc quay trở ra đệ thấy chiếc xe đò, phía sau có cái thùng than tổ tía đeo phía sau đang xuống hàng, che khuất cái canh rượu… Em chạy ra…, lớ ngớ… Chú lơ xe tưởng em là khách… – chú ấy nhanh tay kéo mạnh em lên và la lớn. Tới luôn…! Vậy là em về sai Gòn…”. Chú ấy nói vậy thì tôi hay vậy, chứ không biết có đúng không nữa.

Ngày bước chân vô trại tù “học tập cải tạo”, cứ tưởng sẽ (hoc) theo đúng thời hạn thông báo của “cách mạng” rồi sẽ được trở về nhà, cho nên chỉ đem theo vật dụng cá nhân vừa đủ dùng… Không ngờ, lúc vô trại tù mới hiểu ra rằng đã bị lừa…! Lần bị lừa nầy càng thê thảm hơn lần bị lừa năm 1968 - (tết Mậu Thân). Tết Mậu Thân vì tin theo lời đề nghị của MTGPMN & Hà Nội là “Ngưng bắn bảy ngày để cho người dân đón xuân…” Vậy mà cộng quân ồ ạt tấn công ngay trong đêm giao thừa…!

 Đầu năm 1978, trại mới cho mỗi người tù cải tạo hai bộ quần áo bà ba bằng vải thô, màu xanh dương. Áo quần rách sẽ vá lại khi được nghỉ lao động… Kim chỉ để vá áo quân thì xin gia đình… Ngoài ra, các vật dụng cá nhân khác, phải trông chờ gia đình đem vô cho… Mấy năm chưa có thăm nuôi, chúng tôi phải lấy than bếp đem nghiền cho nhuyễn ra để đánh răng, chứ không dám dùng muối. Muối hột ở trong tù là “món hàng” xa xỉ, còn quý hơn cả vàng và kim cương. 

 
CHO VIẾT THƯ VỀ & CHO THĂM NUÔI.
     
Hai năm sau trại cho viết thư về thăm gia đình cũng như cho “thăm nuôi”… Trại ra lệnh không được khóc… khi ra gặp thân nhân… Ai vi phạm lần sau sẽ không cho thăm nữa. Còn thân nhân đến “thăm nuôi” ngồi ở phòng chờ cũng được cán bộ trại sinh hoạt trước, là:
 
“Đừng khóc lóc, không được chụp ảnh... Hãy động viên người nhà (học tập tốt! Lao động tốt!). Để sớm trở về đoàn tụ với gia đình”!
 
Cha mẹ, vợ chồng, anh em, được gặp lại nhau sau gần hai năm biệt xứ... Cầm tay nhau mừng… mừng… tủi… tủi…! Gượng cười mà hỏi thăm chuyện nhà, chuyện xóm…, nhưng phải nói lớn; không nói lớn cũng không được vì ngối đối diện nhau được ngăn cách bởi một cái mặt bàn rộng một mét hai. Miệng luôn nói những điều tốt ở trong trại – cái gì cũng đầy đủ… Và động viên nhau theo đúng bài bản của “cách mạng” đã được sinh hoạt trước!
     
Thực phẩm thân nhân đem cho, C.A trại đổ bung ra hết để kiểm tra và kiểm tra rất kỹ trước khi cho vào bao bì trở lại: Bánh tét, bánh chưng, xẻ dọc, xẻ đôi… Những món ăn đựng trong lon guigoz phải đổ ra cái thau, dùng đũa bới tung ra kiểm tra xem có giấu thư từ tài liệu “phản động” hay không? Thời gian “thăm nuôi” chỉ có ba mươi phút ngắn ngủi! Tôi chưa có vợ, nhưng có người yêu. (người yêu không bao giờ đi thăm tôi. Nàng đã bỏ tôi). Mẹ tôi tảo tần nuôi mấy đứa em của tôi nên không thể đến thăm tôi thường xuyên. Thỉnh thoảng, vài ba tháng mẹ tôi ghé thăm cho tôi một lon “guigoz” mắm ruốt kho chung với mỡ và sả thật mặn… Tôi để dành ăn, hoặc pha loãng ra nấu canh với rau cải tàu bay, rau riệu... Một ký đường tán mắt tre… Đồ thăm nuôi mang vào chỉ có thức ăn tươi thì được đem về phòng, thực phẩm khô và tiền phải gởi ở kho hậu cần trại. Chỉ được phép lấy ra đủ ăn trong ngày. Nói đúng ra, trong thời gian “quân quản” chúng tôi còn được ăn một chén cơm, nhưng qúa ít, còn canh chỉ được một chén canh “toàn quốc”, lưa thưa vài cọng rau, một chút cá, chút thịt kho lớn cỡ bằng đầu ngón tay và nước muối… Đói triền miên! Nên tâm trí chúng tôi lúc nào cũng nghĩ về cái ăn. Nhớ về những ngày huy hoàng thuở trước và kể cho nhau nghe những món ăn đã từng ăn qua… Những thức ăn qua kiểm tra “đào xới”, khi đem về phòng phần nhiều bị thiêu.
 
Gia đình của tôi vốn ở Quảng Nam. Năm 1957, cha tôi ghi danh theo chương trình Dinh Điền của Tổng thống Ngô Đình Diệm lên KonTum lập nghiệp… Năm 1972 “Mùa Hè Đỏ Lửa”, cha tôi chết khi cộng quân tấn công trung đoàn 42 (DakTo), gia đình tôi di tản về Thị trấn KonTum và được chuyển tới trại định cư Long Thành… Một thời gian sau, mẹ và các em của tôi theo vị Linh Mục, Châu để đi định cư ở Căn Cứ 2, (Ông Đồn) theo chương trình định cư Caritas của giáo hội Công Giáo… Chương trình Caritas cấp cho mẹ tôi một lô vườn rộng 30 mét x 60 mét và 24 tấm tole Febro để lợp nhà cùng với 6 tháng lương thực… Tôi thỉnh thoảng mới ghé về thăm vài ba bữa rồi lại trở về đơn vị ở KonTum, cho tới ngày mất nước… Sau ngày mất nước tôi về nhà mẹ, ngôi nhà của mẹ tôi vách lá xiêu vẹo – còn mấy em trai gái thì còn nhỏ - phải lam lũ với rẫy bái trông rất tội nghiệp…! Tôi ở nhà với mẹ và mấy em được khoảng nửa tháng thì xã gởi giấy bảo đi “học tập cải tạo”.
 
Trại cho phép anh em tù “cải tạo” chúng tôi, được viết thư về báo cho gia đình sau hai hơn năm cải tạo (kể từ ngày 25.6.1975) để người thân tới “thăm nuôi”… Còn tôi, tôi không biết địa chỉ nhà của mẹ…! Tôi phải nhờ các anh em cùng xã có người nhà tới thăm nuôi trước… Tôi nhờ họ về nhắn tin dùm cho mẹ tôi…! Vậy là hai năm rưỡi, tôi mới gặp được mẹ!
 
Ngày đầu tôi gặp mẹ ở nơi nhà thăm nuôi, sau hơn hai năm... Me tôi tiều tụy và già thấy rõ…! Tôi đau thắt trong lòng muốn chạy lại ôm mẹ mà khóc… Giờ nầy tôi đã được gần hai mươi tám tuổi đầu mà còn để cho mẹ già - cơm đùm, cơm gói… đi nuôi tôi như một đứa trẻ… Tôi ân hận và xót xa trong lòng, đáng lẽ ra giờ nầy tôi phải ở nhà làm lụng để phụ nuôi các em gái, em trai. Mẹ cho biết hằng ngày ngoài việc đồng áng, mẹ còn đi ra Phan Thiết mua muối về phân ra bán lẻ cho người ta… Mẹ tôi có ba người anh trai ở Phan Thiết… Chị Sáu Tùng là con thứ sáu của người anh đầu của mẹ tôi. Chị Sáu Tùng phụ mẹ tôi chuyển muối, nước mắm từ Phan Thiết vô Xuân Tâm, nơi mẹ tôi ở để cho mẹ tôi bán... Mỗi hai tháng, mẹ tôi thăm nuôi tôi một lần, mẹ cho tôi - vài ký gạo; một lon guigoz mắm ruốc kho với mỡ heo, sả ớt… thật mặn, một chai dầu gió… Ngày tết thì mẹ cho khá hơn một chút.
 
Tôi bị kỷ luật (biệt giam) ba lần, lần lâu nhất là bốn tháng trời… Mẹ tôi có lên thăm, nhưng trại không cho gặp… Mẹ tôi khóc, năn nỉ xin gởi chút thức ăn cũng không được. Trong phòng biệt giam, chân tôi bị cùm một cái cùm chữ U, lâu ngày cái gân nhượng phía sau bị tê và sưng, bó chặt cái U sắt đau đớn vô cùng; mặc dù trước đó do ăn uống mỗi ngày chỉ có một nắm thức ăn bằng bắp độn vài ba hột cơm chỉ bằng cái nắm tay, với một ít nước muối và một lít nước… Tôi ốm nhom, quản tù cải tạo phải thay cho tôi hai lần U, vì cái cùm U bị lỏng… Tất cả anh chị em tù biệt giam chúng tôi đều như vậy… Khổ nhất là các anh chị em bị cùm hai chân và xiềng cả hai tay…! Cho tới về sau nầy, chân phải của tôi vẫn bên lớn bên nhỏ…
 
Thời gian sau tôi được trại, phân công ra nhà thăm nuôi ở ngoài cổng trại để phụ với công an quản giáo sắp xếp lịch thăm nuôi cho gia đình của anh chị em “cải tạo”, vào ngày thứ bảy hằng tuần…. Chính thời gian nầy tôi mới có đủ thời gian tận mắt chứng kiến cảnh bi thương, lẫn nhọc nhằn vất vả của những - người cha, người mẹ, người vợ, người con cũng như bà con, họ hàng – họ chờ đợi tới lượt gọi tên để vô thăm… Họ mang vác “đồ thăm nuôi”… trong những giỏ xách nặng nề… Tội nhất là những người phụ nữ đi thăm… – ngoài đồ thăm nuôi mang theo lỉnh khỉnh… - còn phải dắt bồng con nhỏ, đi dưới trời nắng chang chang...! Tôi nhìn những khuôn mặt lo âu, thấp thỏm, lo sợ sẽ không được thăm… Lý do, họ lo sợ: Là người thân của họ chẳng may bị biệt giam vì vi phạm “nội quy” trại… (biệt giam cũng không biết ngày nào được ra…). Hoặc người thân bị chuyển qua một trại khác, mà họ không biết cái trại mới ở phương trời nào…?! Họ phải mang đồ thăm nuôi trở về trong nỗi thất vọng và nước mắt…!
 
Tôi nghe người tù cải tạo khuyên người vợ đừng tới thăm nuôi nữa, mà hãy dành – tiền bạc, lương thảo lo cho các con ăn học thành người…, là người tù không tuyên án – ngày trở về có khi – năm năm, mười năm hay suốt đời cũng không biết chừng…! Tôi nghe người vợ, nói – anh yên tâm ở nhà em lo cho con ăn học đầy đủ… Anh hãy giữ sức khỏe mà về với mẹ con em. (Trời ơi, có đầy đủ hay là mẹ con nhịn ăn, nhịn mặt, dành từng đồng, từng cắc để đi thăm nuôi…! Những món ăn đem đi thăm nuôi người tù cải tạo, chưa chắc con của họ được ăn…). Tôi nghe những đứa trẻ sụt sùi… khóc, khi phải rời người cha thân yêu, sau “Ba Mươi Phút” ngắn ngủi bên nhau…! Tôi thấy những người vợ, người mẹ - ngậm ngùi lau nhanh giọt nước mắt để cố gượng mỉm cười… lúc chia tay…! Tôi thấy những ánh mắt - u buồn… nuối tiếc… của những người đi thăm nuôi khi hết giờ phải bước ra khỏi cổng trại tù mà còn ngoảnh đầu trở lại nhìn…! Tôi nghe người mẹ, người vợ, người con dặn dò người tù cải tạo biết cách ăn - cái món gì phải trước, để khỏi bị hư thiêu - cái món gì phải để dành từ từ mà ăn mỗi khi đi lao động… Trời ơi, sao mà đau lòng quá thể…! Người “tù cải tạo”, vốn là người chiến binh oai hùng xông pha ngoài trận mạc bảo vệ quê hương đất nước mà giờ đây không khác gì một đứa trẻ ngoan hiền…!
     
CHUYỂN QUA CÔNG AN &
THÀNH LẬP CÁC ĐỘI SẢN XUẤT QUY MÔ
      
     Toàn vùng đất K4 quản lý là đất đá ong nổi trên mặt đất lềnh khênh… Trong lòng đất cũng cùng loại đá ong, nằm sâu  từ: một, hai, ba và tới hàng chục thước… Trưởng trại lên lớp:
 
“Trại chúng ta trực thuộc bộ nội vụ. Do đó chúng ta hạ quyết tâm hoàn tất những công trình trại đã đưa ra... Tổ chức lại ban đại diện cải tạo viên. Thành lập các đội – tổ sản xuất… Hiện nay, trại chúng ta không còn được nhà nước bao cấp toàn diện, cho nên phải tự lực... Từng bước chúng ta phải hoàn thành các chỉ tiêu”.
 
Người tù chúng tôi, tiếp tục mở một con đường dài trên ba cây số từ khu A ra khu B. (đường cũ nhỏ). Đường rộng gần sáu thước, mặt đường cao năm tấc, rải đá 1×2… Trên đoạn đường nầy phải bắt một cây cầu chắc chắn, cầu dài 20 thước. rộng 4 thước bảo đảm cho xe tải chạy qua… Bản vẽ con đường do Kỹ sư công chánh - Bùi Hữu T.., người ở tỉnh Phước Tuy đảm nhiệm và trực tiếp giám sát công trình… Tất cả đều làm bằng tay.
 
TÌNH CẢNH NHỮNG NGƯỜI NGỒI ĐẬP ĐÁ
    
Tình cảnh những người nầy thật là thê thảm. Phần nhiều họ là những “cải tạo viên” bị kỷ luật - thành phần hình sự - thành phần “phản động chống phá cách mạng”... Trong số người nầy cũng có các sĩ quan và viên chức VNCH, họ vô rừng tiếp tục chiến đấu...! Họ bị cùm bằng cái cùm hình chữ “U” vào cổ chân, nhẹ thì bị cùm một cái “U”, nặng thì cùm hai cái “U”. Nếu nặng tội hơn, thì ngoài hai cái “U” cùm ở hai chân, họ còn bị xiềng hai tay, bằng một đoạn dây xích dài sáu tấc… Cây sắt luồng tất cả cùm chữ “U” dài mười một thước bảy, sắt (phi 16), cùm trung bình mười bảy cho tới hai mươi người trong một cây sắt! Khi đến giờ ra lao động đập đá trước hiên. Cán bộ quản giáo xuống mở khóa, rút đầu sắt có lổ khóa ra khỏi bức tường. Người nào chân bị cùm hai cái “U” thì được giảm một cái. Cái “U” còn lại đều nằm bên chân phải, hoặc chân trái tùy theo thiết kế của mỗi phòng... Sau đó, cán bộ bóp ổ khoá lại, mọi người đồng loạt nâng cây sắt từ trên sàn gỗ bỏ xuống đất, đứng xoay người qua một bên, cho cây sắt nằm dọc trên mắt cá chân. Người đầu, người giữa và người cuối cây sắt, có bổn phận nắm sợi dây kéo cây sắt lên, để khi di chuyển cây sắt không bị đè xuống cái cùm chữ “U” làm trầy cổ chân! Tất cả những thao tác trên người tù tự làm lấy. Cán bộ chỉ có nhiệm vụ khóa và mở khóa.
     
Tất cả người trong phòng, chân không bị cùm đứng qua một bên. Người đứng đầu hô, một…! Tất cả cái chân không có cùm bước tới… Hô, hai! Chân có cùm bước tới…, mang theo cây sắt dài… Cứ thế, đi ra ngoài hiên… Người sau cùng có nhiệm vụ xách cái thùng tiêu, tiểu…! Hàng chục “xâu người!” ngồi đối diện nhau trước hai hàng hiên của dãy nhà lô. Khoảng cách giữa hai dãy lô rộng sáu thước… Những “cải tạo viên” không bị kỷ luật, đưa cho mỗi người một cái ghế nhỏ cao cỡ hai tấc; một cái búa tay; một cục đá dẹp nặng chừng mười ký lô để làm cái đe đập đá… Ăn uống và vệ sinh tại chỗ…!
     
Buổi chiều – bốn giờ – gom hết “sản phẩm”…, quét dọn hiện trường, dụng cụ đưa vào kho. Đi tắm! “xâu người!” ngồi đầu dãy đứng dậy. Người đầu hô một…! Tất cả bước đi rất nhịp nhàng kéo theo cây sắt đến cái giếng nước cách chỗ làm 40 thước. Trên miệng giếng có cái ròng rọc và dây kéo. Người đứng đầu chuyền dây cho những người sau kéo gàu nước lên và chuyền cho nhau tắm vội vã trong vòng mười phút để cho những “xâu người” sau tiếp tục tắm… Người đi sau trở thành người đi đầu. Hô, một…! Tất cả “xâu người” đồng loạt kéo lê cây sắt về phòng… Người đi sau cùng, không bao giờ dám quên cái thùng tiêu tiểu…!
     
Về đến phòng, cán bộ mở khóa. Người “cải tạo viên” trưởng dãy, có trách nhiệm rút cây sắt ra khỏi cùm chữ U (omega). Mọi người “khẩn trương” thay quần áo – quần áo ướt đem ra phơi phía sau… Xong, leo lên sạp gỗ ngồi và chụp cái U sắt vào cổ chân, ngồi đợi. Người một “U” thì có quyền đổi “U” từ chân trái qua chân phải và ngược lại, còn người bị hai”U” thì đành chịu… Người trưởng dãy ở phía sau bức tường đút đầu cây sắt vào trong phòng… Người ngồi đầu sát tường phía bên trong nhanh tay cầm ngay lấy đầu cây sắt và xỏ vào cái cùm chữ “U” trên cổ chân của mình trước... Người ngồi kế chuẩn bị và cũng làm như vậy…, làm cho nhanh và chính xác, bằng không - đầu cây sắt sẽ đâm thủng da chảy máu… Người ngồi ngoài cùng gần cửa chính, nâng đầu cây sắt lên và hô mọi người phụ đẩy cây sắt ra phía ngoài bức tường... Cán bộ quản giáo chờ sẵn, chỉ việc chụp miếng gỗ hoặc miếng sắt chặn vào đầu cây sắt, đầu cây sắt có lổ và móc ổ khóa lại. Kể thì lâu… Nhưng mọi thao tác những người tù làm rất nhanh chóng… Không làm nhanh chóng sao được khi cán bộ quản giáo đứng bên ngoài hối thúc, chửi rủa đôi khi còn bị đạp vào ngực bật ngữa ra sàn!
     
Đập đá “khẩn trương” ngày đêm cho đủ lượng đá trải mặt đường… Người ngồi đập đá trong tư thế bị cùm tuy khổ sở, nhưng chỉ mỏi hai tay, ngồi lâu đau lưng có thể đứng lên cho đỡ mỏi… Còn những anh em trong đội đào đá và cung cấp đá, họ quần quật túi bụi: Nào cạy đá lên, lớn quá phải dùng nêm, búa tạ 5 ký & 10 ký chẻ nhỏ ra cỡ đầu gối, chuyển vào “xưởng” rồi lại chuyển “sản phẩm” ra… Hầu như họ ở trần suốt ngày chỉ có cái quần cụt, vì mồ hôi lúc nào cũng tươm ra đầm đìa…! Nhiều công trình, nhu cầu đá 1×2, nên đội đập đá vẫn làm miệt mài.
     
LỰC LƯỢNG ĐÀO AO:
     
Hàng ngày ba bốn trăm người đào ba cái ao để nuôi cá, mỗi ao dài 100 x 60 thước. Đáy ao toàn đá, chưa kể những ao khác trong khu vườn Thống tướng Lê văn T. Người tù đứng suốt ngày dưới sình chuyền tay đất đá lên bờ, xeo, nạy những tảng đá nặng hàng tấn, chỉ dùng sức người đưa lên khỏi ao… Chân trần nên bị những mảnh đá cắt chảy máu, toét da như cơm bữa… Chúng tôi xử dụng những sợi dây kẽm gai bện lại thành những dây thừng dài quấn vào tảng đá, người trên bờ kéo hoặc dùng ròng rọc quay, còn người ở dưới ao thì lót cây, ván hoặc dùng đòn bẫy nhích từng chút một... Sình lầy trơn nhớt nên tuộc dây, tảng đá lăn xuống ao, tai nạn dập tay, dập chân là chuyện hằng ngày… ! Không một ai quan tâm tới chuyện “lặt vặt” đó! Cùng lắm thì trại cho đưa về trạm xá nghỉ một buổi, uống vài chục viên “Xuyên-Tâm-Liên” là hết bịnh! Tất cả đáy ao toàn đá và đá tảng… Hai cây xà beng mỗi cây nặng “bốn mươi chín ký!” Thật ra nếu không có hai cây xà beng “khủng long” nầy thì cũng khó nạy những phiến đá to hàng tấn...! Chúng tôi gọi là “tên lửa”. Trên bờ xử dụng cây xà ben “tên lửa” đó đã khó, huống chi dưới ao bùn đất nhão nhoẹt trơn nhớt…! Chúng tôi dùng xà beng nhỏ moi móc tìm ra khe đá… sau đó bốn người kéo cây “tên lửa” dựng đứng chọc vào khe đá và lắc từ từ, hai cây thay phiên cho đến khi tảng đá bung ra… Có khi nạy mất đà cả người và xà ben cùng ngã nhào – xà beng đè lên dập tay chân, bong gân, chảy máu…! Sức yếu, xà ben nặng, đá nặng. Làm chậm, công an quản giáo đứng trên bờ thúc giục… Suốt ngày lặn hụp dưới sình không thua gì con trâu! Đói mệt, nhưng còn phải đếm để kiểm soát lẫn nhau!
     
Do ăn uống qúa thiếu, khẩu phần ăn toàn khoai mì lát khô lại bị ẩm mốc, con mọt đục lổ chằng chịt, đem nấu nhừ sền sệt múc cho mỗi người một bát có khi lẫn phân chuột và con mọt. Mì lác khô bị hư và dơ bẩn nhiều quá, đội anh nuôi không cách gì rửa cho sạch hết được. Chén canh trong veo như nước suối, lưa thưa một vài cọng rau… Cá hay thịt, chỉ bằng đầu ngón tay út… Rất ngon là vì nó “mặn”! Hôm nào cho ăn trứng, là không biết cách nào để chia cho đều… Bởi cả một phòng gồm hai mươi con người mà chỉ có hai hai cái trứng luộc kho với nước muối… Vậy là chúng tôi nghiền trứng cho nát bấy ra, rồi lấy muỗng múc chia đều cho nhau ăn…! Có lúc ăn bánh bột khoai mì, mỗi người được ba miếng nhỏ, để khô cứng như đá! Chúng tôi gọi là “bánh xe lịch sử”! Sau cùng là ăn bo bo – ăn bo bo thì đỡ hơn nhưng cái vỏ không tiêu được nên nhiều người bị đau dạ dày…
     
Đói thường xuyên, nên đầu óc chúng tôi không còn suy nghĩ cái gì cả chỉ biết làm… Làm để chờ đến bữa nhận khẩu phần ăn – ăn xong là: Trông chờ bữa ăn kế tiếp! Cứ thế, ngày này qua ngày khác đầu óc chúng tôi chỉ nghĩ đến cái ăn… Trong lúc lao động, may mắn bắt được - con rắn, con chuột, cua, ếch, cóc, bọ cạp, châu chấu, dế… Đợi đến giờ nghỉ (10 phút mỗi giờ) là nướng “làm đẹp” ăn tại chỗ! Rau rừng, cỏ dại cũng hái nấu ăn cho đầy bao tử đói…! Còn các loại củ thì ăn sống… Những con trùn khoan cổ dài cỡ gang tay… Anh Nguyễn Hữu G, bắt về dùng que tre lộn ngược ra, rữa sạch bằm nhuyễn nấu cháo “bồi dưỡng” rất bổ! Anh gọi con trùn là “thổ long”. Anh nói: “tù cải tạo ngoài Bắc trước năm 1975. Họ cũng ăn như vậy”. Mới đầu tập ăn cũng thấy ghê ghê… nhưng ăn quen… thì cũng không còn trùn để mà ăn nữa! Mừng nhất là đi làm ruộng gặp mùa cua thay vỏ, con cua thay vỏ thân nó trắng như sữa và mềm… Bắt cua sữa là nuốt vô họng liền.
      
Đào xong ao là xây bờ kè quanh ao bằng đá chẻ, làm đường  rộng sáu thước chung quanh ao, rải đá mi… Chung quanh ao cá làm từng dãy chuồng heo, chuồng thỏ, chuồng gà, chuồng bồ câu, chuồng thỏ… Nhà kho chứa thực phẩm nuôi gia súc… Giữa ao cuối cùng xây một nhà “thủy tạ” lớn hình chữ T . Nhà thủy tạ, làm toàn bằng gỗ tốt, mái hình lục giác, chạm trổ hoa văn: “Long – Lân – Quy – Phượng” cho từng cây cột, từng cây xà nhà , nhiều họa tiết hoa văn rất chi tiết, công phu như những cung đình vua chúa… Giữa ao cá có đặt tượng điêu khắc hình “bác Hồ” tươi cười vẫy tay… Trên bờ ao cá xây một khách sạn (restaurant) một trết, một lầu đồ sộ; có phòng trà, ca nhạc, đầu bếp phục vụ, bãi đậu xe. “ban tiếp tân và bếp trưởng” cũng là người tù cải tạo được chọn lọc rất gắt gao. Riêng nữ phục vụ thì tuyển những ngưòi phụ nữ trong số tù vượt biên… Trang trí - trồng và chưng bày những chậu cây cảnh đắt tiền: “lão mai, mai chiếu thủy, thiên tuế, vạn tuế, tùng bách…”.
 
Cô Phượng là người đứng bán vật lưu niệm của trại K4. Hàng lưu niệm do cải tạo viên làm ra… Sau khi được cho về, cô đã viết hồi ký. Trích:
 
“Tôi được trại cho ra đứng bán hàng lưu niệm… Một bữa Út Nhân (trưởng trại) ra nhà “Thủy tạ”…, gạ gẫm…, muốn tôi phục vụ tình dục cho ông ta… Tôi chửi thẳng vô mặt ông… ông xấu hổ, nên nắm đầu tôi đánh cho tôi một trận thậm tệ…”.
     
Dưới hồ cá có “thuyền rồng” cho du khách bơi… Có bắp nổ để sẵn – du khách nào thích xem cá thì rãi bắp xuống ao – cá bơi tới giành ăn tha hồ mà xem…! Đặc biệt các ao hồ ở đây mỗi lần cho cá ăn chỉ cần đánh một hồi mõ tre là cá tập trung lại từng đàn… Người “tù cải tạo” chúng tôi cũng không thua gì con cá…! Tuỳ theo giờ giấc – hễ nghe từng hồi kẻng là biết phải làm gì... Có điều “văn minh” hơn, là không ồn ào giành giật như loài cá…! Đã vậy còn phải… “đếm liên tục” theo từng số thứ tự để kiểm soát lẫn nhau…! Ban đêm điện sáng trưng không khác gì một nơi nghỉ mát của những nhà tỷ phú… Cái ao cá có nhà thủy tạ ưu tiên nuôi cá chép, các ao còn lại nuôi cá trắm cỏ, cá tra… Cá trắm cỏ hằng ngày có đội chuyên đi cắt cỏ về cho cá ăn. Cá tra thì thức ăn “đặc biệt” hơn! Trại bắt đóng mười cái thùng gỗ kín chứa phân của “cải tạo viên” thải ra hằng ngày. Nước tiểu để riêng dùng tưới rau… Buổi sáng từ khu B, cứ hai người khiên một cái thùng phân đi hơn ba cây số mang ra đổ xuống ao cho cá tra ăn, đổ xong rửa sạch thùng phơi khô chiều lại mang về.
     
Tất cả cá tra nuôi dưới ao, duy nhất để dành đãi đằng các đoàn quan khách, cán bộ các cấp ở mọi nơi đến “tham quan” ăn nhậu..! “cải tạo viên” tuyệt đối không bao giờ được thưởng thức loại cá tra ngon đặc biệt nầy (?)
 
Để tạo một “nông trang” trù phú trên vùng đá ong không phải một ngày, một bữa là có! Vậy mà, ông Trưởng Trại ra lệnh:
 
“bằng mọi gía phải đạt “chỉ tiêu” trong vòng ba năm phải hoàn thành tất cả các công trình đã duyệt… Nếu không hoàn thành, các anh đừng hòng chúng tôi sẽ xét cho các anh về nhà sớm. Hơn nữa khi hoàn thành, trại K4 vinh dự chào đón các phái đoàn trên tỉnh và trung ương về thăm. K4 là trại học tập cải tạo tiên tiến trực thuộc Bộ Nội Vụ! Gặt hái được nhiều thành qủa trong lao động và học tập”!
 
Quả đúng như lời ông trưởng trại Út Nhân nói… Hôm khánh thành công trình ao cá và các công trình…, các cán bộ từ cấp tỉnh, bộ nội vụ… tề tựu về K4 liên hoan hai ngày… Đặc biệt trong đó có bà vợ của ông Lê Duẩn. An ninh vòng trong, vòng ngoài kín mít… Tù cải tạo chúng tôi được cho nghỉ lao động hai ngày. Đồng thời giam lỏng hơn hai trăm “cải tạo viên” có lý lịch cứng đầu trong mấy ngày có khách “VIP” tới khánh thành và liên hoan…! Khách quan trọng tới nỗi trưởng trại K4 (Út Nhân) cũng không được tham dự.

Nhiều người nghĩ rằng trại tù “cải tạo” ở trong miền Nam sẽ đỡ khổ hơn là bị đưa ra ngoài Bắc “Nghĩ như vậy là chưa hiểu biết gì về CS. Dưới chế độ CS, từ LX tới Đông Âu – Cu Ba -TQ – Bắc Hàn – cho đến VN… Chính sách đối với tù “cải tạo” đều tàn ác giống nhau… Khác nhau chăng là ở mức độ đối xử - tùy theo cảm tính mỗi vùng, mỗi cá nhân mà thôi…
    
ĐỘI XÂY TƯỜNG THÀNH & ĐỘI NÔNG SẢN:
    
Muốn có đất trồng trọt, chúng tôi phải gom hết số đá lởm chởm trên mặt đất và xây một bức trường thành chung quanh “nông trang” sáu mươi mẫu đất, theo hình tháp. Chân tường thành rộng ba thước, cao hai thước năm, ở trên xây thâu nhỏ lại còn một thước. Trung bình mỗi ngày khoảng năm trăm người gom chuyển đá… Dùng dây kẽm gai bện lại thành những chiếc gióng, đá nhỏ hai người khiên, đá lớn bốn người. Đá xếp chồng lên nhau theo hình chữ công. Do chiều cao hai thước rưỡi, nên khi đưa những viên đá nặng lên bên trên rất khó và nguy hiểm! Đá lăn trở xuống xảy ra tai nạn hoặc dập móng tay là chuyện thường ngày, dập móng là về trạm xá rút móng, cắt bỏ… Cho uống vài ba chục viên thuốc thần “xuyên-tâm-liên” nghỉ hai ba ngày rồi làm việc nhẹ ở nội khu – tức khu A. Khu A cũng xây trường thành chu vi bốn mẫu đất, bên trên rào kẽm gai, bên trong đào giao thông hào sâu, cắm chông và giăng dây điện nhằm không cho cải tạo viên trốn trại.
     
Trên chòi canh ở khu A lúc nào cũng có công an canh gác, không cho lao động gần hàng rào. Tuy nhiên, năm 1977 vẫn có năm người tù “cải tạo” vượt rào trốn trại và họ đã chạy thoát! Gồm có các anh: Lê văn T, Lê Văn Tr, Nguyễn Duy D, Lê C, Phan văn Kh… Riêng anh Phạm Văn K trốn về quê ở Bà Rịa vô rừng tiếp tục chiến đấu…! Một tiểu đoàn bộ đội bao vây kêu gọi đầu hàng… (Chuyện vượt trại nầy, người am hiểu là anh Nguyễn Ngọc S… Anh S ở chung phòng, biết được kế hoạch nhưng anh không tham gia). Bởi sức cùng, lực kiệt, anh tự tử! Ông Trưởng Trại bị bẽ mặt, tức tối lồng lộn… lập tức ra lệnh tập họp chúng tôi ra sân chửi và hăm dọa…! Từ lần trốn trại nầy, trại gài “hệ thống ăng ten” khắp các dãy và thành lập cái gọi là “Ban Tư Tưởng”. Do cải tạo viên “Huỳnh Tấn B – Huỳnh thiện Ph…” đảm trách. (họ là những sĩ quan biệt phái cho ngành giáo dục). Những người làm “ăng ten” mở “hộp thư chết” bằng cách viết báo cáo đem dấu dưới tảng đá đã được chỉ định sẵn ở đâu đó… (Sau nầy tôi được biết họ làm hộp thư chết ở đồi đá gần khu lò rèn). Chúng tôi không còn dám tụm năm, tụm ba bàn tán và trao đổi thông tin cho nhau thoải mái như trước. Tất cả đều cảnh giác từng lời nói, từng việc làm… dù trước kia là bạn thân của nhau. Bây giờ tất cả đều nghi ngờ và dè dặt khi nói chuyện…!
     
Xây trường thành – tuy không là vạn lý như bên Trung Hoa ngày xưa, nhưng cũng đủ để cho người tù trút bỏ hàng trăm cái móng tay, móng chân, ngón tay, ngón chân, và những người khiên quá nặng bị cụp xương sống, lọi mắt cá chân, mang thương tật suốt đời…! Máu đổ ra nơi chiến trường không tiếc! Vậy mà giờ đây nhìn những giọt máu túa ra trên những thân xác ốm tong teo trên mảnh đất đá ong mà xót xa cho thân phận người tù! Xót xa cho cha mẹ, vợ con nơi quê nhà! Bởi máu người tù cải tạo cũng là máu của thân nhân họ đỗ xuống, bằng mồ hôi, nước mắt thăm nuôi hằng tháng của ông bà, chú bác, cha mẹ, anh chị em, vợ con... Người tù cải tạo họ không khóc – Đất đá ong không bao giờ thấm lệ, chỉ thấm máu, mồ hôi…!
     
Xây tường thành xong. Đất đai thành khoảnh, bắt đầu đào lỗ trồng xoài – đào lỗ trồng xoài cũng như đào giếng, đất đá ong, nên phải ngồi đục cả tuần mới xong một lổ. Sâu một thước năm, đường kính một thước. Xoài giống là những cây xoài ghép cao hai thước trại mua về - hàng trăm cây trồng ở cả hai khu A&B. Tốn nhiều công sức là trồng ba mẫu nho và năm mẫu tiêu. Riêng cây cọc để trồng tiêu, phải là cây căm xe đường kính từ hai tất rưỡi trở lên, chiều dài bốn thước đến bốn thước rưỡi. Cây làm giàn cho những dây nho là gỗ xẻ; tốn rất nhiều cây gỗ cho hai công trình nầy… Khoảng một mẫu ruộng lúa nước, thâm canh ba vụ… Số đất còn lại trồng bắp, đậu phộng, đậu xanh, đậu đen, đu đủ, đậu bắp, khổ qua, dưa leo, đậu đũa, đậu nành và nhiều nhất là cây thuốc lá. Thu hoạch các loại hoa màu đều chuyển về khu A.
     
Xây chuồng nuôi heo cũng bằng gỗ… Nuôi một đàn heo nái, heo nái đẻ được bao nhiêu là nuôi thành đàn heo thịt hàng mấy trăm con… Phân heo cho cá ăn, làm phân bón... Xây chuồng nuôi hàng nghìn con thỏ cũng bằng gỗ, cọng thêm xử dụng hàng trăm tấn đá tạo thành những cái hang như thiên nhiên để cho bầy thỏ chui vào ở… Cà phê, và các loại trái cây thâu hoạch trong vườn Thống tướng Lê văn Tỵ cũng đem về khu A. Nói chung tất cả hoa màu thâu hoạch đều chuyển về khu A để chế biến và phơi phong… Kỹ thuật canh nông trồng trọt tại khu B, trại giao cho hai “cải tạo viên” lớn tuổi “lão nông tri điền” là: anh Năm H và anh Dương văn B – phụ trách. . Vậy muốn có đất để làm nông sản là phải làm tường thành để gom hết số đá ong trên mặt đất. Một công hai chuyện.
     
ĐỘI CẮT CỎ:
       
Có hai đội, mỗi đội mười người, buổi sáng mang theo đôi gióng, đòn gánh, liềm… Do một hoặc hai công an dẫn đi. Đi gần thì khỏi mang cơm, chỉ mang theo nước uống. Đi xa thì phải mang cơm… Đội cắt cỏ chúng tôi, đi vào trong những khu vườn, hàng rào, rẫy, bờ mương, khe, suối, các nơi: Gia Liêu, Bảo Định, Tân Phong. Ông Quế, Bảo Vinh A và B, Bình Lộc, Suối tre, Tân lập, và trong rừng cao su…Tùy theo từng mùa mưa hay nắng mà chọn nơi đến cắt cỏ… Đi và về chừng hai chục cây số là chuyện thường. Đi xa thì đi một chuyến, còn gần phải đi hai chuyến bất kể: Nắng, mưa, gío, bão…! Miễn sao đủ cỏ cho đàn bò, cá trắm và thỏ ăn… Ngày chúa nhật muốn được nghỉ, thì ngày thứ bảy phải cắt gấp đôi số cỏ. Không cung cấp đủ cỏ thì bị chửi, đánh, nhốt là chuyện bình thường…! Thân tù cũng như thân lươn “thân lương bao quản lấm đầu” (Kiều)! Anh Trần bội Ch – phụ trách đội cắt cỏ nầy. Trước kia anh cũng phụ trách đội đi rừng lấy gỗ súc trong đó có tôi và các anh: Phan Văn Th, Ngô Văn B, Đoàn văn H. Lê Văn T. Nguyễn Viết L… Phạm Huy C. Nguyễn Văn Kh… (Anh Phan Bội C, là người cùng xã với tôi)
 
Nói tới làng cao su Tân Lập, tôi lại nhớ tới hai chị em cô (…). Hai chị em cô bị bắt năm 1977 và đưa vô trại K4. Lý do hai chị em của cô bị bắt là hai chị em cô tố cáo “Cộng Quân” giết hàng trăm người dân vô tội trong những ngày tấn công thị trấn Xuân Lộc, trong đó có người thân của chị em cô. Dáng người cô thấp, cô bị đau tim nhưng ý chí của chị em cô rất mạnh mẽ. Chuyện nầy cô lén lút kể cho tôi nghe trong vài lần, cô được phân công làm công việc cho ban hậu cần cải tạo mà tôi là “khu phó hậu cần”. Người bộ đội can thiệp cho ngừng sự thảm sát dân làng Tân Lập theo “lệnh trên”… Nghe đâu… anh bộ đội đó tên là (Trần Đức Thạch) sau nầy anh có về lại làng Tân Lập để thắp nén nhang cúi đầu tạ lỗi thay cho đồng đội…!
 
Một hôm toán cắt cỏ chúng tôi cắt cỏ ở làng Bảo Vinh, làng Bảo Vinh có hai làng: (Bảo Vinh A & bảo Vinh B). Hai làng đều là dân người Quảng Nam đã sinh sống lâu đời… Dân ở đây không khác chi một xứ Quảng Nam thu nhỏ… Chúng tôi gánh cỏ đi ngang qua tiệm bán Mì Quảng… Mùi mì Quảng thơm lừng…, mà bụng chúng tôi thì đói và đói…! Ba người công an quản giáo cầm súng đi phía sau, nên người dân nhìn chúng tôi với chút tình thương cảm, chứ không dám cho chúng tôi ăn… Duy nhất một bữa các anh ấy lo đi đâu đó.. dặn chúng tôi ngồi tại chỗ. Một cô gái trẻ, từ trong nhà chạy ra – cô, ngó lui…ngó tới… rồi dúi cho tôi một bịch xôi…!
      
ĐỘI THỢ HỒ:
      
Đội thợ hồ, đội nầy xây rất nhiều công trình trong trại và ngoài trại… Đội xây một tháp nước cao sáu thước - để ép cá chép đẻ trứng… Đội xây một cái hồ ciment lớn có đường kính sáu thước bên cạnh tháp nước, lòng hồ trũng… Cá chép lớn, đã mang trứng đã chọn kỹ lưỡng và chích thuốc kích thích rồi cho vào trong lòng hồ… Nước sạch từ satudo trên đỉnh tháp chảy xuống theo vòng trôn ốc…, tạo thành dòng nước xoáy ly tâm rất mạnh… Các con cá chép “mẹ, hào hứng…” bơi vòng vòng theo dòng nước xoáy và đẻ trứng… dày đặc cả mặt hồ… Trứng cá được đưa vớt ra đưa qua hàng chục hồ nhỏ bên ngoài – để nuôi thành cá bột. Thức ăn của cá bột là bột gạo trộn với trứng các loại… Cá bột lớn, trại sẽ số bán số cá chép giống ra bên ngoài dân… chỉ dành lại một số để nuôi… Nghề ép cá lấy trứng để bán đem lại nhiều lợi nhuận cho trai. Anh Nguyễn Hưng, quê ở (Bảo Chánh), là người chịu trách nhiệm chăm sóc mười hồ nuôi cá bột giống… Đội thợ hồ ngoài việc xây công trình cho trại còn phải xây nhà cho cán bộ và các cơ quan khác trong huyện cũng như nhà dân theo sự sắp xếp của trại để lấy tiền đem về cho trại.
 
Công trình khủng khiếp nhất là làm nhà cho trưởng trại. (Út Nhân). Xây nhà cho trưởng trại, xử dụng toàn gỗ loại tốt cho khung nhà, còn các khung bộ cửa cái, cửa sổ làm bằng gỗ căm xe… Mỗi khung cửa, nặng bốn người khiên mới nổi... Thợ mộc bào không láng là coi như người phụ trách trực tiếp bị đánh nhừ đòn… Anh Nguyễn trong T, cán nền nhà bằng ciment, mặt nền nhà còn ướt – anh ngồi chờ ráo để qua bay cho láng…! Không may cho anh! Ông Trưởng Trại k4 (Út Nhân) đi đến, ngó thấy nền còn sần sùi… Vậy là ông ta đánh anh Tuấn mấy bạt tai với lý do làm dối…! Anh Nguyễn Trọng T… trình bày lý do kỹ thuật thì bị ghép cho tội chống đối, cãi bướng… – đem nhốt! Anh Phong Tây S… cùng ở trong đội làm nhà, đã chứng kiến sự việc đau lòng đó. Ngoài việc xây nhà cho ông trưởng trại, phó trại, nhà cán bộ các cấp, nhà cho dân… Tù cải tạo phải trồng cây ăn trái và chăm bón… (Anh Nguyễn Trọng T, anh là huấn luyện viên ở trong TTHL/CBXDNT, Chí Linh Vũng Tàu. Lúc rỗi rảnh, tôi và anh thường hay kể chuyện những ngày tháng cũ…
      
ĐỘI NUÔI CÁ – ĐỘI NUÔI HEO – ĐỘI NUÔI THỎ –  ĐỘI NUÔI BÒ & BỒ CÂU:
      
Trại cho nuôi hàng chục nghìn con cá trong hàng chục cái ao… Cá ít khi bị bịnh nhưng thức ăn thì nhiều. Trồng cỏ dinh dưỡng và nông sản cho ăn cũng không đủ… Anh em tù cải tạo hằng ngày phải đi cắt cỏ khắp hang cùng ngõ hẻm trong huyện Xuân Lộc… Trại mua một cái máy xay thực phẩm, cho đội nuôi cả “quản lý”… Trại cho nuôi vài trăm con heo thịt… khi heo trên một tạ…, trại kêu lái buôn ngoài chợ tới cân heo thịt và chở đi tiêu thụ… Hàng chục con heo nái và heo đực để phối giống… Đội nuôi heo khố nhất là thức canh heo nái đẻ vào lúc ban đêm… Theo dõi dịch bệnh cũng như vệ sinh chuồng trại hằng ngày để tránh mùi hôi khi du khách tới thăm… Phân heo hốt đem cho cá ăn… Đội nuôi heo đem lại nguồn lợi tức rất lớn cho trại… Có điều lạ là trại không khi nào xẻ thịt heo bán (rẻ) cho anh em cải tạo viên chúng tôi…?!
 
Trại cho nuôi hàng nghìn… con thỏ thịt ở Khu A và Khu B. Tạo ra hàng trăm con thỏ giống... Đội chẻ đá phải làm nhiều cái hang tự nhiên bằng đá, lớn nhỏ để cho thỏ ở… Đội thợ mộc phải làm hàng trăm cái chuồng thỏ các kiểu thật đẹp để cho thỏ ở… Thỏ thịt ở riêng, thỏ con ở riêng, thỏ đẻ ở riêng, thỏ bịnh ở riêng… Đội nuôi thỏ, là đội cực khố nhất trong các đội chăn nuôi vì thỏ thường hay bị bệnh… Thỏ thích ăn loại cỏ (bồ công anh), rau lang… Có đội đi cắt cỏ cho thỏ riêng. Trại cho trồng khoai lang để lấy lá cho thỏ mẹ ăn… Trước khi cho thỏ ăn, đội nuôi thỏ phải rửa cỏ (thực phẩm) sạch và để trong mát cho ráo hết nước… Trong chuồng thỏ, trong hang thỏ… Ban đêm phải để đèn sáng, cho người thay phiên nhau thức canh để kịp thời phát giác những con thỏ bị bệnh…, lập tức tách riêng ra để trị liệu… Đội nuôi thỏ là đội bị trưởng trại đánh chửi nhiều… (chung quy cũng vì thỏ bệnh). Thỏ bị bệnh thường xuyên, thuốc chữa thì rất ít… Phần nhiều chữa bằng thuốc Nam…
 
Giá trị kinh tế nuôi thỏ rất lớn, bởi thỏ sinh sản nhanh, thức ăn của thỏ chỉ có cỏ… Thực phẩm “bồi dưỡng” làm đêm cho các đội lúc nào cũng có thỏ, cá, rau các loại… Trại lấy thỏ để làm tiệc đãi đằng – cán bộ, công an, quan khách cũng như làm quà biếu…!
 
Trại cho nuôi hàng trăm con bò… Đội nuôi bò phải cắt cỏ mỗi ngày cho bò ăn dù mưa, dù nắng (bò nuôi nhốt chứ không thả rông). Khoảng ba năm sau, trại bán hết bò… để lấy đất trồng rau…  
 
Trại bắt tù cải tạo, nuôi  hàng nghìn con chim bồ câu… Đội thợ mộc đóng chuồng cho bồ câu ở… Bồ câu tuy ít bệnh nhưng phải lo thực phẩm cho chúng ăn, vệ sinh chuồng… Nuôi nhiều, thiếu thốn thực phẩm và thuốc men…
 
Chăm sóc cho bầy gia súc tăng trưởng, khỏe mạnh hằng ngày là vô cùng vất vã…! Người tù cải tạo sợ nhất là khi chúng bị bệnh dịch chết…! Lúc nào (họ) – Công an ghép tội chúng tôi cố tình phá hoại tài sản “xã hội chủ nghĩa” hoặc “chây lười lao đông!”…, hoặc thiếu trách nhiệm để cho gia cầm chết, cá chết…! Ông Trưởng Trại (Út Nhân) đè đánh chúng tôi không thương tiếc! Bắt chúng tôi nằm sấp xuống như cha mẹ đánh con! Lấy gót giày nện trên lưng, trên đầu, trên cổ chúng tôi, mỗi khi đánh chúng tôi, trên tay ông ta lúc nào cũng cầm cây súng “K. 54”, nếu chúng tôi phản ứng là ông ta bắn ngay! Nằm cho ông ta đánh hết nổi thì thôi…! Bị thương tích ráng đi về phòng, nhờ anh em lấy dầu xoa bóp…!
     
Bị đánh chửi nhiều nhất là các anh Trưởng, phó khu, đội trưởng, toán trưởng (anh Vũ Dương Th.) – trưởng khu đại diện cải tạo, bị đánh nhiều đến nổi chai lỳ…! Anh là giáo sư, mang cấp bậc trung úy quân đội, biệt phái qua ngành giáo dục). Anh bị đánh nhiều là vì tội “vị nể, không quyết tâm động viên tập thể hăng say lao động”. Miệng ông ta lúc nào cũng kêu chúng tôi là những thằng tù, bọn ngụy phản động, bọn tay sai bán nước cho Mỹ... Có lần ông ta dẫn đứa con trai khoảng mười tuổi vào trại chơi. Đứa con thấy chúng tôi – nó cũng kêu chúng tôi là “thằng tù”! Dạy cho đứa bé lòng thù hận như vậy thật là khủng khiếp…! Trời nắng hạn nhiều ngày… Ông trưởng trại (Út Nhân) rút súng, bắn ba phát lên trời, nói: ”Tao bắn vỡ sọ thằng giặc trời, vì tội mầy không làm mưa…”! Phần nhiều các anh em trong các đội ngành nghề chuyên môn làm ra sản phẩm ít nhiều đều bị Trưởng Trại đánh và kỷ luật. Trại vì lợi nhuận và để báo cáo chỉ tiêu với cấp trên…, cuối cùng là quyền lợi cá nhân để được thăng chức…! Cho nên chúng tôi như những “con cá nằm trên thớt!’ – muốn đánh, muốn giết lúc nào cũng được…!
     
Gia súc, gia cầm chỉ có bò là ít bị bệnh. Ngoài ra, như: Heo, thỏ, vịt, gà…thường xuyên bị bệnh vì nuôi quá nhiều mà thuốc men lại thiếu thốn đủ thứ. Hoặc thời tiết thay đổi mưa nắng gió chướng bất thường… Sau một đêm ngủ dậy những anh chị em phụ trách đội chăn nuôi sợ toát mồ hôi hột khi thấy gia cầm, gia súc chết… Trại sẽ ghép tội phá hoại…! Sau đó là biệt giam, đánh đập là điều không thể tránh được…! Đội nuôi gia súc còn chịu trách nhiệm cái máy xay thực phẩm cho gia súc. Xay cỏ dinh dưỡng và các loại ngũ cốc …

ĐỘI ĐI RỪNG LẤY GỖ:
     
Tất cả những công trình xây dựng tại trại K4 đều có dính dáng đến gỗ… Toán đi rừng lấy gỗ gồm có mười hai người. (trong mười hai người nầy luôn thay đổi…). Anh Trần bội C làm trưởng toán, anh Ngô B, anh Đoàn văn H, anh Phan văn Th, anh Nguyễn văn Kh, anh Đinh văn T, Nguyễn Viết L. (Anh Nguyễn Viết L… Anh là Thiếu úy… Anh là tay đờn guitar, văn nghệ mỗi khi có dịp lễ tết… trại cho tổ chức ca hát…), và nhiều người khác thay phiên nhau đi rừng lấy gỗ… Trong đội đi rừng lấy gỗ đó có tôi. Tôi là người trụ lâu ở trong đội… Đội đi rừng phải trẻ và có sức khoẻ! Tuổi đời toán lấy gỗ trung bình hai mươi lăm, hai mươi tám tuổi, cao đều nhau… Hằng ngày chúng tôi lên xe be vào rừng… Rừng lấy gỗ là rừng Bàu Cối – Suối Nho, rừng chạy dài giáp ranh với tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng. Đường xe be đi lấy gỗ sình lầy và rất xấu, bởi chạy vô xã Bình Lộc và quanh co trong rẫy của người dân. Trưởng Trại đích thân huy động ba trăm cải tạo viên vào san đồi, bạt núi, bắt cầu làm đường hằng tháng… Khổ nhất là mùa mưa; mưa miền đông – mưa rừng dai dẳng lại thêm ve, vắt, muỗi, mòng, lạnh lùng, đói khổ!... Xe chở cây gỗ chạy qua, đường chỗ nào lún sụt, mọi người lập tức chặt cây, khiên đá san bằng cho đến khi con đường hoàn thiện và thường xuyên tu bổ. Mùa mưa có khi xe chở gỗ trên đường về sa lầy, mười hai anh em chúng tôi bất kể mưa to, gió lớn… – bằng mọi cách tìm đá, tìm cành cây, cỏ…, độn xuống đường và xúm nhau đầy cho xe be qua chỗ sình… Chúng tôi về tới trại có khi – đã là – mười một, mười hai giờ đêm, đói khác lã người…
 
Tư thế để nâng một khúc gỗ nặng lên vai để chuyển lên xe be, gồm: Sau khi đã dọn đường tới chỗ súc gỗ… Hai người đứng ở hai đầu khúc gỗ, đối mặt nhau, cúi xuống choàng tay ôm đầu khúc gỗ. Mười người còn lại, chia làm hai đứng hai bên đưa hai bàn tay bấu vô khúc gỗ… Một trong hai người ở hai đầu khúc gỗ - Hô lên: Một… Mọi người nâng khúc gỗ tựa trên đùi của hai người đứng ở hai đầu đang xuống tấn làm trụ. Mọi người không được rời tay… Đó là nhịp một. Nhịp hai. Hô lên: Hai… Mọi người cùng nhau nâng khúc gỗ lên vai… Kể thì chậm, nhưng những thao tác đó, chúng tôi làm rất nhanh, gọn lẹ chỉ trong vòng vài ba giây đồng hồ…
 
Có một lần khi nâng khúc gỗ lên vai và chuẩn bị di chuyển… Tôi đứng phía sau, tôi thấy một con rắn nhỏ - cuộn tròn ở trong bộng cây… Tôi mà la lên là anh em hoảng sợ, và… quăng khúc gỗ... Tai nạn ắt sẽ xảy ra… Tôi chỉ nói “đi nhanh lên chút an hem ơi…”. Khúc cây lên xe be xong… Tôi mới chỉ cho anh em thấy con rắn…
 
Trên đường về trại tù, chúng tôi nhìn những ngọn đèn dầu tù mù le lói hắt ra từ trong căn nhà lụp xụp của người dân mà thương nhớ: cha mẹ, vợ con… – tới tan nát cõi lòng…! Bất chợt từng giọt nước mắt hòa với nước mưa lăn tròn trên gò má - lành lạnh… - nong nóng… - mới biết rằng đã khóc… Mỗi người đi rừng chúng tôi ngồi trên các súc gỗ - xe chạy ngủa nghiêng, mấy cành cây hai bên đường quất vô thân đau điếng; mỗi người trong chúng tôi lặng im theo đuổi ý nghĩ của riêng mình… Không ai nói với ai một lời nào, chúng tôi nhau đối thoại câm…! 
     
Năm 1982, trại thả một đợt khoảng 140 người, trong đó có tôi. Ông Trưởng Trại nói:
 
“Đợt nầy xét thả về nhiều, trong số các anh đã giác ngộ đường lối, chính sách khoan hồng của cách mạng – trước sau như một - tha chết cho các anh. Đa số các anh được trả quyền công dân tại chỗ. Tuy nhiên, các anh kèm cặp thêm 300 người nữa sửa sang con đường đi lấy gỗ trong Bàu Cối… Thời gian một tháng, khi làm xong con đường thì chúng ta dự tiệc liên hoan chia tay! Hôm qua các anh là kẻ thù, hôm nay các anh là bạn!”.
 
Bảy năm chịu đựng còn được, huống hồ một tháng – Anh em chúng tôi đều nghĩ như vậy nhưng không dám nói ra.
     
Trại ra lệnh phá rừng không thương tiếc. Ban đầu rừng còn nhiều gỗ nên chọn lựa cây gỗ lớn khai thác… Dần dần rừng cạn kiệt phải đi xa nên cây lớn nhỏ, tốt xấu đều cưa sạch! Nhất là cưa gom cho đủ hàng nghìn cây cọc cây căm xe, để trồng hàng nghìn cọc tiêu, cũng như hàng chục ngàn khối gỗ làm củi cho trại nấu ăn. Để tiết kiệm xăng dầu Ông Trưởng Trại không cho cần cẩu dùng dây cáp kéo gỗ súc lên xe, ngoại trừ những súc nào qúa nặng hay ở lưng chừng sườn đồi. Hầu hết số gỗ, đội đi rừng đều chuyển lên xe bằng cách khiên trên vai. Sợ nhất là trời mưa cây trơn và đường cũng trơn!
     
Khi đội chúng tôi tìm được cây và đốn hạ xong, chúng tôi phải dọn đường cho xe chạy vào, có khi phải dọn hàng hai ba trăm thước. Địa hình bằng phẳng xe “dze” đến tận nơi. Còn nền đất yếu, sình lầy chúng tôi phải khiên ra xe. Áo quần toán đi rừng rách bươn, vá chằng chịt bằng vải bao cát, không có giày, mang dép “râu” là chính, mỗi khi khiên súc gỗ lên xe không được mang dép, sợ vướng vấp té, bị gỗ đè. Qúa cực khổ, tôi và anh Đoàn văn H…, lợi dụng trong lúc đi tìm cây, đã bỏ trốn nhưng không thoát được. Sau nầy anh Đoàn Văn H cùng anh Hồ Phát Ph. – anh Hồ Phát P làm ở tổ anh nuôi, anh chuẩn bị lương thực chúng hai thằng tôi trốn một lần nữa nhưng cũng không thoát. Lần nào ló đầu ra cũng gặp bộ đội… May mà không bị lộ diện. Rừng là “rừng vàng…!” nên chặt phá không thương tiếc. Nhiều khi chúng tôi nghĩ: (Chính tù cải tạo mới là người trực tiếp phá rừng – phá khủng khiếp…) Phá rừng còn được thưởng “lao động tốt”…!
      
ĐỘI MỘC & ĐIÊU KHẮC:
      
Đội thợ mộc… Với hàng trăm thợ mộc “cải tạo viên”, ngày đêm làm ra những sản phẩm, như: Di văng, Tủ, Tủ thờ, Ván bộ, giường, sa lon, bàn ghế các loại, khung sườn nhà, các loại khung cửa và các loại cửa, các loại ván sàn, ván đóng vách... Ngoài ra còn làm các công trình khách sạn, nhà thăm nuôi, các loại nhà kho, bãi, nhà giam cho những cải tạo viên bị kỷ luật, chuồng, trại, văn phòng, nhà của, trong và ngoài trại… Đặc biệt làm một cái Hội Trường lớn chứa hơn hai nghìn người có đầy đủ ghế ngồi dựa và một sân khấu, làm hàng trăm sạp ván tập thể, có chỗ cho “cải tạo viên” nằm ngủ nghỉ… Có thể nói đội thợ mộc là đội có công rất lớn trong việc xây dựng trại K.4 về mặt công trình nguy nga, tráng lệ…! Trong bài nầy tôi chỉ nói sơ qua để nhớ lại bao công sức của anh em cải tạo…!
     
Những tác phẩm điêu khắc gỗ tuyệt đẹp được làm ra từ đôi tay tù cải tạo như: Tượng Bác Hồ, Lê Nin, Các Mác, Mao trạch Đông, những anh hùng cách mạng… Những vật điêu khắc do tù cải tạo làm ra… Trại cho mở một gian hàng ở ngoài nhà thủy tạ để bán cho du khách như là hàng kỷ niệm ở trại tù K4… Người đội trưởng có đôi tay tài hoa đó chính là anh Lê Quang Nh… Người làm ra sản phẩm, đứng nhìn trong nuối tiếc, nuối tiếc tài năng và công lao của chính mình!
     
Đội nầy thường xuyên bị ban chỉ huy trại trù đập, là vì thường khi những vị khách đặt hàng mộc quá gấp làm không kịp. Vậy là bị chửi rủa…! Nhiều khi làm không giống mẫu của khách hàng - khách hàng chê bai, lại càng bị kỷ luật và chửi rủa.... Có lần nhìn cái tượng của “ông bác” sao hao hao…, trông giống như ông: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Thế là bị đánh đập… Đánh xong lôi vào chuồng bò, nhà đá cùm hai chân tay, cho ăn đói, uống khát…! Sản phẩm làm ra bị khách hàng chê hoặc hư, bị ghép tội phá hoại tài sản “XHCN”! Công trình để đời của đội mộc là làm một cái hội trường dài 70×30 mét, trang bị bàn ghế đủ cho hai ngàn chỗ ngồi và một cái sân khấu rất tráng lệ. Chung quanh trồng cây kiểng và những cây xoài tứ quý cho trái trĩu cành…
     
ĐỘI CƯA DÂY:
      
Đội cưa dây, có hai máy cưa dây. Đội cưa dây - xẻ gỗ súc do đội đi rừng chuyển về… Đội xẻ ra – gỗ, ván các loại. Khi như cầu cấp bách đội cưa làm hết công xuất. Ban ngày xẻ không kịp, thì thay nhau làm ca đêm... Đội cưa xẻ, bị trưởng trại Út Nhân đánh chửi là chuyện thường với những lý do như: Mảnh đạn trong thân cây làm đứt lưỡi cưa, xẻ ra gỗ không đủ yêu cầu; sai quy cách; không tận dụng lấy hết gỗ, chừa ván bìa quá nhiều… Những súc gỗ nặng nề phải dùng sức người đưa vào đường ray rất là cực nhọc… Máy cưa loại cũ thường trục trặc, thiếu phụ tùng thay thế; lưỡi cưa tận dụng nhiều lần nóng, đứt… Trong khi chỉ tiêu lúc nào cũng bắt buộc phải hoàn thành! Tai nạn trong khi cưa xẻ gỗ luôn xảy ra… Nhưng thuốc men cũng chỉ có “xuyên-tâm-liên” mà thôi!
     
Quang cảnh ở đội cưa dây vui nhất là khi toán đi rừng về. Mười hai người chúng tôi mỗi người đều có mang về một bó củi lớn và một bao cải rừng – cải tàu bay, lá dang… Khi thấy xe be về là anh em nhào ra phụ chuyển và chia chác rau tàu bay… Số còn lại không quen biết, hay không có phần thì chờ xe be xuống hết gỗ là xúm nhau lại róc vỏ cây đem về phơi khô làm củi nấu nướng. Chỉ một loáng là các súc gỗ đều “ở trần”!
      
ĐỘI CHẺ ĐÁ & ĐỘI ĐÀO GIẾNG:
      
Trong trại. Các công trình xây dựng đều xử dụng đá… Chẻ đá theo theo quy cách các cỡ để làm móng nhà, làm “taluy” đường, lối đi… Làm bồn bông trong công viên, làm cổng, xây thành giếng, xây hàng rào… Đá phải đặt theo yêu cầu và đẽo gọt bằng phẳng, đúng góc cạnh. ..Cổng trại K.4 xây không dùng ciment, chỉ xử dụng những tảng đá chẻ được đẻo gọt theo bản thiết kế của anh Hồ H và là người trực tiếp thi công là anh Đỗ văn B… Dùng cốt sắt câu những tảng đá lại với nhau… Gồm cổng chính cao tám thước tính cả chóp, rộng năm thước, có vòm. Hai lối đi phụ hai bên rộng một thước hai, cao hai thước hai, đều có vòm nhưng thấp hơn, bề dày cổng hai thước… Trời mưa đứng dưới vòm không bị ướt… Số đá chuẩn bị xây cổng là sáu tháng… trong đó có tôi. Số người làm cổng lên đến cả trăm…! Ngày hoàn thành cái cổng, ban Chỉ Huy Trại mời “Các ban ngành đoàn thể trên Tỉnh, Huyện” về làm lễ khánh thành và sau đó là tiệc tùng suốt ngày… Anh em cải tạo làm ra cái cổng nguy nga… thì đứng nhìn…!
     
Đội chẻ đá ở trại K4 làm không ngơi nghỉ; do nhu cầu đá để xây nền móng các công trình nhà trong trại và ngoài trại: Các cơ quan ban nghành trong huyện cũng thường xuyên đặt hàng, kể cả người dân nhu cầu rất nhiều vì đá trong trại “cải tạo” làm đúng quy cách và gọt dũa đẹp. Nhân lực đội chẻ đá trên một trăm người toàn những “cải tạo viên” trẻ, phân nửa thuộc hình sự, (năm 1977 &1978) có “nhân thân” tốt và thường xuyên thăm nuôi đầy đủ... Nếu không có sức lực không thể nào xử dụng hai cây xà beng “tên lửa” nặng đến “bốn mươi chín ký!”. Hằng ngày từng khối đá khổng lồ được nạy lên nặng hàng đôi ba tấn trông phát khiếp…! Người thợ đội trưởng xem thớ đá…, cho người đục lổ mồi, mỗi lổ mồi cách nhau mười lăm phân. Đục lổ nhiều hay ít tùy theo chiều dài của tảng đá, lổ sâu cỡ bốn, năm phân… Không được rộng, phải vừa vặn với kích cỡ cái nêm sắt… Sau khi đã tra nêm và dùng búa tay gõ cho chặt nêm... Sau đó, dùng búa tạ nặng mười ký nện đều đặn trên đầu hàng nêm thật chính xác không được trật búa… Cho đến khi nghe tiếng rắc… tảng đá rã ra làm đôi… Sau đó tuần tự chẻ nhỏ theo từng quy cách đã được quy định… Một số đá theo đơn đặc hàng cỡ lớn, thì phải đẻo gọt bằng phẳng, đúng thước tất và góc cạnh như: Ghế đá, bàn đá trong công viên, vườn hoa, trong sân vườn của những nhà cán bộ, và các cơ quan… Đủ các dạng mẫu mã theo ý thích của khách hàng. Tôi cũng có thời gian ngắn làm trong đội đá… Tôi nhớ hai anh em ruột (Vi Văn N - Vi văn Ph) và một người nữa mà tôi quên tên. Hai anh em họ thuộc thành phần “phản động” chống cách mạng... Số anh em ở Bàu Cá, Bàu Hàm (Trảng Bom)… Họ vô trại K4, đầu năm 1978, khá đông… Tôi và các bạn đó rất thân thiện (sau nầy tôi có gặp lại cả ba - ở Quận 8 Sai Gòn và uống với nhau một bữa rượu…).
     
Đội đào giếng. Đội nầy rất cực… Giếng đào sâu trung bình khoảng chín, tới mười thước hơn, đường kính rộng ba thước, từ trên mặt đất cho đến đáy toàn đá và đá... Người thợ đào giếng phải thay phiên nhau ngồi đục… Thời gian hoàn thành có khi từ hai tháng hoặc hơn là chuyện thường... Đôi khi cứng quá đục không nổi hoặc tốn quá nhiều thời gian. Đề nghị trại đặt chất nổ.
     
Trong suốt thời gian “cải tạo” chúng tôi đều xử dụng nước giếng do chính những người anh em “cải tạo viên” chúng tôi đào… Tai nạn trong nhóm chẻ đá, đào giếng là khá cao do văng nêm sắt vào người; văng miểng dăm đá vào mắt; dập tay, dập chân… Toán đập đá, chẻ đá, cũng bị đánh đập, chửi bới không thua gì những toán khác. Kỷ luật, biệt giam do không hoàn thành chỉ tiêu hàng chục nghìn khối đá bê tông 1×2 cho các hạng mục công trình… Hàng chục triệu viên đá chẻ theo từng quy cách khác nhau cung cấp cho toàn huyện.
      
ĐỘI THỢ RÈN & ĐỘI GÒ – HÀN:
     
Đội nầy, có công rất lớn – rèn để cung cấp một số lượng rất lớn dụng cụ cầm tay lớn nhỏ cho hai nghìn người lao động... Đồng thời liên tục cải tiến mẫu mã càng ngày càng gọn nhẹ và có nhiều tính năng cho sản xuất sản xuất, như: Cuốc các loại, rựa các loại… Dao các loại… Cào các loại… Sạc lay các loại… Liềm các loại… Búa các loại… Đục gỗ các loại, Bào gỗ các loại, Cúp đào đất các loại… Vá, len các loại... Xà beng các loại lớn nhỏ (trong đó có hai cây xà ben nặng 49 ký)! Kéo các loại, Kềm các loại… Các loại nêm chẻ đá, gọt đá... Đỉa đóng gỗ các loại cho xưởng cưa và đội đi rừng…  Các loại đinh cho trại mộc… Đặc biệt là rèn các loại cùm chữ “U”, lớn nhỏ, để cùm chân người tù tù cải tạo. Rèn các loại dây xích dài ngắn để xiềng tay người tù cải tạo...!!!
     
Làm khung nhà tiền chế, các loại xe đẩy tay... Gò, hàn các loại ống máng xối… Các loại xô thùng gánh nước, đựng nước...Các loại nồi áp xuất, nồi áp suất chưng cất dầu... Sản phẩm làm ra cung cấp cho trại và bán cho các đơn vị tập đoàn sản xuất trong huyện… Đội trưởng là anh Bùi viết N… Tay nghề rèn của anh rất giỏi! Để có đủ sắt thép làm ra sản phẩm, đội phải đi lùng sục các nơi trong vùng… Đôi khi còn nguy hiểm đến tính mạng do đào những công sự chiến đấu cũ… Đội nầy cũng đem lại nguồn lợi nhuận to lớn cho trại… Nhưng ban Chỉ Huy Trại vẫn bắt anh Buì viết N…, nhốt như thường vì không cung cấp đủ đồ rèn, đồ hàn cho khách.
     
ĐỘI XẮT THUỐC LÁ:
    
Thuốc lá trồng chung với đậu nành. Cuối mùa mưa là bắt đầu thu hoạch từng đợt lá thuốc đem về ủ cho lá trở thành màu vàng... Đội xắt thuốc hầu hết là “cải tạo viên”. Người ở trong đội nầy hầu hết vô trại – đầu năm 1977, 1978, 1979. Họ đa số ở vùng Phương Lâm – Định Quán – Lâm Đồng – Cây gáo – Bàu Hàm – Hưng Lộc – Trảng Bom… đảm nhận. Ban đêm xắt và trải thuốc ra vỉ tre, ban ngày có toán khác trông coi phơi nắng, phơi sương, khi nào khô dùng báo cũ “báo nhân dân” gói thành từng cây; mỗi cây trung bình một ký.
     
Đến mùa xắt thuốc, đội nầy hầu hết làm ban đêm. Cho nên ưu tiên “bồi dưỡng” nhiều, như: Khẩu phần ăn gấp ba gồm: Thỏ, cá gà, trái cây… Đội xắc thuốc được ban Chỉ Huy Trại rất…”cưng chìu”! Cưng chìu…, chẳng qua là ông ta khoái hút thuốc rê, và lợi nhuận mang về cho trại qúa lớn…! Thời gian nầy, tôi làm Khu Phó phụ trách hậu cần… Phiếu duyệt thực phẩm mỗi đêm cho các đội làm đêm, thường thì tôi báo số lương người và đề nghị số lượng thực phẩm của mỗi đội cho trưởng trại Út Nhân… Trưởng trại Út Nhân duyệt và ký… Người liên lạc viên chuyển xuống văn phòng hậu cần... Tôi căn cứ theo đó mà cung cấp “bồi dưỡng” cho anh chị em làm đêm. Tuy nhiên, thực phẩm cấp lúc nào cũng theo “tiêu chuẩn”, ít ỏi… Tôi uyển chuyển tìm mọi cách cung cấp thêm cho các đội… Trưởng trại có biết, nhưng ông ta làm ngơ…
     
Thuốc lá thành phẩm được phân chia làm - ba loại và loại cuối cùng là thuốc đọt. Loại thuốc đọt trại “phân phối” cho anh em cải tạo viên với giá thấp hơn một chút… Mỗi mùa trại “thâu hoạch” trung bình hàng chục tấn thuốc rê… Khi hết mùa xắt thuốc, đội trở về chuẩn bị vụ mùa sau: Làm vườn, ươm cây giống…       
    
TỔ Y TẾ & ĐỘI TRỒNG CÂY THUỐC NAM:
       
Tổ y tế hằng ngày khám bệnh: Có toàn quyền phê cho người bịnh làm việc nhẹ hay nghỉ dưỡng tại Trạm Xá. Có toàn quyền đề nghị trại chuyển người bịnh nặng ra bệnh viện Huyện, cũng như đề nghi Trại cho thân nhân người bịnh được gửi thuốc vào chữa trị.
     
Đội trồng cây thuốc nam – trồng các loại cây thuốc do trại chỉ định và thâu hoạch, bằm nhỏ vô bao để ở trạm xá chữa bệnh cho cải tạo viên… Phần nhiều là “cây xuyên-tâm-liên” xay nhuyễn ép lại thành từng viên, đó là thuốc trị “bá bịnh!”… Ban Chỉ Huy Trại ra lệnh trồng cây bạc hà chưng cất lấy tinh dầu. Tinh dầu chủ yếu, bán cho mỗi người cải tạo viên (10 cc) để chữa cảm cúm; sưng trặc trong lúc lao động… Nếu muốn mua gửi về cho gia đình trong dịp thăm nuôi trại cũng cho phép bán. Đội trồng thuốc nam trực thuộc tổ y tế. Đội nầy ít bị ban Chỉ Huy Trại hỏi thăm “sức khỏe”! Anh Đoàn T và anh Nguyễn Ngọc Xuân, làm ở đội nầy. Tôi thường được hai anh cho ca nước nấu bằng rễ tranh, rễ mã đề nấu với mía lau. Coi như “bồi dưỡng”! Tôi cũng nhớ và mang ơn, hồi còn bên khu A. Năm 1976. Thiếu Tá Quân Y, Mã Thạnh Truy Ph…, chích cho tôi một mũi thuốc đau lưng, (thuốc riêng của BS), nhờ đó mà tôi đi lại lao động được cho đến ngày được ra tù.
 
Trong đội, tôi mến hai anh Đoàn Tr. Và anh Nguyễn Ngọc Xuân. Anh Xuân là Xã Trưởng, người Quảng Nam. (Con gái của anh là giáo viên, sau nầy cô giáo (con anh) là mẹ đỡ đầu rửa tội cho con gái của tôi). Anh Đoàn Tr. Và anh Đặng Ngọc Xuân là người cùng xã với tôi… Chân anh “bị liệt”, cho nên trong thời gian cải tạo gần bảy năm, anh đi đâu, anh làm gì – lúc nào anh cũng chống cây nạng… Vậy mà, ngày ra khỏi cổng trại tù, anh quăng cây nạng như chưa hề bị liệt… Anh đi thẳng một mạch như người bình thường. Tôi khâm phục “tài” của anh vô cùng…
 
Đội Y Tế, chuyển “cải tạo viên” bị thương nặng trong lao động ra Bịnh Viện Long Khánh. Cải tạo viên bị thương vẫn phải bị cùm chữ U vô chân, cùm dính nhau với chân giường của Bịnh Viện…
      
ĐỘI TRỒNG TIÊU & ĐỘI TRỒNG NHO:
     
Đội nầy, trồng hàng nghìn cây nọc tiêu bằng trụ cây căm xe, trồng dây tiêu không phải là chuyện đơn giản bởi đất bên dưới toàn đá ông.... Phải dùng xà ben lớn, búa và đục sắt, đào lỗ đường kính một thước, sâu một thước. Trồng trụ xong, nhặt cho hết đá ong lớn nhỏ đem ra xây bờ thành, sau đó làm gờ chung quanh, đổ phân chuồng xuống lấp đất tưới nước, khoảng một tuần sau là xuống dây tiêu giống; tiêu giống được tuyển và ươm từ trước… Do được chăm bón tận tình và đúng kỹ thuật canh nông nên dây tiêu phát triển rất nhanh. Chung quanh vườn tiêu trồng những hàng cây chuối, cây vông hoặc so đũa để chắn gió. Hằng năm thâu hoạch từ bốn đến năm tấn tiêu, đem lại cho trại nguồn tài chánh rất lớn.
     
Đất trồng nho cũng như đất trồng tiêu, phải nhặt hết đá ong lớn nhỏ, đào lỗ bón phân, sau đó làm giàn cho dây nho leo lên… Dây nho giống từ “Phan Rang – Đà Lạt” chuyển về. Làm giàn cho bốn mẫu nho ngốn một lượng gỗ khủng khiếp…! Trồng nho tốn rất nhiều công sức chăm nom, bắt sâu, tỉa lá, tỉa cành… Công phu chăm bón, gấp nhiều lần trồng tiêu và thuốc lá, nhưng không đem laị hiệu qủa kinh tế nhiều bằng tiêu và thuốc lá… Nhưng ban chỉ huy trại cho đó là “thành qủa” to lớn để báo cáo lấy điểm với tỉnh; với trung ương để được lên chức… Nho thâu hoạch để xử dụng cho nhà hàng trại, cho cán bộ và làm qùa tặng cho quan khách cao cấp trên tỉnh; các cơ quan, đoàn thể trong huyện… Đội trồng tiêu & nho coi bộ không bị trưởng trại soi mói, hành hạ…!
      
ĐỘI TRỒNG & CHĂM SÓC CÂY CẢNH:
     
Cảnh đẹp ở trai K.4, phải nói là do bàn tay của đội trồng cây cảnh… Nhiều đoàn du khách vào thăm trại K4 hằng ngày đều trầm trồ khen ngợi thành qủa do người tù khổ sai làm ra…! Đội trồng & chăm sóc cây cảnh - thường xuyên tiếp xúc (bằng mắt) với du khách… Nhưng phải lầm lỳ, im lặng mà làm phận việc của mình; dù những người du khách có gợi chuyện cũng nín thinh hoặc tránh đi chỗ khác… Họ có gợi ý nói chuyện, như: “Khen giàn hoa lan đẹp, bông thược dược đủ màu đẹp; hoa huớng dương hoặc từ những cái cây làm sao uốn thành con nai, con rồng trông rất đẹp? Kỹ thuật làm như thế nào”? Người tù vẫn làm thinh không được trả lời. Đôi khi họ làm như vô tình làm rơi… bao thuốc lá, vài ba cây kẹo… Khi họ đi rồi thì lượm lên đem giao nộp cho quản giáo, họ đứng nhìn chăm bẳm ở gần đâu đó. Nếu lấy bỏ túi mà bắt gặp coi như “tiêu đời”! Đập cho mấy cái, còng tay, bịt mắt dẫn về tống vô nhà đá cho ăn đói, cho rệp cắn thoải mái…! Chân bị cùm hai cái “U”! Ít nhất cũng vài tháng! Khi được thả, thân thể tong teo, đi không nổi; ghẻ lở đầy người…
     
Nhiều người dân nhìn chúng tôi với ánh mắt thiện cảm! Nhưng chỉ biết nhìn, nếu cho đồ và lân la đến hỏi thăm sẽ bị bắt nhốt và ghép tội thông đồng với tù âm mưu giải thoát trốn trại cũng như trao đổi tài liệu phản động.
     
Hầu hết các đội đi lao động, buổi chiều phải về trại… Hằng ngày, buổi sáng chúng tôi đi từ khu A ra khu B, lao động phải băng ngang quốc Lộ 1. Đoàn người tù cải tạo đi lao động gồm sáu, bảy trăm người di chuyển hai hàng… Trên vai mang phần ăn trưa, nước uống, lại còn phải mang thêm đủ thứ dụng cụ: cuốc, xẻng, xà ben, thùng xô, phân bón, cây gỗ, và những thùng phân người cho cá ăn… Chiều về, ngoài dụng cụ mang đi buổi sáng phải mang về. Còn phải gồng gánh nông sản “thu gom”, như: Chuối, lúa, khoai, lá thuốc, bắp đậu, rau…(Ngoại trừ vài ba đội chuyên môn họ ở lại). Mỗi lần băng ngang QL 1 đều có công an quản giáo đứng chặn xe ở hai đầu đường.
 
Một hôm chúng tôi vừa ra khỏi cổng đã thấy (bốn đứa bé) mặt mày lem luốt, quần aó sơ sài, trông ốm yếu…! Đứa chị gái lớn khoảng mười hai tuổi ẵm đứa em nhỏ, còn hai đứa kế đứng co ro trông thật tội nghiệp! Khi tôi đi qua chừng năm thước. Tôi nghe tiếng con trẻ, kêu giật giọng: “Ba ơi…! Ba ơi…! Ba…! Ba…! Ba… Mẹ đi nửa tháng nay không về con và nội đói lắm ba ơi…!”. Tôi nhìn lại và thấy một cải tạo viên bước ra khỏi hàng định chạy đến với mấy đứa trẻ… Nhưng người công an dùng bản súng đẩy anh “cải tạo viên” ấy trở lại hàng, và “đoàn quân” vẫn tiếp tục di chuyển xem như không có gì xảy ra…
     
Sau nầy, tôi được biết – đó là bốn đứa con của anh Nguyễn H, nhà anh ở ngã ba Bảo Chánh, cách trại K4 khoảng hai mươi cây số… Anh ấy rất buồn và những ngày sau đó trông anh như người mất hồn…! Nghĩ lại bản thân cùng chung cảnh ngộ, mà chúng tôi bùi ngùi, xót xa…! Các con anh còn đến năm ba lần nữa, đứng chờ nơi cổng, để được nhìn thấy cha là anh Nguyễn H..! Nhưng mấy cháu nhỏ không dám kêu ba như lần trước vì… sợ công an quản giáo! Cho đến một ngày được thăm nuôi, chúng tôi thấy một cụ gìa lọm khọm dẫn bốn đứa cháu đến thăm anh –  Mấy bà cháu không có gì để cho anh! Vợ anh đã bỏ lại bầy con, bỏ anh mà không biết đi đâu…?
       
ĐỘI CHỀ BIẾN PHÂN:
     
Đội nầy gồm những “cải tạo viên” gìa, yếu không đủ sức làm việc nặng… Họ không ngại hôi thối, hằng ngày họ gom rơm, rạ, dây đậu các loại, rác đốt lấy tro – cộng với tro nhà bếp đem ủ với phân bò, phân thỏ, phân heo, phân gà, phân “cải tạo viên” thải ra mỗi ngày... (Trừ mười thùng phân người hằng ngày bắt buộc phải đem ra khu B cho cá tra ăn), số còn lại đem ủ… Sau đó trải ra phơi gió cho khô rồi vô bao. Nhu cầu phân bón rất lớn, nhất là đầu vụ mùa, đội chế biến phân rất cực nhọc, phần vì sức khỏe kém, – ban chỉ huy trại không cho dùng những người khoẻ vào đội chế biến phân. Hơn nữa, suốt ngày ngửi mùi phân tươi các loại và bụi phân khô mà không có “khẩu trang” che miệng. Năm 1976, tôi làm trưởng tổ phân tươi. Hằng ngày lấy phân tươi trực tiếp từ hầm cầu đem ngâm trong thùng phuy cắt ra làm đôi. Vài ngày sau quậy lên đem đi tưới rau…
     
Nước tiểu ngâm trong bồn để riêng cho đội trồng rau xanh xử dụng tưới rau… Sau nầy tôi nhận nhiệm vụ khác… Tổ phân tôi bàn giao lại cho Bác Goang, Bác là người miền Bắc di cư vô Nam năm 1954. Bác làm đội trưởng đội phân cho tới ngày bác rời trại.. . Bác nói chuyện với tôi mà gần như tâm sự: “Ngày trước ở ngoài Bắc, bác cũng bị đi “cải tạo” ba năm, cũng làm ở trong tổ phân… Hằng ngay phải đội những thúng phân trên đầu, nước rỉ chảy xuống mặt… Đội riết rồi cũng quen... Năm 1954 di cư vô nam – tưởng thoát nạn, đâu ngờ trở lại “nghề cũ”! Bác Gioang, còn nói với tôi, rằng: “CS vô nhân lắm, tụi mình rồi đây có trở về cũng chết, tình hình mà có biến động là tụi nó giết chúng mình trước. Ở ngoài Bắc cũng vậy. Bọn chúng bắt rồi thả ra, rồi bắt lại…”. Trại tận dụng tối đa, không bỏ sót một chút gì trong thân thể người tù. Nói trắng ra – là thải chất thải trong người ra và chừng một tuần lễ sau là ăn lại chất thải của chính mình thải ra,đó là rau… – rau cải xanh các loại.
      
ĐỘI RAU XANH:
      
Đội rau xanh. Trại gọi đội rau xanh là đội làm “việc nhẹ” nội khu. Đội rau xanh thâm canh trên khoảng hai mẫu đất... Xử dụng nhân lực toàn – phụ nữ, người già, yếu, người bị bịnh nhẹ; người bị thương trong lúc lao động nhưng còn đi đứng được. Đội trồng rau, trồng đủ các loại rau: Bắp cải, cải bẹ xanh, cải cay, cải ngọt, cải xà lách, củ cải, dưa leo, dưa chuột, cà tím, cà đỉa, khổ qua, rau dềnh, mồng tơi, đậu đũa, đậu cove, đậu rồng, đậu ván, đậu bắp, cây môn, rau mống và các loại rau thơm, hành, tỏi… Do thâm canh nên rau cải luôn phủ đầy mặt đất… Nước tưới kéo từ giếng lên; cải tạo viên, đào nhiều giếng, luôn cung cấp đủ nước tưới... Riêng ở khu B trồng hàng chục ngàn cây ớt các loại… Rau xanh cung cấp bữa ăn cho trại… Nhưng, đa số là bán cho những người buôn bán rau ngoài chợ (Thị Trấn Long Khánh) họ vào cân sĩ… Đội rau xanh đem lại lợi nhuận cho trại rất nhiều… Nhân lực thường xuyên ở đội rau xanh là các chị em; các chị em hằng ngày bắt sâu, làm cỏ, bón phân, che nắng những luống rau mới trồng, bầu cây con… Nhiều khi thiếu lao động nam, các chị em cũng phụ kéo nước từ giếng lên… Trông mà thương quá!
    
Ở tù đã khổ, nhưng với phụ nữ lại càng khổ sở gấp nhiều lần nam giới. Nước tắm không sạch, nên gây viêm nhiễm, ghẻ lở vùng kín... Quần áo thiếu thốn, nhất là (bông băng…, nội y). Thức ăn độn quá nhiều và ăn lâu dài khiến cho các chị em sinh bệnh huyết trắng… Biết sự việc như vậy, các “cải tạo viên” nam đồng ý gánh ăn độn thêm chút nữa, để nhường phần cơm ít ỏi cho… “phái đẹp”! Một phong cách thể hiện đầy nam tính, dù đang ở trong tù và cũng đói khác như nhau… Phần nhiều những chị em phạm tội đại nghịch là “vượt biên”, chạy theo đế quốc Mỹ, nên bị ghép tội là: “phản quốc”… Tội nầy cũng không thua gì tội làm “tay sai, bán nước” như chúng tôi. Đôi khi nhìn các chị lao động nhọc nhằn, phần thương nhớ chồng con, mà cảm thấy như có một phần lỗi lầm do chính mình gây ra…!
 
Tôi cũng có tham gia đội trồng rau ở phía “nội khu”… Tôi phụ trách vườn trồng khổ qua, khổ qua trồng theo hàng có căm cây trụ (chói), cao ngang đầu… Khu vực trồng khổ qua giáp với con đường đi vô ấp Đoàn Kết, phần nhiều trồng chuối. Ngày mồng hai tết năm 1976, tôi xách thùng đi tưới… Tôi nghe ai đó ở ngoài đường quăng vô một cái bịch nhỏ… Tôi len lén ngó lên chòi canh, không thấy công an… Tôi lom khom bò lại hàng rào (thời gian nầy chưa làm hàng rào bằng đá). Tôi thấy dáng một người phụ nữ, ngó vô trại… Tôi mở cái bịch… Bên trong có một đòn bánh tét dài cỡ - hơn ba tấc tây, vòng tròn to như cái chén ăn cơm… Nhìn đòn bánh, tôi biết người phụ nữ (cho đòn bánh), là người miền Trung. Tôi bỏ đòn bánh vô thùng, phủ một ít lá khổ qua bên trên che lại. (Thời gian nầy trại chưa cho thăm nuôi). Trong phòng gồm mười người. Tôi còn nhớ tên vài anh, là: Anh Nguyễn Văn Kh, Đổ Văn B, Bạch Thanh Tr, Phan Quang K,… Tất cả anh em trong phòng im lặng “họp kín” với nhau để (phi tang) đòn bánh tét cho nhanh gọn (lúc nầy chưa có ăng ten). Vậy là chúng tôi thề với nhau – không được tiết lộ… Đòn bánh chia ra làm mười. Chúng tôi, mỗi người ăn ngấu, ăn nghiến đoạn bánh tét… Tôi gom lá gói bánh đem ra chỗ trồng khổ qua đào lổ chôn kín.
 
Một bữa trên trại có đoàn nghệ sĩ tới ca hát cho anh chị em chiến sĩ công an quản giáo của trại xem… Tôi được biết có nhạc sĩ Duy Khánh ở trong đoàn… Trại ra lệnh cho tổ rau xanh gánh nước giếng chứa đầy trong các thùng phuy để cho người trong đoàn ca nhạc xử dụng… Tôi và một vài anh em trong đội đi gánh nước tới nhà bếp trại. Gánh xong đi về, có một anh công an quăng một miếng cơm cháy. (Tôi rất ghét ăn cơm cháy dù đói rã người). Tôi lấy chân đá miếng cơm cháy trở lại… Vậy là mấy anh kêu lại và đánh tôi… Đánh tù “cải tạo” rất dễ đánh mà.  
      
ĐỘI PHƠI PHONG & BẢO QUẢN:
      
Đội nầy, xem như đội “quản gia”… Làm không ngớt việc. Hằng ngày phơi lúa, rê cho sạch lúa lép, đập tách hạt đậu nành, đậu xanh, bắp, khoai, sắn, đậu phộng, chuối… - sàng sảy phân loại ngũ cốc ra từng loại vô bao chuyển vào kho, phơi cà phê… Nhưng sợ nhất là phơi ớt khô và đâm nhuyễn ớt khô làm bột…! Những ngày mưa, đội rất khổ! Mưa dầm, nông sản thâu hoạch về phải đốt lửa sấy, thức đêm, thức hôm làm không ngơi tay…, đã vậy còn bị đánh đập, chửi rủa! Ghép tội phá hoại tài sản “XHCN”, nếu nông sản bị hư mốc… Nông sản phơi ngoài sân phơi, đội phải cắt người trông chừng, ăn uống tại chỗ, nhìn trời chuyển mưa là đánh kẻng báo động cho những đội khác làm gần chạy tới tiếp ứng! “Tăng cường – tiếp ứng” là chuyện thường xuyên… Đôi khi những đội đi làm xa vừa về đến nơi nghe tiếng kẻng báo động…, thì lập tức chạy đến tiếp ứng… Không những chuyện phơi phong; tất cả mọi ngành nghề khi đến mùa vụ đều phải có nhu cầu tiếp ứng mới làm kịp. Ngoại trừ ngành nghề kỹ thuật. Sau khi bớt công việc đội nào về đội nấy… Thành thật mà nói, đội phơi phong và bảo quản rất cực vì giờ giấc không bao giờ được ổn định. Đương ăn, đương ngủ nhưng khi nghe tiếng kẻng giục giã là tung người chạy ra sân nhận nông sản chuyển về và “xử lý”. Mệt mà không được nghỉ bù! Đôi khi điều động nhân sự hai ba trăm người là chuyện thường.
     
Nói đến đánh kẻng. Toàn trại K4 dù người ra đi hay ở lại đều nhớ Anh Nguyễn Ngọc A. Anh dáng người cao, nhưng ốm yếu, tính tình ít nói nhưng vui vẻ, hiền lành nên anh em mến. Anh phụ trách đánh kẻng trong nhiều năm bất kể mưa gió! Khi nhận được lệnh, thấy anh cầm cái dùi sắt đi lơn tơn ra chòi canh, có khi vội vội, vàng vàng là biết có chuyện gì sắp xảy ra…
Tôi và các anh chị em luôn ám ảnh bởi tiếng kẻng…!
      
TỔ ANH NUÔI:
     
Tổ anh nuôi, lúc đầu có tới hai mươi người. Thường gọi là: đội nhà bếp cũng được. Chúng tôi thường gọi là đội (cân, đo, đong, đếm…), bởi vì chế độ cộng sản bất cứ việc gì cũng có “tiêu chuẩn”... Đội anh nuôi ban đầu có hai mươi người, nhưng sau vì nhu cầu công việc bên ngoài thành ra giảm bớt còn phân nửa, còn lạị mười người. Lo ăn cho trên hai nghìn năm trăm cải tạo viên. Ban đêm còn phải cung cấp phần ăn bồi dưỡng cho các đội làm ca đêm hoặc gánh thức ăn cho hàng trăm “cải tạo viên” bị kỷ luật đang “thụ án” trong hai nhà đá và khu chuồng bò. Hằng tuần, vào ngày thứ hai đầu tuần đẩy xe “cải tiến” theo công an dẫn ra chợ Thị Trấn (Long Khánh) mua cá biển, thịt heo, trứng, muối… đem về kho mặn và phân chia ra làm sáu ngày ăn. Cá nuôi trong các ao cá, ban chỉ huy trại không bao giờ cho vớt lên ăn (?). Còn rau xanh trồng rất nhiều nhưng mỗi bữa ăn chén canh cũng chỉ có nước, loe ngoe một vài lá rau! Thức ăn chính của tù cải tạo là khoai mì lát, bột mì, bắp hạt, bo bo… Tuy đã nấu chín rồi, vẫn phải cân đo đong đếm phân chia ra từng dãy. Đến bữa ăn các dãy cử tổ trực đến tổ anh nuôi nhận về chia lại cho các phòng… Trong phòng tự phân chia đến tay mỗi người. Cuối tuần mới có một bữa cơm, nhưng qúa ít, và đôi khi cũng độn khoai! Mùa mưa càng khổ hơn vì củi thấm nước khó cháy.
     
Tổ trưởng anh nuôi lâu nhất là anh Thái Sĩ Th. Anh Thái Sĩ Th… là người cùng xã với tôi. Anh vốn người Quảng Ngải (Út Nhân trưởng trại cũng người Quảng Ngãi. Tình “đồng hương” nên Út Nhân có phần ưu tiên dễ dãi hơn…). Cho tù biệt giam ăn uống là anh Nguyễn Văn Ph. Anh có sáng kiến thay vì đến mỗi buồng giam phát thức ăn, người tù cải tạo đưa cái chén ra là anh múc cho một muỗng cơm hay khoai tùy bữa và một muỗng nước muối. Thường múc không đều tay cho nên đến buồng giam cuối cùng thì thức ăn cho các phần sau: ít hơn, hoặc nhiều hơn... Từ đó, anh không dùng vá múc nữa mà anh cân tổng thể số lượng thực phẩm chín trong ngày, sau đó anh chia cho số người “biệt giam” sẽ được nhận bao nhiêu gram thức ăn? Phần cơm, khoai, bắp… Anh vo thành cục cho mỗi người bằng nhau… Khi cho ăn, không ai phân bì ít hay nhiều. Chúng tôi thường gọi anh là Bố Nuôi…! Trong nhóm đi chợ thì có anh Thái Sĩ Th (trưởng nhóm) Nguyễn văn V, anh Nguyễn Thiện Đ, đảm nhiệm.
 
Trong đội anh nuôi tôi quen anh Nguyễn văn V… Anh với tôi cùng tuổi… Tính anh lúc nào cũng vui vẻ… sau nầy tôi mới hiểu – sở dĩ anh “Vui, vẻ”… là vì anh có biết chuyện buồn về gia đình… Anh mà ủ rũ mất tinh thần…! Trại biết được sẽ “biệt giam” anh, và sẽ truy nguyên nguồn gốc thông tin từ đâu mà có…? Từ đó họ sẽ ghép tội cho nhiều nghi vấn khác…! (Anh Nguyễn Văn V & anh Phong Tay S, có một thời gian ở chung phòng như tôi và anh Phong Tay S…).
     
Ngày lễ, ngày tết Ban chỉ huy trại cũng cho đội anh nuôi tăng phần ăn lên gấp đôi ngày thường. (Nấu các món cà ry, rau sống ăn với bún cũng có chút thịt heo luộc và một lát bánh tét!). Được nghỉ lao động một ngày. Tổ chức văn nghệ ca hát ở Hội trường và thể thao như: Bóng chuyền. Kéo dây. Tranh tài cờ tướng có thưởng! Anh em chúc tết với nhau – “hy vọng năm mới sớm được tha”! Dù muốn, dù không – anh em chúng tôi vẫn tham gia vui chơi để cho vơi đi nỗi buồn nhớ nhà. Nhớ cha mẹ, anh em, vợ con trong những ngày đầu xuân…!
 
Củi cung cấp cho tổ anh nuôi, chính là củi cao su. Anh em cải tạo chúng tôi được điều động đi ra vườn cao su Bình Lộc, tha hồ chặt hạ cây cao su bất kể lớn nhỏ - khiên, kéo về làm củi. Có một bà chạy ra, nói: “Các người đừng phá rừng cao su, đó là tài sản đó…”. Chẳng có ai thèm nghe. Trại bảo chặt thì cứ chặt. Chúng tôi đâu có trách nhiệm…!

Sau hai năm, trại cho gia đình người “cải tạo” được “thăm nuôi” mỗi tháng một lần. Và nhu cầu công việc lao động nặng nhọc trong trại… Trại cho phép tù cải tạo được nấu ăn thêm để lấy sức… Bếp nấu ăn tập thể được hình thành kế bên bên Tổ Anh Nuôi. Bếp lộ thiên, làm rất đơn giản… Đào một cái mương nhỏ, bề ngang khoảng 4 tấc, dài hai, ba chục thước… Gác cây sắt “ấp chiến lược” ngang dọc qua cái mương. Mỗi buổi chiều khi đi lao động về là anh chị em hấp tấp xuống bếp… Nhưng phần nhiều không có thời giờ vì phải lên lớp học chính trị, hoặc họp tổ để bình bầu lao động trong ngày… Ngày chúa nhật, được nghỉ thì thì xúm nhau nấu nướng rất đông. Ngày chúa nhật – bếp lúc nào cũng kẹt.

KHU C – XÃ XUÂN PHÚ:

Tại xã Xuân Phú. Trại trưng thâu bốn mươi mẫu ruộng đất, tại xã nầy. Xã Xuân Phú ở cách trại khoảng hai mươi lăm cây số, đi về hướng ngã ba Ông Đồn, nằm bên phía tay mặt, phía sau nhà thờ “Tu Hội Nhà Chúa”. Bên hông nhà thờ có đường đất rộng xe hơi chạy vào được. Từ quốc lộ 1 vào đến khu ruộng khoảng hơn một cây số. Vùng nầy mùa nắng không có một giọt nước… Giếng đào xuống toàn đá và nước nhiễm phèn lạnh rất nặng… Nước múc lên để lâu, nước đổi sang màu vàng và có lớp váng phèn trên mặt...Toàn vùng Xuân Phú nầy là như vậy, cho nên buộc phải ăn uống, tắm giặt…!
     
Trại cho dựng một ngôi nhà gỗ lợp tranh giữa đồng, kê hai dãy sạp bằng ván đủ chỗ cho ba mươi người nằm và một văn phòng nhỏ... Một nhà bếp kiêm nhà kho chứa dụng cụ canh tác… Một nhà riêng cho đội công an bảo vệ… Một sân phơi… Khu trưởng đầu tiên trông coi Khu C là “cải tạo viên” – Phạm huy C, anh nầy người cao lớn, tính tình hiền, dễ mến! Trước là võ sư “Thiếu- Lâm -Tự”. Anh cùng với anh Nguyễn Văn Kh… là hai tay đập của đội bóng chuyền cải tạo K4. Ban chỉ huy Trại thường “mượn” các anh, rồi cho các anh khoác màu áo Công an để đi thi đấu với các đội bóng chuyền ở trong huyện và nhiều nơi khác.
     
Mưa xuống, đất thì chúng tôi trồng: lúa, đậu nành, đậu xanh, đậu phộng và bắp… Ruộng chúng tôi gieo mạ, cấy lúa. Đầu mùa vụ cần người nên mỗi ngày từ khu A tăng cuờng ra hai đến ba trăm người, số người nầy buổi chiều có xe đưa về trại. Sáu tháng sau anh Phạm huy C có lệnh về trại nhận công việc khác. Tôi ra thay thế và người cùng gánh vác công việc với tôi là anh Nguyễn Văn Ph. Anh to con nhưng lại rất hiền lành, dễ mến… Ruộng đất nơi nầy xấu, đất pha sỏi, cát,… còn mưa còn nước, hết mưa mười ngày nửa tháng thì nước thiếu vì không có hệ thống thủy lợi… Đất ruộng ở khu C cần phân bón nhiều, nông sản mới có năng xuất… Tôi phụ trách khu C được một năm. Ban chỉ huy trại rút tôi về phụ trách hậu cần... Sau nầy, tôi được thả về nhà. Anh Đỗ văn B ra phụ trách khu C. (Anh Đỗ văn B và anh Đỗ Minh G). Hai anh từng bị biệt giam trong xà lim hơn hai năm… Lý do: Tổ chức cướp súng công an (?) Sau được “phục hồi” và cho ra Khu C chỉ huy sản xuất. Chẳng qua Ban chỉ huy trại K.4 tận dụng và lợi dụng cái “đầu” của anh Đỗ Văn B, mà thôi.
 
Trồng lúa và hoa màu… cần số đông người làm. Trại cho tăng cường mỗi ngày khoảng vài trăm “cải tạo viên” ra phụ gieo trồng, làm có và thu hoạch. Chiều có xe “GMC” của trại chở về. Mỗi ngày ra làm đều mang thực ăn buổi trưa theo cũng như nước uống…!
     
Thời tôi phụ trách đất, ruộng thì chỉ có làm một vụ… Thời anh Đỗ Văn B phụ trách sau nầy thì công việc nặng nhọc hơn… Phải đào con kênh thủy lợi dài hàng chục cây số dẫn nước về thâm canh hai ba vụ. Nông sản làm ra rất nhiều, trại ngày càng giàu lên, nhưng đời sống người tù không được “cải thiện”, vẫn trông chờ vào người thân, gia đình! Người ta thường hay nói: “Nước sông công cải tạo” – quả là đúng!
 
Trong thời gian tôi làm khu trưởng ở Khu C Xuân Phú… Ông trưởng trại (Út Nhân) và ông phó trại (Tư Hằng). Hai ông đem ra cho chúng tôi 10 cây thuốc lá, 20 con thỏ và rau các loại… Hai ông kêu tôi ra và nói lời nhã nhặn, lịch sự chứ không kêu tao mầy, rằng:
 
“Chúng tôi là cán bộ nhà nước, phục vụ cách mạng là chính, chứ còn lương bổng chẳng có bao nhiêu… Nay được phép cấp trên, chúng tôi nhờ anh canh tác và chăm bón giúp cho chúng tôi mỗi người một công tây ruộng, để có lương thực cho các cháu nó ăn… Chúng tôi mong anh quan tâm... Khi thâu hoạch anh cho giê sạch sẽ rồi cho chúng tôi biết, chúng tôi cho xe ra chở về. Một lần nữa, chúng tôi cảm ơn anh!”.
 
Hai ông chỉ nói, chứ chẳng đưa giống, đưa phân bón, thuốc trừ sâu rầy, chi cả… Tôi hiểu ý bèn đi tìm anh Pho và kể lại… Tôi nói với anh Pho cứ làm, như: vậy… vậy… ! Ruộng toàn cát, sỏi…, xấu đau, xấu đớn - mỗi vụ - một công tây chỉ chỉ cho tạ rưỡi thóc… Tới vụ thu hoạch, tôi nhờ anh em giê cho hai ông trưởng và phó trại: 14 tạ lúa đã phơi khô khan (mỗi công 7 tạ). Tôi báo cho mấy ông cho xe ra chở về. Hai ông nói: “…Vụ nầy lúa trúng mùa…?”. (tôi cười thầm…). Tôi dạ, nói: Chúng tôi chăm bón đặc biệt…! Lúc ra chở lúa về, hai ông trưởng và phó trại - có đem cho anh em chúng tôi - thuốc lá, thỏ, cá trắm, rau củ các loại…!
 
Vào mùa nắng, số người ở lại Khu C, chỉ còn 10 người “cải tạo viên” và hai người C.A. Thời gian rảnh… tôi báo cho hai người C.A biết là chúng tôi gồm có 5 người đi vô rừng lấy củi… Mấy người C.A, nói “Các anh đi… nhanh về, kẻo người trong trại ra bất thần thì chúng ta bị nhốt…!”. Trong nhóm 5 người, có một chú em thuộc thành phần phạm tội hình sự vô trại năm 1978. Chú em còn trẻ, khoảng 17 tuổi. Lợi dụng lúc chúng tôi không để ý, chú em bỏ trốn… báo hại chúng tôi tìm hàng giờ mới tìm được… Tôi “bảo lãnh” chú em ra lao động… Do đó tôi rất sợ. Tôi ôm chú em và vỗ vô lưng thùm thụp…, mừng như bắt được vàng. Sau nầy tôi gặp lại chú em ở Sai Gòn, hình như nhà chú em đó ở gần nhà ông anh của tôi. Chú thấy tôi, chú chào rồi lẫn đi…!
 
Người lo nấu ăn cho khu C là anh Đặng Trúc, tôi không biết anh cấp bậc hay chức vụ gì…, chỉ biết anh rất vui tính. Anh ở Gia Kiệm (Bắc di cư 1975)… Do đó anh qua hiểu về CS… Mỗi ngày anh hay lâm râm đọc kinh… Một hôm nhà thờ “Tu Hội Nhà Chúa”, đổ chuông lễ ngày Chúa Nhựt… Anh Đặng Trúc đứng quay mặt về hướng nhà thờ đọc kinh nho nhỏ… Người công an quản giáo, thấy… Anh công an nầy nhạo báng anh Đặng Trúc…! Trưa ngày hôm sau, anh công an đó nằm trên võng hút thuốc lá, gió đồng thổi mát nên anh ta ngủ quên… Điếu thuốc rê cháy tận miệng làm cho anh công an đó bị phỏng hai cái môi… Hai môi anh ta sưng chù vù…, phải kêu trại cho xe ra chở gấp đi vô bệnh viện. Anh công an đó không trở ra Khu C nữa. Chúng tôi cười, anh Đặng Trúc thì nói “Bổ bang Chúa thì bị phạt”…!
 
Dân ở xã Xuân Phú rất ghét toán “công an quản giáo” trại K.4. Lý do: chó của họ chạy ra đồng bị mấy ông nầy bắn và làm thịt nhậu… Người dân họ biết, nhưng không dám “tố giác” vì họ sợ… Đất ruộng của họ còn bị lấy không, huống chi vài con chó… Bắn riết chó không dám chạy ra đồng nữa.
 
Gia Kiệm, nơi phần nhiều người Bắc di cư ở. Tôi nhớ anh Thượng sĩ Mai Văn Hưởng, dáng anh cao, da ngăm đen, tính tình vui vẻ… Gia đình thăm nuôi có cho anh bún miến làm bằng củ chóc… Anh nấu và đem cho tôi một tô, lần đầu tiên biết ăn… Cảm thấy ngon vô cùng… Ở chung được mấy tháng anh lại đổi ra khu B… Cuộc đời tù “cải tạo” không khác gì trái banh, không khác gì một kẻ nô lệ, muốn đánh, muốn chửi, muốn giết chết cũng không một ai quan tâm…!
 
BAN THĂM NUÔI:
      
Ban Chỉ Huy Trại cho xây một nhà “thăm nuôi” bên sát cổng trại, cách quốc lộ một chừng mười thước để tiếp nhận người thăm nuôi mỗi tháng một lần. Ngoài ra còn xây thêm một nhà cho thân nhân ở lại đêm. Nhà có bốn phòng… Điều kiện để cho thân nhân được ở lại là cải tạo viên phải là “Lao động tốt – Học tập tốt!”. Cuối tuần, tự chúng tôi, họp từng tổ lại bình bầu theo thang bậc: “Kém – Trung bình – Giỏi!”. Danh sách những người giỏi đưa lên trại quyết định. Chính chuyện nầy, nên mới có những đứa trẻ trong giấy khai sinh, ghi: “Ngày, tháng, năm sinh trong thời gian cha còn ở trong tù”. Lúc phỏng vấn đi tỵ nạn chính trị “H.O”, một số anh em bị Hoa Kỳ bác đơn cũng tại cái lý do: Ở trong trại cải tạo làm sao có con?
     
Nhằm hoàn thành chỉ tiêu cái “nông trang” ở khu B. Ban chỉ huy trại cho thân nhân tù cải tạo mang thực phẩm thăm nuôi không hạn chế như trước. Nhất là gạo, cho đem tối đa, cũng như tiền bạc… Ở bên ngoài, người thân cũng đói khổ, phần nhiều đi “kinh tế mới”! Một số ít thăm nuôi hằng tháng, còn lại: - hai hoặc ba tháng hoặc không hề tới thăm. Tuy nhiên, những ai có thăm nuôi, thì khẩu phần ăn tiêu chuẩn hằng ngày chia sớt cho những người không có thăm muôi…
 
Từ năm cải tạo thứ sáu trở về sau. Trại cho vợ chồng cán bộ trại, là (Hùng & Thuận) - ban đêm mở “căng tin” tại hội trường, bán thức ăn, rượu bia và đồ nhậu vào ngày thứ bảy hằng tuần… Từ năm thứ năm không còn học chính trị nữa. Buổi tối tập trung lên hội trường xem truyền hình; để nghe diễn văn của các nhà lãnh đạo… (không thường xuyên). Từ khi có kinh doanh ăn uống, buổi tối ai có tiền thì lên mua bia rượu ăn uống, nhưng hạn chế, mỗi người chỉ mua được một xị rượu còn món ăn thì thoải mái… Anh em cải tạo muốn “nhậu”, phải ghé lại “hậu cần” rút tiền (nếu có…), nhưng cũng hạn chế… Tôi làm khu phó hậu cần (nói thật, mẹ tôi không cho tiền – hai tháng mới thăm – mẹ lo cho các em còn không đủ – thì đâu có tiền mà cho tôi – lâu lâu mẹ mới cho…). Tôi có nhiệm vụ nhắc nhở anh em uống nhưng không được say sỉn… Tuy bán hạn chế (một xị rượu), nhưng tôi biết có anh mua được hai xị - là các anh nhờ người không uống rượu mua dùm… Thấy tôi, anh em “hú…” – mời (nhấm môi) – nhấm môi – một vòng… - sỉn là cái chắc…! Do đó, tôi chỉ (sàng qua…), mỉm cười… - dông tuốt. Tuy vậy cũng có lúc mua rượu ngồi cùng với anh em… Ngồi chưa ấm chỗ đã bị kéo đi… Tôi có thể mua cả lít rượu ngon… (ưu tiên mà)… . Mua dùm cho anh em uống… Lúc anh em “ăn nhậu”, không có công an quản giáo canh chừng… họ để cho chúng tôi, tự nhiên… Mấy anh ấy cũng ăn nhậu như chúng tôi mà, có điều ngồi riêng ở một bàn khác… Mấy anh công an quản giáo cũng khổ, không nhiều tiền, bởi cái gì cũng “tiêu chuẩn”...
 
Từ năm thứ tám, trại cho mội người “cải tạo” – mỗi tháng (20 đồng)… Tôi nghe những người về sau kể lại như vậy, chứ tôi đã về nhà rồi… Tài sản của trại do người tù làm ra quá nhiều… Trại có cho chừng đó thì có thấm vào đâu – hơn nữa số lượng người cải tạo về “tù chính trị” còn ít. Sau nầy trại K.4 – chủ yếu giam tù về “hình sự”…
       
BAN HẬU CẦN:
       
Ban hậu cần Trại, hoàn toàn do “cải tạo viên” đảm nhiệm. Lập danh sách tài sản của Trại: Bất động sản bao nhiêu, từng vùng đất canh tác và loại hoa màu hay cây công nghiệp trên đó, kể cả ao hồ, giếng nước…Các loại nhà cửa, kho bãi, công cụ sản xuất, xăng dầu xe cộ, máy móc…
      
Động sản – gồm: Lúa, hoa màu trái cây các loại hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng, hằng năm… Thâu hoạch, mang về đều phải qua hậu cần ghi vào sổ và chỉ định phân phối hay phơi phong bảo quản. Bảo quản và phân phối những thục phẩm “thăm nuôi” và tiền mặt của thân nhân cải tạo viên gửi vào và xuất lại cho họ vào buổi tối theo sự ấn định của Ban chỉ huy trại. Riêng tiền mặt chỉ cho xuất vào tối thứ bảy để lên hội trường mua đồ ăn uống và cũng phải chịu theo sự ấn định…
     
Ban hậu cần trại cũng nắm tất cả các loại: gia cầm… thủy sản… Và theo dõi sự tăng trưởng cũng như dịch bệnh… Cân đối lương thực cho toàn trại... Tổ anh nuôi trực thuộc hậu cần. Nhân sự ban hậu cần trung bình tám người. Chức vụ cao nhất là Khu phó phụ trách hậu cần. Những người đã giữ phần vụ nầy: Anh Vũ Dương T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn B, Trần Văn T . Và tôi…!
 
Ban hậu cần trại do cải tạo đảm nhận, có quyền ký nhận trực tiếp với ban hậu cần tỉnh, mỗi khi trên tỉnh xuống giao hàng… Hàng nhận vô sổ… Tuy nhiên, mỗi khi chi ra phải có “phiếu yêu cầu” và có chữ ký của trưởng trại Út Nhân chấp thuận... Nhân sự bên công an trại họ cũng ăn theo “tiêu chuẩn”… Theo tiêu chuẩn thì không bao giờ đủ..., chứ đừng nói tới dư. Họ cũng “trông chờ” phiếu “bồi dưỡng” như cải tạo chúng tôi. Tội là khi thân nhân cha mẹ vợ con tới thăm, ở lại vài ba ngày… Tất nhiên hậu cần công an cung cấp thực phẩm theo tiêu chuẩn, chỉ vừa đủ ăn no là may…!
 
Một hôm anh Thanh thư ký của hậu cần, chạy tìm tôi, nói: “Có một anh C.A muốn gặp anh. Anh ta nói vợ ảnh và đứa con tới thăm mà tiêu chuẩn không đủ…”. Tôi về gặp anh ta, thì ra anh ta mới đổi về trại và nghe đâu… anh ta, đối chọi với trưởng trại Út Nhân… Có thể, vì lý do nầy mà anh ta không dám mở miệng xin Út Nhân “phiếu thực phẩm bồi dưỡng” khi vợ con tới thăm…! Tôi nói: – không có phiếu xuất của trưởng trại thì hậu cần chúng tôi không dám xuất… Điều nầy anh hiểu mà…! Anh ta nói – “Tôi biết.. nhưng…, anh có thể tìm cách giúp cho tôi xin hai con thỏ và hai ký nếp được không? Tôi cảm ơn anh!”. Như thường lệ, buổi chiều, năm giờ - các đội sản xuất chúng tôi đi họp trên ban chỉ huy trại… Tôi thấy anh ta ngồi với vợ con ở căn nhà đầu dành cho công an quản giáo… Anh nhìn tôi vớ ánh mắt hiền từ… Tôi đưa ngón tay cái lên trời và mỉm cười… (nghĩa là tôi ngầm đồng ý biếu thực phẩm theo yêu cầu của anh hồi sáng). Tối đó, tôi cho người đem cho anh - nhiều hơn số lượng mà anh đã xin… (Tôi biết, nếu xuất không phiếu là sẽ bị “biệt giam”, nhưng tôi có cách bù lại số thực phẩm vô sổ sách và đủ lý lẽ ứng phó một khi bị trại phát giác). Số thực phẩm đó không phải, là “Của Thiên Trả Địa”… Của đó là công sức mồ hôi do người tù cải tạo chúng tôi làm ra… Tôi không cho anh công an quản giáo, mà là cho vợ con của anh ta… Ước gì - vợ con, cha mẹ của chúng tôi cũng được hưởng chút “công sức” do chính bàn tay của chúng tôi làm ra thì hay biết mấy…!? ).
 
Kỷ niệm mà tôi nhớ đời, đó là: Một bữa trưởng trại Út Nhân nói với tôi, rằng:
 
“Ngày kia có một phái đoàn về thăm trại. Trại muốn bắt cá ở ao số một để đãi…luôn tiện súc ao và thả nuôi cá mới. Anh dẫn một trăm người dùng gàu tát… Đồng thời tăng cường một máy bơm… Tôi cho chuẩn úy Năm A và công an coi phụ. Anh cố gắng hoàn tất”
 
Tuy nhiên, người và máy tát, hút từ sáng cho tới ba giờ chiều vẫn không cạn. Tôi kiểm tra thì có một cái lỗ mội to như cái đầu ở ngoài suối chảy vô ao… Út Nhân chạy xe ra, thấy ao cá tát chưa cạn… Ông không cần biết lý do, ông lấy hai thanh gỗ nhào tới đánh vô lưng của tôi tới tấp, đánh tới nỗi nát hai thanh gỗ… Chuẩn úy Năm A, thấy Út Nhân đánh tôi, anh ta bỏ chạy xuống ao cá thứ ba đứng ở đó…
 
BAN THƯ KÝ LIÊN LẠC:
 
Ban Liên lạc giữa các khu, do các anh Bùi văn C, anh Trương Vĩnh T… Các anh nầy thường nhận những chỉ thị từ trưởng trại và chạy bộ chuyển mệnh lệnh đến các tổ công tác… Làm biên bản các cuộc họp và học tập chính trị… Thông báo người được thăm nuôi vào ngày thứ bảy hằng tuần – bốn tuần thăm một lần cho một người... Còn ban chỉ huy cải tạo, gồm: Khu trương, các khu phó, các dãy trưởng, các đội tổ trưởng sản xuất. Đúng 5. 30 chiều mang sổ sách lên Ban Bí Thư trại báo cáo tình trạng sản xuất trong ngày và đề nghị công việc ngày hôm sau… Đồng thời nhận lệnh mới… Ban đêm từng dãy tổ lên danh sách số người gác đêm. Canh gia súc đẻ và dịch bệnh cũng như tự canh gác cho nhau mà ngủ. Thỉnh thoảng quản giáo công an cũng đi tuần kiểm tra đột ngột... Guồng máy cứ thế mà trôi chảy êm xuôi, không một ai dám ăn cắp hay tơ hào đến “tài sản XHCN” cho dù một cọng rau, hay trái chuối…!
 
Các cải tạo viên làm Khu trưởng cải tạo, gồm có:  
 
-Anh Nguyễn Viết Thanh, người bắc di cư… Anh là Chủ Tịch Đảng Dân Chủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại Vũng Tàu. Khoảng hai năm sau được tha về (Được biết sau khi tha về anh trở thành cánh tay của C.A – về vụ đóng tàu đưa người vượt biên “bán chính thức” và bị chết ở trong trai giam sau khi vụ Giám đốc C.A Đồng Nai là Mười Vân bị bà Kim A.. Tố cáo khi qua nước Anh…)
-Anh Đỗ Hữu Kh… Anh là giáo sư hiệu trưởng Trung Học Vũng tàu
-Anh Hoàng Trọng Q… Anh là huấn luyện viên tại Trung tâm CB/XDNT Chí Linh Vũng Tàu
-Anh Vũ Dương Thư. Anh là Trung úy giáo sư, biệt phái qua ngành giáo dục.
-…..
       
BAN VĂN HÓA
      
Trại có mở một lớp “bổ túc văn hóa”… Lớp học chỉ dạy cho những người không biết chữ hoặc những người ít chữ. (đa phần là tội phạm hình sự và cán bộ trại…). Lớp học vào ban đêm… Chương trình do trại đưa, học xong nếu thi đậu sẽ được được cấp bằng. Từ lớp một đến lớp năm. Giáo viên là mấy vị “Giáo sư Ngụy” dạy theo chương trình của xã hội mới “XHCN”. Lớp học cũng khá đông, không phân biệt cán bộ, hình sự trộm cướp gì hết, miễn thấy… “dốt” là “đăng ký” học!
Có một anh chàng học hết chương trình, được cấp “bằng bổ túc”! Mừng quá! Xin phép viết một “lá thư tình mùi mẫn” gửi về cho (nàng)... Ở nhà, nàng nhận được thư cũng mừng nhưng nửa tin nửa ngờ... Vội vàng sắm sửa chạy đi thăm nuôi để nhìn “kết quả” tận mắt. Lớp nầy, còn dạy nhạc và dạy nhảy đầm… Nhưng giấu kín… Thầy dạy hẳn nhiên là người “cải tạo”…
      
NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI!
      
Trong trại có hai công sự chiến đấu của “VNCH”. Cái thứ nhất gần cổng đúc bằng bê tông có cửa sắt, nền nổi trên mặt đất bốn tất, rộng chừng hai chục thước vuông có lỗ châu mai. Cái thứ hai ở phía sau cách cái thứ nhất chừng hai trăm thước, nền âm xuống khỏi mặt đất chừng một thước, xây bằng đá ong có lổ châu mai và có cửa sắt rất kiên cố. Ngoài ra còn có một cái “conex” bằng sắt. Ba nơi nầy là những nhà biệt giam “cải tạo viên cứng đầu, cứng cổ”, chống đối lại chính sách nhà nước.
      
KHU CHUỒNG BÒ – KHU NHÀ ĐÁ – LÔ CỐT – CONEX
      
Trại cho đội thợ mộc xây một dãy nhà “biệt giam” tù cải tạo vi phạm nội quy trai, hoặc trốn trại sát bên cạnh chuồng nuôi bò… Nhà biệt giam làm theo kiểu nhà sàn, cách mặt đất chừng năm tấc – ghép ván loại dày, vách ngăn phòng bằng ván… Trong mỗi phòng có một sạp gỗ, một cái thùng tôn gò tròn, có nắp đậy - dung tích chừng hai mươi lít, có quai xách và một cây móc bằng sắt nhỏ, dài cỡ tám tấc (một đầu uốn thành khoen tròn, một đầu bẻ cong thành cái móc…)… để cho tù “biệt giam” một khi cần ỉa đái, thì dùng cái cây sắt móc đó mà móc cái thùng tới gần chỗ nắm… Hình thức cùm chữ U cho tù biệt giam cũng giống như đã nói ở mục “Tình Cảnh Người Ngồi Đập Đá”. Người bị biệt giam phần nhiều nằm nghiêng… Bởi người bị biệt giam quá đông… Tội nghiệp nhất là người biệt giam bị cùm chữ U cả hai chân, nằm nghiêng người rất khó chịu và đau đớn… Do đó, người bị biệt giam cùm một chân, phải nhường diện tích chỗ nằm cho người bị cùm hai chân...
 
Chung quanh toàn là bò, mùi phân và nước tiểu hôi thối hằng ngày người tù biệt giam phải ngửi… Khổ nhất là ban đêm hai chân bị cùm, không được tắm, thân hình ghẻ, lở, hôi hám..! Rệp với ghẻ là bạn đồng hành muôn thuở của người tù. Hơn nữa, là qúa chật chội - chúng tôi không đủ chỗ để nằm ngữa hết, nên phải thay phiên: Phân nửa nằm ngữa – phân nửa nằm nghiêng và ngược lại! Tiếng khua sắt thép va chạm kêu suốt đêm, rất khó ngủ. Mỗi ngày đêm, mỗi người bị giam chỉ được một lít nước uống. Một nắm cơm độn mì lát, bắp hạt vo tròn bằng cái trứng ngỗng. Một chén nước muối! Trong phòng giam có một cái thùng để tiểu và tiện chung. Thùng có nắp đậy, có quai và một cây móc sắt, khi người nào cần… thì kéo qua, kéo lại và kéo lên trên sạp để tiểu và tiện vào!
     
Mỗi khi đi cầu... Người bị cùm “U” một chân - kéo thùng phân lại, xoay người ngồi xuống đi cầu hay tiểu… Người bị cùm “U” hai chân, không xoay người được, nên phải móc thùng phân để hẳn lên trên sạp mà ngồi đi cầu… Mỗi khi có người đi cầu, anh em tù giam chúng tôi lấy tấm đắp phủ lên đầu để khỏi nghe mùi…! Khổ nhất là không có giấy vệ sinh. Chúng tôi nhín chút nước uống để làm vệ sinh! Tình trạng trong lô cốt và nhà đá còn khốn khổ hơn chúng tôi, vì tội nặng hơn, ngoài cùm “U” còn bị xích hai tay. Giam, nhốt ở nhà gỗ chuồng bò ít ra cũng còn có khe ván để nhìn ra bên ngoài… Trong lô cốt và nhà đá thì tối tăm mù mịt, đành chịu chết! Khoảng mười ngày, hay nửa tháng quản giáo đi kiểm tra cái cùm chữ “U”, xem cái cùm “U” của chân người nào lỏng, có thể rút chân ra được, là thay ngay cái “U” nhỏ hơn…!
     
Do không có nước tắm, nên hầu hết anh em chúng tôi đều bị ghẻ, lác.. Còn rệp thì ban ngày cũng như đêm thường xuyên ra “thăm viếng” chúng tôi! Móng tay dài chúng tôi dùng răng cắn; còn râu tóc thì cứ việc mọc dài “vô tư”… Thỉnh thoảng cũng được trại cho người đến “thanh lý” các râu tóc. Ăn thì ăn bốc, muỗng nĩa cấm tiệt vì sợ đâm nhau hay tự tử.
     
Tôi được giam vào phòng số ba. Trong phòng có mười lăm người. Có một người giam chung nằm cạnh với tôi, anh ta khoe rằng: anh có làm “chấp pháp ”… Anh nói giọng Bắc. Anh ta nói: anh bị tội tham nhũng… Anh ở chung với chúng tôi khoảng mươi bữa rồi chuyển đi đâu chẳng ai biết. Thời gian nhốt chung cứ mở miệng ra là anh ta nói toàn những lời “phản động”…! Anh ta nói:
 
“Vũ khí các anh mạnh, tại sao không đánh thẳng ra bắc? Các anh đánh ra sớm chúng tôi không đến nỗi khổ sở – miền nam giàu có, chúng tôi có giải phóng gì cho các anh đâu?”.
 
Chúng tôi cảnh giác, nên im lặng là vàng.
 
Tuy vậy, cũng nhờ anh chàng “chấp pháp” người Bắc 75 nầy, mà tôi (biết cách ăn vỏ dưa hấu). Chuồng bò là nơi nhà ăn bên công an hay đem đổ thức ăn thừa hay rau rác, trong đó có nhiều vỏ dưa hấu… Anh “chấp pháp”, bảo tôi lấy cái cây sắt móc thùng phân, đem móc số vỏ dưa đó, rửa sơ sơ, bẻ nhỏ (không có dao) rồi cho vô trong ca đựng nước uống, cho nước và chút muối, pha loãng… Ngâm vài ngày là có một món “dưa chua”, ăn ngon lành… Cái đói lòi ra cái khôn… Tôi nghiên cứu thêm, nếu vỏ dưa hấu làm dưa chua ăn được thì các loại rau khác cũng làm được… vậy là tôi móc các loại rau đã thải ra cho bò ăn, như: rau muống, bắp cải, lá cải, củ cải… Đem làm dưa chua. Tù cải tạo “biệt giam” chúng tôi tranh ăn… cỏ với bầy bò…!
 
Khu nhà đá hay lô cốt vốn là các công sự phòng thủ… Giờ công an trại dùng nhốt những anh chi em cải tạo chúng tôi… Đây chính là một hình thức trả thù… Riêng cái “Conex” là để nhốt kẻ nào bị kỷ luật nhẹ trong vài giờ cảnh cáo… Vậy mà đã xảy ra một cái chết thương tâm cho anh Hải – người phụ trách nuôi heo. Số là trong nhóm nuôi heo có một cô tên Ph… Cô nầy trước là gái làng chơi, sau này “hành nghề” tiếp… Cô bị bắt vô trại gần nửa năm và cho vô toán chăn nuôi heo. Cô khỏe mạnh, thân hình tròn lẳng, mập mạp, trông cũng dễ nhìn chứ không đẹp… Lúc nầy Út Nhân chưa làm trưởng trại cũng muốn lẹo tẹo với cô Ph… Ngược lại anh hải và cô Ph… hình như có âu yếm mấy lần ngoài hàng chuối, bị Út Nhân bắt gặp. Út Nhân ghen… Bắt anh hải nhốt conex. Nắng nóng mất nước anh Hải chết thảm. Cha anh hải là xã trưởng cải tạo chung hay tin con chết mà không dám khóc…).

Giao thông hào chung quanh khu A, đều cắm chông nhọn . Ban đêm cho chạy điện, Trại bắt chúng tôi từng dãy tự canh gác cho nhau ngủ. Chính điều nầy vô hình chung làm cho chúng tôi cảm thấy là những “Người-Tù- Nguy-Hiểm!”... Tính mạng bị uy hiếp…! Hơn nữa, cái chết của anh Nguyễn Văn Tý! Người tù đầu tiên của trại - làm cho chúng tôi hoang mang, sợ hãi…! “Nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh”! Anh Nguyễn Văn Tý, đã đấu tranh bằng đối thoại trong giờ học chính trị… cán bộ trại bắt giam anh Tý - đánh đập tra khảo, bỏ đói, bỏ khát… Một tháng sau anh Tý chết! Trại đổ thừa là tại anh ấy tự tử… Nửa đêm trại âm thầm sai người đem anh Tý chôn sau ấp Đoàn Kết! Giết anh Nguyễn văn Tý, là sự “dằn mặt” chúng tôi, rằng - đừng có mà chống đối vô ích!
     
Sau cái chết của anh Tý, anh em chúng tôi tuy trong lòng không ai dám nói ra, nhưng đều có ý nghĩ … trốn trại nếu có dịp… Trại cũng đoán biết nên tăng cường kiểm tra, thanh lọc, ban đêm xiềng một số “cải tạo viên” cho là “cứng đầu”! Và tưởng rằng sẽ đè bẹp được ý chí của chúng tôi. Rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Sáng mồng bốn tết năm 1976, tiếng kẻng báo động vang lên từng hồi, khi chúng tôi tập họp và ngoài sân để trại điểm danh... Trưởng Trại nói: “Đêm hôm qua có năm người trốn trại. Nhưng tụi nó sẽ chạy không thoát. Chúng tôi đã thông báo cho địa phương và bắt tụi nó”.
     
-Người chết thứ hai là anh Bùi thiện Thọ, anh là Xã đoàn trưởng xây dựng nông thôn, tỉnh đoàn Bà Rịa. Anh từng làm huấn luyện viên “vovinam” tại trung tâm chí linh Vũng Tàu. Anh có tài xem tướng số... Một hôm anh đang vẽ sơ đồ bát quái trong lòng bàn tay trước dãy nhà, ông Trưởng Trại từ sau đi tới, anh Thọ hoảng hồn - xóa! Ông Trưởng Trại nghi anh Thọ vẽ sơ đồ trốn trại, vậy là bắt giam anh Thọ cho đến chết. Trại âm thầm chôn anh Thọ trong đêm ở trên đồi đá, ấp Đoàn Kết. Anh Bùi thiện Đ – là em ruột cùng cải tạo chung hay tin anh ruột mình chết oan nhưng không dám khóc!
     
-Người chết thứ ba là anh Nguyễn văn Hải, anh bị nhất trong “conex” nóng… khát khô mà chết! (Đã nói ở trên)
     
-Người chết thứ bốn là anh Đỗ Diêm! Anh chống đối và ngủ trong giờ học chính trị. Bị bắt biệt giam cho đến chết.
     
-Người chết thứ năm là anh Điểu Siểng. Không rõ lý do.
 
(Sau nầy, còn bao nhiêu người chết thì tôi không biết vì tôi đã về nhà)
     
Đầu năm 1978, ban Chỉ Huy Trại cho bắt anh Đặng Tr – anh là đại úy biệt phái qua bộ giáo dục. Anh là giáo sư dạy học. Với tội danh tổ chức cho tù trốn trại gồm có các anh: Nguyễn Hữu G – La văn M – Mã văn H. Và một số đông tới hàng trăm người, mà tôi không nhớ hết được. Cũng may cho anh Đặng Tr – Hai tháng sau anh có danh sách chuyển trại…! Không biết anh bị chuyển tới trại nào…? Chết hay là còn sống?
     
Trại cho bắt anh Năm H, là: xã trưởng ở Long Điền Bà Rịa, anh lớn tuổi, anh em chúng tôi rất nễ trọng... Anh có công rất nhiều trong việc sản xuất ở khu B. Trại bắt anh Năm H với tội danh tổ chức trốn trại (?) cùng bắt với anh Năm H có các anh: ” Trương vĩnh T – Huỳnh Đ -Trần anh D – Đỗ trọng Đ – Mai Hữu Th – Trương Long Kh và nhiều người khác…, mà tôi không nhớ hết!
    
 Tiếp tục bắt nhóm: Anh Đỗ văn B – Trương phước X – Nguyễn văn Đ – Trần phước H – Đỗ minh G. Lý do: Tổ chức cướp súng của công an thả tù vào dịp lễ “30.4 và lễ lao động 1.5”. Trường hơp anh Đỗ minh G, rất là thương tâm! Bị đánh đau qúa…! Anh không dám khai bậy cho các anh em khác ở trong trại. Anh liều khai cho vợ con của anh cũng có tham gia cướp súng công an giải thoát tù cải tạo… Trại tức tốc cho người về quê anh bắt vợ và bốn đứa con nhỏ của anh về giam ở công an huyện hơn một năm! Đa phần anh em biết thủ đoạn tàn độc của ban chỉ huy trại K.4 là dựa theo bọn “ăng ten” báo cáo láo, để rồi dàn dựng lên cái cớ để bắt bớ… tra tấn, đánh đập để lập công, thăng chức…! Bị đánh đau qúa nhiều anh em khai luôn cho công an quản giáo – giúp- đỡ – trốn trại… Hoặc như trường hợp của anh Đỗ văn B. Anh khai là: Có ngủ với các bà vợ của những cán bộ trại… (Số người bắt giam còn nhiều, nhưng tôi không thể nhớ hết)
     
Anh Trương phước X được Trưởng Trại tin tưởng cho phép gặp phái đoàn “nhân đạo ” nào đó đến thăm... Anh không nói theo lời dặn của Trại. Mà anh thật trình bày với phái đoàn về các vấn đề: “Ăn uống thiếu thốn; lao động quá cực khổ, quần áo không có đủ mặc, hạn chế thăm nuôi…”! Phái đoàn ra về và “thật thà” đưa thư trình bày nội dung lời nói của anh Trương phước X cho tỉnh. Thế là, anh bị trù dập…không cho vợ con anh thăm nuôi. May là anh thoát chết! (Tôi có gặp anh X, mà quên hỏi để anh xác nhận có đúng không).
 
Có vài lần trại chúng tôi nghỉ một ngày. Tất cả được hớt tóc sạch sẽ, mặc quần áo gọn gàng, ngồi chờ… Chờ cả ngày mà không biết lý do, rồi ngày hôm sau tan hàng ai về phận sự nấy… Một thời gian sau, chúng tôi nghe “phong thanh”… Sở dĩ cho nghỉ một ngày là đợi phái đoàn nhân đạo Hoa Kỳ nào đó tới thăm…
     
Phía sau trại là ấp Đoàn Kết, đồi đá thoai thoải, đào xuống chừng ba tất là đụng đá bàn… Những người tù cải tạo bị tra tấn, giam cầm hoặc bị thương tích dẫn đến cái chết, đều được đem chôn ở đó... Chôn vào ban đêm. Tuyệt đối không cho “cải tại viên” bén mảng ra khu vực “Nghĩa Trang Đặc Biệt” đó! Đào đụng đá bàng, chôn không kín xác chết, thì gom đá nhỏ chất thành đống – thành nấm mộ đá! Có những đêm nhìn ra khu đồi đầy cỏ tranh ấy mà nghĩ: Bao giờ đến phiên mình? Mỗi lần đi cắt cỏ ngang qua khu mộ… Mắt len lén và thầm nói: ” Mấy anh phù hộ chúng tôi bằng an, khi được về chúng tôi sẽ tìm cách báo cho thân nhân vợ con các anh tới cải táng!” (tôi được biết anh Nguyễn Thiện Thọ đã  được gia đình bốc mộ, Vợ và con trai anh đã được định cư ở Hoa Kỳ theo danh sách “H.O” !).
 
Ông Trưởng Trại lúc nào cũng nói: “Nhà nước tốn cơm nuôi cho chúng bay ăn để học tập cải tạo”. Nhà nước nuôi chúng tôi ư? Hay là chính chúng tôi – những người tù cải tạo “lao động là vinh quang” , làm ra lương thực cho nhà nước…?! Còn người tù cải tạo chúng tôi: Ốm đói, bệnh tật, như những bộ xương biết đi và chỉ biết trông cậy vào sự thăm nuôi hằng tháng của gia đình. Người đời ai cũng lao động làm của cải để nuôi bản thân và gia đình. Nhưng ở đây, chúng tôi lao động bằng một ngọn roi quất thẳng vào người tù không án với những toan tính trả thù – “Cho ăn đói – phải làm cho đến kiệt sức”! Và, những người buông súng đầu hàng như chúng tôi đã kiệt sức và một số mất mạng –  đã quá kiệt sức! Vậy mà không được người anh em “chiến thắng!” bố thí cho một chút tình nghĩa!
 
“Tụi chúng nó ta bắt đi học tập cải tạo. Nhà cửa của chúng nó ta tịch thu. Vợ của chúng nó ta lấy. Con của chúng nó ta sai khiến”! Đó là câu nói của ông Đỗ Mười.
 
Thật thê thảm!

NÓI LÊN NỖI LÒNG!
      
Trong suốt thời gian hơn bảy năm cải tạo, hầu như tôi lao động qua nhiều “nghề”, nhưng khi về đến nhà tôi chẳng có nghề nào khả dĩ có thể làm ra tiền để nuôi sống gia đình và bản thân! Cuối cùng thì cũng đành: “Bứt râu thằng cha nọ cắm cằm mụ kia”, đắp đổi qua ngày tháng.
      
Ông bà xưa nói: “gieo gió thì gặt bão”! Bàn tay của ông trưởng trại tù K.4 (Út Nhân) đã thấm máu, mồ hôi của người tù “cải tạo” và hàng chục mạng người tù chết tức tưởi, oán hờn! Bao năm trời đọa đày chúng tôi đói khác, rách rưới… trong cái gọi là: “Học -Tập- Cải -Tạo”! Một manh chiếu rách quấn xác người tù không có án, nửa đêm vội vã khiên ra gò hoang với mấy cây súng hằm hè… Chôn vội vàng như sợ linh hồn người tù sống dậy vặn cổ để trả thù bởi vì chết tức tưởi…! Vậy, còn người sống thì sao? Ngày đi tướng tá phương phi… Ngày về mang thương tích đầy mình… Không “cải tạo, tẩy não” được chúng tôi. Không thể giết hết được chúng tôi – dù đã giết! Nên thẳng tay trả thù bằng cách chà đạp “Nhân Phẩm & Danh Dự”của chúng tôi và gia đình thân nhân của chúng tôi. Không có luật lệ gì ở đây – cho dù luật tù binh cũng không có!
     
Ngày (Mười Vân) làm giám đốc công an tỉnh Đồng Nai. (Mười Vân là ông thầy và là chỗ dựa của ông Trưởng Trại K.4) bị treo cổ! Ông trưởng trại K.4 và đệ tử của ông tan hàng về làm dân! Ông trưởng trại K.4, đâu có ngờ rằng: Cái ngày trở về làm người dân thường, tới với ông qúa nhanh! Đứa con gái của ông bị nạn bất ngờ chết cháy… Căn nhà gỗ của ông mà ông từng bắt anh em “cải tạo” chúng tôi làm cho ông; làm toàn những loại gỗ quý từ trong xưởng cưa của Trại đem ra… Ông trưởng trai K.4, cũng thừa biết đó là của “Nhà nước”… Nhưng là do anh chị em cải tạo chúng tôi trực tiếp làm ra… Các loại cây trái chúng tôi trồng thành khoảnh trong vườn cho ông thụ hưởng…!
     
Tôi hoàn toàn không tin chuyện “đời cha ăn mặn, đời con khác nước” hay “định mệnh”... Nhưng, thảm cảnh xảy ra đối với gia đình của ông trưởng trại K.4…! Trong lòng cá nhân tôi, vô cùng thương cảm và đau xót…! Bởi vì hơn bao giờ hết, tôi là một con người – cho nên tôi biết đau cái đau của một con người và đồng loại. Và, tôi đã đau bảy năm nay rồi kia mà! Đã mất đi thời tuổi trẻ chẳng những đối với tôi, mà còn dây dưa đến đời con, đời cháu của chúng tôi!
Ngày ông Trưởng trại còn sống trên “đỉnh vinh quang của quyền lực, tiền bạc phủ phê”… Có một nhà báo viết một bài báo ca ngợi:
 
“Ông Lê Nhân, trưởng trại K.4 có nhiều công trạng… – đã biến một vùng đất đá ong khô cằn trên trăm mẫu đất thành một khu giải trí cao cấp! Ông Lê Nhân đã dày công “cải tạo” hàng nghìn quân, cán, chính VNCH lao động làm ra rất nhiều của cải cho nhà nước và những công trình để đời cho cách mạng! Và, đã được trung ương nhiều lần khen thưởng! Tấm lòng nhân ái đạo đức cách mạng của ông đã cải hóa những người Nguy Quân, Ngụy quyền lầm đường lạc lối! Trở thành những công dân tốt cho xã hội mới…”.
 
Tôi đã đọc bài báo đó… Suy cho cùng, ông trưởng trại K.4 là một cán bộ “nằm vùng” chữ nghĩa tuy không bao nhiêu (lớp ba). Nhưng so với những người cùng thời thì ông vượt trội hơn hẳn về thủ đoạn trong việc leo lên nắm lấy quyền lực và tạo vây cánh… Chúng tôi cũng công nhận ông trưởng trại cải tạo K.4, có đầu óc kinh doanh, có tầm nhìn kinh tế... Ông ta sắp xếp các ngành nghề.. - từ đó bắt những người tù cải tạo nai lưng làm ra của cải, đồng thời tận dụng tối đa tiền bạc, lương thực của thân nhân người tù cải tạo qua cánh cửa “thăm nuôi!”… Ngày trước, VNCH chúng tôi gọi là: Tiếp tế. Ngày tôi đi “học tập cải tạo” tôi vừa tròn hai mươi lăm tuổi, chưa lập gia đình. Sau bảy năm lao động khổ sai ở trong nhà tù nhỏ! Tôi được “tha” về sống trong xã hội mới… Nhưng trong lý lịch vẫn không tha. Hai chữ: “Ngụy quân – Ngụy quyền” đi theo suốt đời cho tới đời con, đời cháu…!
 
Bây giờ, thời gian cũng đã đi trôi qua – ba mươi bảy năm rồi còn gì…! Dư âm những việc các ông làm vẫn còn đọng lại trên gia đình mỗi người “tù cải tạo” chúng tôi, mà không bao giờ kể cho hết được.
 
Cá nhân tôi và gia đình tôi - không bao giờ có ý nghĩ thù hằn hay căm giận gì các ông. Tôi nghĩ các anh chị em khác cũng có thể cùng ý nghĩ như tôi thôi! Hơn nữa một số trong các ông đã chết hoặc không còn quyền lực… Chúng tôi là người lính tuy ngã ngựa “thất bại”…, nhưng quyết không bao giờ làm những chuyện của kẻ hèn, của kẻ tiểu nhân thù vặt, hạ cấp… trái với lương tâm, đạo đức của dân tộc Việt Nam. Chúng tôi – người chiến sĩ VNCH rất tôn trọng “TỔ QUỐC - DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM” trong bất cứ hoàn cảnh nào.

 Tôi xin cảm ơn Mẹ và các em tôi đã tảo tần, nhịn ăn để “thăm nuôi” an ủi tôi trong suốt bảy năm trong ngục tù! Tôi xin cảm ơn người phụ nữ chưa một lần thấy mặt… Đã ném qua hàng rào kẽm gai cho tôi một đòn bánh tét vào sáng mồng ba tết năm 1976, khi tôi đang tưới rau cạnh hàng rào. Đón tết trong lao tù lần đầu bằng đòn bánh tét mang hơi hướm miền Trung, trong lòng tôi càng đau xót hơn! Tôi sinh ra từ vùng quê Quảng Nam! Đòn bánh tét đó không phải của người thân mà là của một người phụ nữ chưa một lần thấy mặt, vì cảm cảnh số phận tù đày của chúng tôi mà quăng vô cho. Món nợ tình cảm yêu thương nầy, làm sao tôi có thể quên trong những lúc xuân về!
     
Tôi xin cảm ơn người em gái Phạm Thị Mùi – lặn lội từ Sài Gòn xuống thăm và cho tôi 20 viên thuốc trị đau bao tử! Không có những viên thuốc nầy, không biết chuyện gì xảy ra cho tính mạng của tôi. Ngoài những viên thuốc ra, còn lại là những xót xa nặng trĩu trên đôi mắt tưởng chừng như có thể xé nát chiếc áo tù trên thân thể tôi. Phải chi được phép khóc thì nơi đây đã là một dòng suối!
      
Tôi xin cảm ơn anh công an quản giáo có một giây phút “mềm lòng” nào đó…! Anh đã làm ngơ trong lúc dẫn chúng tôi đi cắt cỏ, đi rừng… Đã để cho chúng tôi được có chút thời gian nghỉ:  đi hái rau rừng về “cải thiện” bữa ăn…! Các anh cũng làm ngơ cho chúng tôi nhận chút thức ăn từ những người dân còn thương hại chúng tôi…! Các anh làm ngơ cho chúng tôi nhận thức ăn và mua dùm vài bi đông rượu từ người dân cho tôi, trong những ngày ở khu C – làm lúa tại Xuân Phú.
     
Tôi cũng không bao giờ quên những anh em “cải tạo viên” không may nằm xuống vĩnh viễn trong trại! Cầu xin Thượng Đế cho linh hồn các anh được thanh thản nơi miềm cực lạc! Mong linh hồn các anh về mách bảo thân nhân vợ con tìm ra mộ các anh mà đem về hương khói!
     
Một chuyến đi tưởng chỉ có hai mươi ngày theo như thông báo của “chính quyền cách mạng”... Thế mà, đã trở thành “MỘT CHUYẾN ĐI DÀI”…!!!
     
Đã qua ba mươi mấy năm. Chiến tranh đã nguội lạnh, những lô cốt, chiến hào cũng đã san bằng, thay vào đó là những vườn tượt xanh màu cây trái… Những con người trong cuộc chiến cũng theo dòng thời gian gậm nhấm xác thân… Vậy mà, sao nhìn mặt nhau, nắm tay nhau vẫn chưa thấy bằng lòng. Sự ngăn cách vô hình cứ đeo đẳng không dừng... Người sống đã vậy, còn người chết không mồ, không mả – ai là người tìm kiếm; cho dù có mồ, có mả cũng lạnh lẻo khói nhang! Buồn thay!
     
Viết lại những dòng nầy không có nghĩa là hận thù hay nuối tiếc gì. Bởi lịch sử có bao giờ quay lại đâu. Nhưng viết ra để cho lớp lớp những thế hệ con cháu mai sau biết đường mà đi. Biết đường mà tránh - bi kịch tang thương - không đáng xảy ra... Lịch sử dân tộc Việt Nam không thiếu những tấm lòng nhân ái đối với những người bại trận, đầu hàng. Vua Lê Lợi tha cho quân thù, và cấp lương thực, ngựa cho họ là quân Tàu xâm lăng về nước. Người Việt với người Việt (đồng bào) ruột thịt thì coi như kẻ tù truyền kiếp, đày đọa không nương tay, bởi chủ thuyết CS…
 
Ngày nay, trại K4 vẫn còn, và vẫn còn mãi trong lòng người… Mặc dù khu A , nội khu đã đập bỏ. Cái cổng đá và bức trường thành bằng đá ong ở mặt tiền cũng đập bỏ... Thay vào đó là dãy phố - một trệt một lầu hoặc hai lầu liên kế nhau trông rất đẹp mắt!
     
Khu B, gồm cả khu vườn Thống tướng Lê văn Tỵ - đã chuyển sang “kinh doanh du lịch – nhà hàng khách sạn – thể thao bơi lội…!”. Bên ngoài mặt tiền đường Quốc lộ 1. Xây một cái cổng lớn, trên bảng đề hàng chữ: “Khu Du Lich Hòa Bình”!
 
Trang Y Hạ - KBC 6235
 
Con Xin Kính dâng tặng Mẹ!
 
Tôi xin cúi đầu tưởng nhớ đến những anh chị em không may đã chết trong các trại “học tập trại tạo” với bất cứ lý do gì.
Xin cảm ơn những người thân một thời “thăm nuôi” chúng tôi, và khổ cực cũng không khác gì đi “học tập cải tạo”!
Thời gian trôi qua gần 37 năm rồi còn gì. Vết thương cũng đã lành, nhưng vẫn còn đau nhức khi trái gió trở trời…!!]
 
Trang Y Hạ - Một người tù “cải Tạo”!
 

                                  Người em gái Phạm Thị Mùi


Đêm Trại Tù K4 - LONG KHÁNH
 
Trang Y Hạ
 
Những con rệp ẩn mình trong kẽ gỗ
đêm mò ra tâm sự với người tù
trời bên ngoài gío núi lạnh âm u
chăn thiếu thốn co lòng không đủ ấm
 
đi “cải tạo” ngôn từ nghe lạ lẫm
đứa chăn trâu lên lớp dạy ông thầy
xem mạng người tệ hơn cả cỏ cây
tranh nhau xéo như một bầy qủy dữ
 
thân cải tạo chịu khổ đau trăm thứ
hơi thở ra toàn những sắn cùng khoai
muối quanh năm ướp thân xác mặn mòi
rau rừng độn cho đầy bao tử đói
 
nơi cải tạo rắn không sao sống nổi
cóc, nhái kia đã tuyệt chủng lâu rồi
chuột, thổ long tìm cách trốn xa khơi
loài rau dại bơ phờ - thêm tàn tạ
 
vắt sức lực đào ao rồi chẻ đá
làm quanh năm không thấy ánh mặt trời
“lao động là vinh quang” đến…tả tơi
thân còm cỏi bày bộ xương cách trí
 
bắt “học tập” nghe toàn lời hoa mỹ
“nào cơm no, áo ấm tựa thiên đàng
không còn người bóc lột, kẻ lang thang
mai mốt nọ quyết tiến lên xã nghĩa…”
 
nằm trăn trở nghĩ suy mà thấm thía
thương vợ con cơ cực ở quê nhà
thăm nuôi chồng mòn mỏi mấy năm qua
cố chờ đợi - biết có ngày đoàn tụ
 
quê hương Việt mây đen đang vần vũ
tự do bay công lý cũng thăng rồi
cha mẹ gìa sương trắng phủ đơn côi
thân cải tạo làm sao về vuốt mặt
 
đêm K4 ru nỗi buồn hiu hắt
tiếng kẻng vang giục gĩa một ngày dài
đưa mắt nhìn ánh sáng buổi ban mai
niềm hy vọng lại bắt đầu như thế
 
đất đá ong chưa bao giờ thấm lệ
thấm mồ hôi, thấm máu của người tù
lê chân cùm quằn quại sắt chữ “ U “
từ “Nhà Đá” đến “Chuồng Bò – Dãy Trại” !
 
người tù chết- xót thương người ở lại
mộ đìu hiu bên triền đá bơ vơ
nơi quê nhà vợ đợi với con chờ
nỗi uất nghẹn dâng trào…không dám khóc
 
mắt bọn chúng nhìn người tù hằn học
những đòn thù tra tấn qúa đau thương
những vết hằn còn in mãi trong xương
làm sao xóa dù thời gian đăng đẳng
 
đêm K4 nỗi hờn-đau-sâu lắng
đời chiến binh buông súng gục trên đồi
đêm đen nhìn qua từng ánh sao rơi
nghe đau xót thân phận tù “caỉ tạo”!
 
Trang Y Hạ 
 
TRỞ VỀ TỪ TRẠI CẢI TẠO
 
Bước chân ra khỏi trại tù
ta như từ cõi thiên thu trở về
nắng chiều bịn rịn đường quê
tìm về chốn cũ lòng tê tái lòng
 
vai mang nặng trĩu đợi mong
bao năm ôm lá xuôi dòng về đâu
mảnh đời xơ xác qua cầu
gương soi bóng nước đã nhầu thời gian
 
ngó ta - qúa đổi bàng hòang
ngó đời - đau khổ hai hàng xương đi
núi sông còn lại những gì
giọt rơi thấm mảnh chinh y mẹ gìn (1)
 
trời quê mây kéo kìn kìn
hồn thiêng nức nở mấy nghìn năm qua
về đâu mới gọi quê nhà
mà sao cố quốc chỉ là riêng ai
 
mẹ gìa áo rách vá vai
mừng rơi nước mắt - con trai đã về
nhìn đàn em nhỏ tái tê
lều tranh lộng gío bốn bề trơ vơ
 
nhìn lên vách lá - ảnh thờ
hình như cha cũng đợi chờ ngày vui
nén nhang cúi mặt ngùi ngùi
ép dòng lệ chảy vào người - quay ra
 
ta về như một bóng ma
mang thân cải tạo nhạt nhòa đời nhau
xuyên qua “một cuộc bể dâu”
chìm trong sử ký nhuộm màu tang thương
 
đêm ru nỗi nhớ đoạn trường
xa ta em có sầu vương giấc nồng  (2)
xa ta em có nhớ không
trong ta còn lại mấy giòng lưu ly
 
kể từ khi bước chân đi
coi như đã chết  còn gì đâu em
sống về - nỗi khổ dài thêm
vai mang “thằng ngụy” lại kèm “việt gian!”
 
Trang Y Hạ - 1983
 
 (1) Mẹ giấu chiếc áo lính của con trong
gối của Mẹ và gìn giữ cho đến ngày con
trai trở về.
(2) Hai mươi ngày không về người yêu cũng ra đi!
 
 




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét