Thư viện

16/12/2018

Gặp Lại Thằng Bạn Tù




GẶP LẠI THẰNG BẠN TÙ

      (Viết cho thằng Hải)

Tao gặp mầy giữa San Francisco
vui như đàn chim chiều bay về tổ
trời tự dưng mưa mấy ngày ướt phố
gặp nhau đây, như gặp giữa Thiên đàng

tao không giàu - mầy cũng chẳng cao sang
đủ trang trải - tao với mấy tâm sự
vẫn cười vang trên nỗi sầu viễn xứ
ly cà phê Startbucks - nhớ quê nhà

quăng mẹ đời trai trong ngục với ma
dòng cuồng lưu cuốn trôi vào trầm tích
đôi tay run lần tìm trang sử - lịch
biết đến bao giờ - đứng ở nơi đâu 

mầy với tao từng ngồi suốt đêm thâu
trơ mắt ếch để tìm ngôi sao xẹt
mảnh dư đồ tranh giành ra nát bét
hồn quê hương phiêu bạc khắp nhân gian

tao với mầy gặp nhau còn hỏi han
còn ngất ngưỡng bên ly bia ướp lạnh
sao có thằng chưa gặp mà đã tránh 
mầy hỏi tao - thì tao biết hỏi ai!


Trang Y Hạ
San Francisco 2010




14/12/2018

Lá Thư Viết Trong Đêm




Lá Thư Viết Trong Đêm

Thơ Trang Y Hạ

Tao đã mấy lần…
ngồi xem phim “Cầu Sông Kwai”!
của một thời thế giới chiến tranh.
thương cảnh “tù binh” quân Anh,
vắt kiệt sức người, làm ra – cây cầu bằng gỗ.

sương lam chướng khí, thật là gian khổ
sông mùa khô,
lộ bãi cát trắng tưng.
nắng như thiêu như đốt cánh rừng,
trên từng khuôn mặt da trắng.
đêm lạnh thấu xương – thiếu chiếu, thiếu chăn…
tù binh quân Anh cúi đầu thầm lặng.
làm cây cầu cho quân đội Nhật!

người thiếu tá chỉ huy tù binh quân Anh,
vị sĩ quan khôn ngoan và kiên cường – thật!
giữ phong cách quân đội hoàng gia.
người đại úy coi tù người Nhật
không bằng lòng – nhịp độ làm việc
kỷ luật vị thiếu tá, không tha…!

vị thiếu tá quân Anh ung dung, thật thà,
đi vào “chuồng cọp”!
tù binh quân Anh như rắn mất đầu.
ngồi lặng lẽ giữa đêm thâu
họ đồng lòng: lơ là công việc.
huynh đệ chi binh – quả là thắm thiết!
người đại úy quân Nhật – dù tàn ác, khắc khe,
cũng còn chút lương tri và hiểu biết…
vị thiếu tá được thả ra, tiếp tục chỉ huy công việc.
hoàn thành cây cầu!
mồ hôi, máu, nước mắt, thấm mãi đến nghìn sau.

những đau thương, và khổ nhục nát nhàu:
không thể nào so với người tù “cải tạo”!
ngày “giải phóng miền Nam” – như cơn bão.
người Nhật, người Anh,
dù sao – da họ – cũng khác màu.
đối xử như thế, có thể gọi là: có tình, có lý…
hai miền Nam, Bắc – đồng bào, ruột thịt.
trả thù: “bọn đầu hàng” như người mất trí.
thu đất, thu nhà, ép vợ, đuổi con…!
dồn “bọn ngụy bán nước” đi vào ngõ bí.
– “lao động là vinh quang”.
chửi bới, đánh đập, chết đói, khát khô
đồi thấp, đồi cao, xác vùi lấp – hoang mồ!
cầu sông Kwai – cây cầu gỗ.
dù cho gãy đổ,
cũng là “chiến công”!
Kwai, dòng sông
đi vào lịch sử.
tao chưa một lần đến đó nhìn thử.
ngày nay là: cây cầu sắt – Địa Danh.
từng nhốt tù binh Anh, một thời thế chiến.

tao hẹn một ngày, đến đó – thăm viếng.
tao hẹn một ngày đẹp trời sẽ đến Thái Lan.
trước: một chín bảy lăm – vẫn còn nghèo nàn;
nghèo hơn miền Nam cùng thời gian đó,
họ đã vượt qua gian khó.
hóa rồng, hóa hổ – tiến bước…
đất nước “anh hùng” – vì sao mãi trượt?!

mầy mới thật là: có phước!
đứng thẳng lưng – suy tư trên cầu…
mầy có nghe: núi cao tịch mịch:
vọng đau thương chảy trong hồn người lính?
bánh sắt nghiến đường ray đoàn tàu đi qua…
mầy có nghe tiếng nấc của hồn ma
chết oan trong cuộc chiến!
khúc quân hành và nỗi nhớ quê biền biệt!

tao cảm ơn mầy!
đã ngồi xuống, bên vệ đường mà viết.
viết dùm tao, mấy vần thơ: xót người đồng cảnh.
những người lính năm xưa – mồ hoang mả lạnh.
những người lính bất hạnh – mãi nhớ quê nhà!

tao nhìn lại tao, lính già quả thật xót xa
viết lá thư cho mầy – từ phương trời lạ hoắc!

Trang Y Hạ
Gửi thằng Út, (Tây Ninh)



12/12/2018

Ngồi Đợi Chúa Sinh Ra



Ngồi Đợi Chúa Sinh Ra

Gió lạnh tụ về trên đồi đá
hai thằng ngồi - đợi Chúa sinh ra
hai năm chưa biết tin gì cả
ray rức niềm chung nỗi nhớ nhà

khẩu phần teo tóp bụng lưng lửng
thiếu mỡ, thiếu đường da xanh xao
lao động, chiều về đi không vững
cùng mẹ, mà sao chẳng đồng bào

cần xé dính cơm - gom cho vịt
nửa đêm “đột kích” lén đem về
anh bạn cùng phòng đem giấu tịt
chia nhau ngấu nghiến chẳng khen chê

đêm nay Chúa giáng sinh trần thế
trẻ thơ còn bú chưa hiểu gì
chờ Chúa lớn khôn con sẽ kể
hòa bình thống nhất lại phân ly

guigoz, con nấu dăm hạt bắp
đợi ngôi sao lạ đến phương nào
gia đình hai năm chưa được gặp
chuông thánh vọng về lòng nao nao


chúng con những thằng từ tứ xứ
đầu hàng quăng súng tụ nơi đây
đầu hàng, sao bắt tù vậy hử
đói rách khác chi bị lưu đày

trời khuya sương lạnh lòng quặn thắt
áo tù đã mỏng lại rách bươn
thánh ca theo gió ru dìu dặt
Chúa cũng sinh ra ở trên đường

chắc chắn đêm nay mẹ ngồi đọc
cho đầy tràng hạt.. nguyện cho con
chắc chắn đêm nay mẹ ngồi khóc
xa cách mấy năm biết sống còn

gô bắp con chêm ba lần nước
chia nhau mấy hạt mừng Giáng Sinh
nếu phải là Vua, con cố bước
Bê-Lem ở đó - Chúa một mình

thân tù, chúng con lắm tủi nhục
có khác gì xưa Chúa đóng đinh
miền nam con sống - đang hạnh phúc
tai ương ấp xuống bất thình lình

gió lạnh tụ về trên đồi đá
hai thằng ngồi đợi Chúa sinh ra
xa cách ruột rà, sầu bao nả
sao khuya dấu mặt giữa ngân hà.
   
Trang Y Hạ

K4, Giáng Sinh 1976




Giáng Sinh Có Về




Giáng Sinh Có Về

Giáng sinh về hả - chắc không thể
trở lại bên người đi dạo chơi
ở non với khỉ * - chuyện là thế
ê ẩm châu thân chán mẹ đời

chinh chiến lâu ngày tơi áo trận
đôi khi dẫn Chúa dạo rừng hoang
lửa khói - Chúa buồn - chiên lận đận
lắng nghe khe suối nhạc Thiên đàng

giật mình đổi gác mơ con nít
máng cỏ cùng ngồi giỡn Chúa chơi
núi cao rừng rậm màu đen kịt
hứng giọt mưa rơi lạnh cóng người

poncho trùm kín tìm hơi ấm
lời thánh ca buồn vọng gió mây
trời đêm lần bước dài thăm thẳm
hiển hiện ngôi cao ở chốn nầy

chim chóc trở mình rung cánh lá
giáng sinh thiệp chúc gởi về đâu
nhớ nhớ dáng người - ôi nhớ quá
có thấm cho chăng - mấy giọt sầu

nôn nao tâm thức hồi chuông đổ
tinh khiết - đệm sương đợi Chúa về
súng đạn quỷ kinh - quên cám dỗ
tâm lòng sạch tội giữa sơn khê

giáng sinh về hả - làm sao thể
gai kẽm một thời vây xác thân
chờ Chúa -áo tù ngân ngấn lệ
trần ai vướng nợ biết bao lần

ăn năn cầu nguyện trong hiu quạnh
xót tuổi đời trai bỏ chiến trường
một thời giữ nước - niềm kiêu hãnh
quăng súng - đêm nghe dế gọi sương.

Trang Y Hạ

* Ở “trại tù”! Bài thơ cũ: Đã lâu, lắm lắm…!









05/12/2018

Ngấn Thời Gian




Ngấn Thời Gian

Sương tím đè bến nặng
đầu chạm ngấn thời gian
nan đời đan mấy rặng
núi nhìn cây mơ màng.

Trang Y Hạ



27/11/2018

Đại Tướng Hoa Kỳ, Mac.Arthur với Nhật Bản




Đại Tướng Hoa Kỳ, Mac.Arthur với Nhật Bản

Trang Y Hạ

     Cho tới tận hôm nay… Giả dụ: Nếu có ai đó nói rằng: Đế quốc Mỹ vẫn còn xâm lược Nhật Bản, thì rõ ràng… Đế quốc Mỹ vẫn còn đang “Xâm Lược” Nhật Bản với bốn mươi nghìn quân lính hiện đang đồn trú.

      Ngày 28.8.1945. Đại tướng Douglas Mac. Arthur - Chỉ huy tối cao lực lượng đồng minh “Chiếm Đóng”  và chiếm đóng lâu dài trên đất nước Nhật Bản. Ngày 2.9.1945. Nhật Hoàng Hirohito chấp nhận đầu hàng vô điều kiện bởi hai quả bom nguyên tử do không quân Mỹ thả xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki... Lễ ký đầu hàng được tổ chức trên chiếc tàu USS Missouri của Hải quân Hoa Kỳ. Người chịu trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật và ổn định nước Nhật Bản là: Đại tướng Hoa Kỳ Douglas Mac.Arthur . Mac.Arthur - là một vị tướng chẳng những có tài về quân sự, trong ông còn chứa đựng một “Tâm hồn cao thượng”  của bên chiến thắng…! Người Nhật chắc chắn sẽ giận ông và càng buồn hơn nữa bởi - Tướng quân Yamamoto tài ba của họ đã bị không quân Hoa Kỳ bắn rơi máy bay và tử trận trên bầu trời của quần đảo Salomon [Úc châu]

     Đại tướng Mac.Arthur  và quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản sau khi Nhật Bản đầu hàng với một sứ mạng khác – Sứ mạng đó là: Tái thiết và ổn định trật tự nước Nhật; xoa dịu nỗi đau bên thua trận bằng cả vật chất lẫn tinh thần. Do đó, mà tướng Mac. Arthur đã được người Nhật vinh danh là một trong mười hai danh nhân trong bảng “phong thần” của nước Nhật Bản. Quân đội Nhật bị thua trận - đầu hàng! Vậy thì cớ gì người Nhật lại đi vinh danh một vị tướng lãnh Hoa Kỳ tới “xâm lược và kèm kẹp”…?

Câu trả lời như sau:

     Tháng 8/1945, tướng quân MacArthur và quân đội Hoa Kỳ đặt chân lên đất Nhật bản. Cả nước Nhật Bản kinh hoàng, lo sợ và hoang mang cho sự tồn sinh của dân tộc. Trong lòng họ nghĩ là đất nước Nhật sẽ bị người Mỹ xâm chiếm vĩnh viễn. Mất nước là sự thật hiển nhiên không thể nào lấy lại được! Một sự nhục nhã cho quân đội Thiên Hoàng cũng như kiếm sĩ...! Họ nghĩ rồi đây người Mỹ sẽ trả thù…! [Bên phe chiến thắng được có cái quyền đó]. Dù sự trả thù nhiều hay ít, dã man hay nhân đạo mà thôi. Bởi chính bản thân người Nhật - họ cũng đã hiểu quá rõ những tội ác mà quân đội Nhật gây ra tại các quốc gia mà họ chiếm đóng - thậm chí họ đã đối xử tệ bạc với tù binh đồng minh Hoa Kỳ…!  [Phim “Cầu Sông Kwai”].

     Tướng Mac.Arthur mang quân đến Nhật Bản không phải để trả thù cho một “Trân Châu Cảng - ở Honolulu, Hawaii”  đã bị không quân Nhật Hoàng dội bom tan nát… - mà là: Đem lại Hòa bình, chính nghĩa, khoan dung độ lượng, dân chủ và phục hồi kinh tế cũng như tôn trọng danh dự cho nước Nhật. Mac.Arthur đem tới cho người dân Nhật không chỉ có vật chất, mà cái quý hơn hết đó là “Niềm Tin” của một quốc gia Hoa Kỳ văn minh, bác ái… Một bản hiến pháp hòa bình tự chủ, không áp đặt... Hoàn toàn không một chút hận thù hay khinh miệt bên thua cuộc. Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp: Các nhà máy phục vụ cho chiến tranh hoang tàn, công nhân thất nghiệp. Các khu kỹ nghệ cũng không thể hoạt động vì thiếu nguyên vật liệu… Thiếu gạo, dân chúng phải ăn độn: sắn, khoai… Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn độn như vậy. Thuốc men không đủ để điều trị cho các nạn nhân…! Nạn đói bao phủ khắp đất nước Phù Tang. Đại tướng Mac. Arthur tận mắt chứng kiến trước nỗi đau khổ tang thương của người dân Nhật; của một đất nước Nhật Bản bại trận - Đại tướng Mac.Arthur thật sự cảm động. Tướng MacArthur viết thư trình bày với quốc hội Hoa Kỳ; với chính phủ Hoa Kỳ để xin cứu trợ và chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận trợ cấp khẩn cấp cho chính phủ Nhật Bản gồm:

“Ba triệu rưỡi tấn lương thực, thuốc men cùng với hai tỷ Mỹ kim”

Không chỉ có chừng đó; chừng đó viện trợ chỉ là “cứu đói” ngay tức thì… Hoa Kỳ, sau này còn đổ hàng tỷ dollar nữa để vực dậy nền kinh tế Nhật. Và, cũng trong thời gian nầy, Hoa Kỳ gấp rút tái thiết Châu Âu sau chiến tranh bằng chương trình được mang tên: Marshal với ngân khoảng khổng lồ - 173 tỷ dollar!

     Đại tướng Mc. Arthur - cam kết giữ lại chính quyền Nhật Bản - giữ lại và ân xá cho Thiên Hoàng. Đại tướng còn quan tâm tới từng số phận của người lính Nhật Bản dù thân thể còn lành lặn hay bị thương - tạo điều kiện để cho họ an tâm làm lại cuộc đời sau khi từ bỏ vũ khí chứ không truy tố hay treo cổ họ. Cho họ được quyền thờ cúng vong hồn những binh sĩ Nhật Hoàng đã chết trong cuộc chiến tại các chùa chiền. Đại tướng Mc Arthur cùng với mấy trăm nghìn lính Hoa Kỳ đã lấy thiện tâm, lấy tinh thần hy sinh phục vụ một cách tận tụy để chinh phục lòng người Nhật Bản. Tránh mọi va chạm hiểu lầm để cho người dân Nhật thấy rõ là đất nước của họ không bị Hoa Kỳ xâm lược... Thời gian sau khi Hoa Kỳ trao trả độc lập. Chính người Nhật cũng đã tự vấn lương tâm: “Nếu Người Nhật chiến thắng, thì người Nhật có làm được như người Mỹ…?”.

     Đại tướng Mac.Arthur bắt tay tái thiết Nhật Bản. Ông lập tức ra lệnh thả hết tội phạm chính trị - trong đó có nhiều Đảng viên Cộng sản Nhật bị chính phủ Nhật bắt giam.

     Đại tướng cho phép phụ nữ Nhật Bản lập hội. Soạn luật và công bố luật cho giới phụ nữ. Người phụ nữ Nhật Bản được bình đẳng với nam giới… Lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản người phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử. Thành phố Tokyo có một cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy bị xúc phạm. Đại tướng Mac.Arthur giải thích:

“Mọi người hãy mạnh dạn chọn cô ấy để cho cô ấy có trách nhiệm phục vụ mọi người, đừng vì lý do cô ấy là kỹ nữ mà khinh thị ”. [Ý tưởng nầy ảnh hưởng từ Kinh Thánh. Chúa cũng đã tha thứ cho người phụ nữ lầm lỡ]

     Người dân Nhật lần đầu tiên biết thế nào là dân chủ, nên họ cảm thấy ngỡ ngàng, nhưng dần dà rồi cũng hiểu ra và chấp nhận nền - Tự do, Dân chủ, Nhân quyền!
    
     Đại tướng Mac.Arthur tuyên bố hủy bỏ lệnh - cấm báo chí của chính phủ Nhật áp dụng trong thời gian chiến tranh. Người dân Nhật Bản từ nay được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Báo chí tư nhân được quyền phát hành.

     Đại tướng Mac.Arthur cho ban hành “Luật Công Đoàn”. Công nhân được quyền tổ chức các hội đoàn và công đoàn để tranh đấu quyền lợi cho chính mình. Đại tướng Mac.Arthur cho ban hành “Luật lao động”. Quy định giờ làm việc và tiền lương, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ. Giờ nghỉ phép hằng năm. Thời gian nghỉ ngơi cho nữ công nhân sinh con…! Tất cả những Luật trên và các luật lệ khác đều ban hành trong năm 1945. Ngoài ra còn - Soạn Thảo Hiến Pháp: Năm 1946 - Soạn Thảo Hiến Pháp cho Nhật Bản:

     Ngày 3/2/1946, Đại tướng Mac.Arthur cùng các bên - dựa theo tinh thần hiến pháp Hoa Kỳ soạn hiến pháp mới cho Nhật Bản. Hiến pháp mới yêu cầu nội các chính phủ Nhật Bản phải được toàn thể cử tri chọn và bầu một cách - công khai, công bằng và tự do dân chủ… Nội các chính phủ Nhật phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quốc dân. Ba tháng sau [tháng 5] liên minh cùng soạn bản hiến pháp hoàn thành bản dự thảo Hiến pháp. Tháng 10. 1946, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Tháng 11.1946 Thiên Hoàng cho ban hành Hiến pháp mới của Nhật bản cho toàn dân Nhật cũng như thế giới.

     Bản Hiến pháp do Hoa Kỳ - bên thắng trận - đã dựa vào giá trị dân chủ của Hoa Kỳ… Đó là bản Hiến pháp hòa bình đem lại hạnh phúc cho người dân Nhật thực sự. Nội dung hiến pháp chủ đích tối thượng là phục vụ quyền lợi cho công dân Nhật Bản, cho đất nước Nhật Bản. Các quyền căn bản là: Quyền ứng cử, Quyền bầu cử, Quyền tự do lập hội, Quyền tự do xuất bản báo chí, in ấn. Quyền tự do cư trú, Quyền tự do kinh doanh. Về Tư pháp - tất cả người dân Nhật được bảo vệ và công bằng trước Luật Pháp. Cảnh sát không được bắt, giam cầm người dân vô cớ một khi chưa được luận tội tại tòa án và phải có luật sư bào chữa.
    
     Cuối năm 1946. Quốc hội Nhật đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Nông dân nào không có tiền mua đất, chính phủ cho vay tiền. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu. Người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình. Luật Cải Cách Ruộng Đất của chính phủ Nhật rất nhân bản. Không đổ một giọt máu.

     Tại Miền Nam Việt Nam chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm - trong chính sách “Cải Cách Ruộng Đất” cũng làm không khác Nhật Bản. Chính phủ mua lại đất của các địa chủ, chỉ chừa lại cho họ - một trăm mẫu. Số đất mua sẽ được phân phát cho nông dân mà chính phủ không lấy tiền. Sự khác biệt với Nhật Bản là ở chỗ - Chính phủ Ngô Đình Diệm không lấy tiền của nông dân vì họ quá nghèo! Lại cũng không đổ một giọt máu chứ nói gì tới việc giết người.

    Luật Giáo dục Nhật Bản cũng được ban hành vào tháng 3.1947. Mục tiêu giáo dục là: Tôn trọng quyền tư do cá nhân – yêu đồng loại – yêu hòa bình.

     Chính phủ Nhật Bản không kiểm soát giáo dục. Một Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra sẽ đảm nhận soạn thảo đường hướng giáo dục và in soạn sách giáo khoa. Tự lựa chọn giáo sư giảng dạy... Nền giáo dục Nhật Bản không bị “bên thắng cuộc” Hoa Kỳ áp đặt phải học theo cách giáo dục của Hoa Kỳ. Nhật Bản vẫn giữ nguyên - truyền thống văn hóa chữ viết, tiếng nói từ nghìn xưa... Hoa Kỳ không đồng hóa hay xóa đi văn hóa của người Nhật. Dân Nhật biết ơn Hoa Kỳ nên dốc lòng đào tạo hàng ngũ trí thức phục vụ quê hương đất nước và đã đưa nước Nhật tới phồn thịnh. Chính phủ Nam Hàn sau này đã bê y chang cách giáo dục của Nhật [trừ địa lý và lịch sử] đem về nước day cho học sinh Nam Hàn và rồi… Nam Hàn cũng đã đưa đất nước tới thịnh vượng cho tới ngày nay.

     Tại Miền Nam Việt Nam dưới thời đệ nhất cộng hòa và tiếp theo - nền giáo dục cũng được độc lập như ở Nhật. Một nền giáo dục nhân bản, yêu nước, khai phóng cộng với tiêu chí: Tổ quốc - Danh dự - Trách nhiệm. Từ đó, đã đào tạo ra đội ngũ trí thức khoa bảng phục vụ trong các lãnh vực - Khoa học, Kiến trúc, Y dược, Quốc phòng, Hành chánh và các bộ môn khác trong xã hội…. Môn: công dân giáo dục, Đức dục dạy cho con người biết giữ - Tư cách - Nhân cách - Đạo đức.

     Chính phủ Hoa Kỳ không “xâm lược” Nhật Bản, không đưa dân Hoa Kỳ qua Nhật sinh sống và đồng hóa người Nhật. Hoa Kỳ trao trả nền độc lập cho Nhật Bản vào năm 1952 sau bảy năm “chiếm đóng” và đã lấy tiền thuế của chính người dân hoa Kỳ để tái thiết Nhật Bản trở thành một quốc gia giàu có.

     Ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman giải tán chức vụ “Tư lệnh quân chiếm đóng” để chuẩn bị trao trả nền độc lập cho Nhật Bản.Triệu hồi tướng MacArthur về nước. 

Nhật Hoàng Hirohima tới tiễn đưa và nói lời cảm ơn thật cảm động! Đại tướng Mac.Arthur cũng phải rơi lệ…!

Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước đi trên con đường hòa bình. Tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”. Người dân Nhật - Hàng triệu người túa ra đứng hai bên đường tiễn đưa Đại tướng Mac.Arthur trở về lại Hoa Kỳ trong tiếng hoan hô dậy trời và nước mắt.
     
     Xin nói thêm:
     Trước khi thả hai trái bom nguyên tử. Phía Hoa Kỳ đã rải - Sáu mươi ba [63] triệu tờ truyền đơn trên toàn lãnh thổ Nhật.

     Nội dung truyền đơn như sau:

    “Hãy đọc thật kỹ vì nó có thể cứu lấy mạng sống của chính bạn, người thân hay bạn bè của bạn.

    Trong vài ngày tới, một số hoặc tất cả những thành phố được liệt kê trong danh sách ở mặt sau truyền đơn này sẽ bị phá hủy bởi những quả bom của người Mỹ. Những thành phố này có các hãng xưởng, nhà máy lắp ráp chế tạo thiết bị quân sự.

     Chúng tôi quyết tâm tiêu diệt tất cả những trang thiết bị mà các phe phái quân sự đang sử dụng để kết thúc cuộc chiến vô nghĩa này. Nhưng, không may, những quả bom không có mắt. Vì vậy, theo các chính sách nhân đạo của Mỹ, Không quân Mỹ, chúng tôi không muốn làm tổn thương người vô tội, do đó chúng tôi cảnh báo và yêu cầu bạn hãy di tản khỏi những thành phố được liệt kê để cứu lấy mạng sống của chính bạn.

     Người Mỹ không chiến đấu chống lại nhân dân Nhật Bản, mà chiến đấu chống lại các thế lực quân sự đang sử dụng nhân dân Nhật Bản. Nền hòa bình mà Mỹ mang lại sẽ giải thoát cho người dân như các bạn đang phải sống trong sự áp bức của quân đội Nhật và đồng thời cũng có ý nghĩa mang đến một Nhật Bản mới tốt đẹp hơn. Các bạn có thể mang hòa bình trở lại bằng cách chọn ra những người lãnh đạo mới và giỏi, những người thật sự muốn kết thúc chiến tranh.

     Chúng tôi không thể hứa rằng những thành phố này sẽ được an toàn, một số hoặc tất cả sẽ bị phá hủy. Do vậy, hãy chú ý đến cảnh báo này và sơ tán khỏi các thành phố này ngay lập tức!”

     [Truyền đơn viết bằng tiếng Nhật]

     Rất tiếc rằng chính phủ Nhật Bản đã không tin nên không di tản dân chúng. Và, hai trái bom nguyên tử đã làm thiệt mạng - Hai trăm nghìn người.

     Hai quả bom nguyên tử của Mỹ đã tàn phá hai thành phố Nhật là: Nagasaki và Hiroshima. Nhật bản đầu hàng! Người Mỹ “tiếp quản” nước Nhật. Người Mỹ không đối xử bằng hận thù kèm kẹp - mà, bằng tình nhân ái, bao dung tha thứ và tôn trọng - lại còn rộng lòng bỏ tiền tỷ ra tái thiết lại nước Nhật thịnh vượng cho tới hôm nay. Hằng năm nhà trường Nhật Bản vẫn tổ chức cho học sinh tới thăm viếng hai thành phố bị bom nguyên tử, giải thích cho học sinh biết nguyên do nước Nhật bị Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử gây chết chóc cho hàng trăm nghìn người dân. Người Nhật Bản nhắc lại mốc lịch sử để tưởng niệm về một giai đoạn hào hùng của quân đội Nhật Hoàng trong thế chiến thứ hai… Và nỗi đắng cay cho sự bại trận của một đội quân đi xâm chiếm… Người Nhật Bản không khơi dậy lòng thù hận cho học sinh để trả thù người Mỹ. Người Nhật không dạy cho học sinh lòng hận thù người Mỹ. Người Nhật không xây “Bia Căm Thù” người Mỹ và cũng không lập “Viện Bảo tàng tội ác chiến tranh” do người Mỹ gây ra.

     Dù Hoa Kỳ không áp đặt bất cứ chuyện gì lên đầu người dân Nhật thua trận. Người Nhật vì lòng biết ơn mà chịu ảnh hưởng [tối thiểu...]. Đó là người Nhật Bản bỏ hẳn ngày tết âm lịch để theo tết dương lịch. Hay hơn nữa, là người Nhật Bản mạnh dạn thoát ra khỏi cái bóng “nho giáo” trì trệ để ngẩng đầu tiến sâu vào lĩnh vực khoa học  kỹ thuật… Lịch sử chứng minh rằng: Người Nhật bại trận bởi quân đội đồng minh Hoa Kỳ là một sự - May mắn và Hạnh phúc!

    Tiếc thay!
     Miền Nam Việt Nam [VNCH] thì không được “May mắn và Hạnh phúc” như Nhật Bản. Lịch sử vẫn là lịch sử và lịch sử có lý lẽ riêng của lịch sử…! Gần hai triệu người Việt Nam tỵ nạn vẫn luôn mang ơn đất nước Hoa Kỳ đã cho tá túc… Đồng thời, luôn làm tròn phận sự của một người công dân Hoa Kỳ gốc Việt!

Trang Y Hạ
San Francisco, 2009






19/11/2018

Nguyệt Mù




Nguyệt Mù

Nửa khuya lạc bước cung hằng
nguyệt mù dò dẫm vết nhăn rêu mờ
cuội khờ quản gốc trơ trơ
gió âm lá trắng bơ vơ tội tình

thiếu chàng phận thiếp linh đinh
quanh năm gặp tháng dáng hình đen thui
tưởng rằng suốt kiếp ngậm ngùi
thương hoa chàng đẩy mặt trời ghé thăm.

Trang Y Hạ



12/11/2018

Nguyễn Du & Tiếng Cười Trong Thơ Kiều




Nguyễn Du & Tiếng Cười Trong Thơ Kiều

     Là con người, thì không thể thiếu tiếng cười... Tiếng cười thuộc về tâm sinh lý. Từ đó mà từ xưa tới nay người ta tìm tòi nghiên cứu xem là đã có bao nhiêu - hình thức, trạng thái để cho ra tiếng cười. Tiếng cười khá đa dạng: Cười ý nhị, Cười tinh tế, Cười thâm trầm. Cười nhạo, Cười tình, Cười mỉm, Cười nụ, Cười héo hắt, Cười khinh mạn, Cười đau khổ, Cười cầu tài, Cười cầu hòa, Cười mỉa mai, Cười nham nhở, Cười đắc thắng… Tạm đúc kết là đã có: trên tám chục loại tiếng cười khác nhau.

    Về mặt y học các thầy thuốc Trung Hoa ngày xưa cho rằng tiếng cười đem lại sức khỏe. “Một trận cười mười thang thuốc bổ”. Về hội họa có Họa sĩ Leona da vinci với bức họa - nụ cười của nàng Mona Lisa. Một họa phẩm có một không hai trong ngành hội họa thế giới từ cổ chi kim. Về mặt xã hội thì tiếng cười là nhịp nối thân thiện giữa người và người.

     Thơ diễn tả nụ cười “nguy hiểm” tới nỗi nghiêng nước, nghiêng thành – thì đã có: thi sĩ Lý Diên Niên bên Trung Hoa. Ông có bài “Giai Nhân Ca” như sau:

     Giai Nhân Ca
     Bắc phương hữu giai nhân
     Tuyệt thế nhi độc lập
     Nhất cố khuynh nhân thành
     Tái cố khuynh nhân quốc
     Ninh bất tri, khuynh thành dữ khuynh quốc
     Giai nhân nan tái đắc

     Trang Y Hạ - Tạm dịch:
    
     Bài Ca Người Đẹp
     Phương bắc có người đẹp
     Đẹp nhưng sống đơn độc
     Ngoảnh lại một lần thì làm nghiêng thành
     Ngoảnh lại hai lần thì làm đổ nước
     Thà rằng không biết nghiêng thành hay nghiêng nước
     Người đẹp đó chắc hẳn khó gặp được.

Thi sĩ Lý Bạch cũng có câu:

     “Mỹ nhân nhất tiếu hoán thiên kim”
Tạm dịch:
      [Nụ cười của giai nhân đổi nghìn vàng]

     Tiếng cười làm mất cả giang san nhà Châu đó là tiếng cười của Hoàng Hậu Bao Tự vợ của U Vương [781 – 770] trước Công nguyên. Bao Tự đẹp nhưng lạnh lùng. Nhà vua cho cung nữ xé lụa cho vui - Bao Tự vẫn không cười. Quách Thạch Phủ là vị quan - mách nước với U Vương:

     “Tiên đế cho xây trên hai mươi phong hỏa đài phòng khi có biến loạn. Bệ hạ cho đốt lửa, chư hầu kéo quân tới thấy kinh đô an bình. Hoàng Hậu sẽ cười”.


     Quả đúng như vậy! Bao Tự cười khi thấy quân chư hầu bị lừa! Thời gian sau quân rợ Nhung đánh chiếm kinh đô nhà Châu. Vua cho đốt “phong hỏa đài” báo tin nhưng quân chư hầu không tới. Tới khi biết chắc có biến… Chư hầu kéo quân trợ giúp thì đã trễ - U Vương đã bị giết chết. Quân rợ Nhung sợ quân Chư hầu nên bỏ chạy. Nàng Bao Tự chạy theo không kịp đành tự tử.
          
     Có người nói rằng: “Người Việt Nam lúc nào cũng cười”. Thử nghĩ lại thì một phần nào đó cũng… hơi đúng đúng! [Buồn cũng cười, vui cũng cười, không vui không buồn cũng cười, sai hay đúng cũng, cười… cười…!]. Nói chung là lúc nào cũng “nhăn răng” ra cười; cười theo kiểu “dĩ hòa vi quý” và cũng có thể nói là cười theo kiểu ba phải cho qua chuyện.  Người xưa nói: “Nộ giả thường tình, tiếu giả bất khả trắc”. Nghĩ là: [người nóng giận nói ra ào ào, rồi thôi. Không để bụng. Còn loại người mà gặp chuyện gì cũng nhếch mép, cười mỉm. Họ không tỏ thái độ nên không biết trong đầu họ nghĩ gì, khó đề phòng!].

     Những Câu Thơ Cười Trong Truyện Kiều.    

     Trong các tác phẩm văn, thơ, kịch… tự cổ chí kim lúc nào cũng không thiếu tiếng cười. Duy chỉ thơ là thiếu vắng tiếng cười [trừ thơ trào phúng]. Trong “Kim Vân Kiều Truyện” của Nguyễn Du cũng không thoát ra khỏi ảnh hưởng đó. Ba nghìn hai trăm năm mươi bốn câu thơ [3254] trong truyện Kiều chỉ có - hai mươi sáu câu có “cười” [26]. Trong số hai mươi sáu câu thơ có cười không chỉ thuần là do con người cười, mà một số câu Nguyễn Du cho cười - qua gián tiếp, cười qua chuyển tiếp từ mọi hoàn cảnh khác nhau! Thí dụ: khi vào truyện, Nguyễn Du tả sắc đẹp của nàng Thúy Vân:

     Hoa cười, ngọc thốt đoan trang      [câu 21]

Hoa cười, ngọc nói - nhân cách hóa tiếng cười bằng hoa - rất thật, rất tự nhiên trong sáng, xinh đẹp chứ không hề gượng ép.

     Theo phong tục Trung Hoa [thời nhà Minh], mỗi mùa xuân có Lễ Thanh Minh, Hội Đạp Thanh. Các chị em Thúy Kiều đi du xuân ở Bắc Kinh. Trời đã xuống chiều, ba chị em Thúy Kiều hối hả lo về nhà. Bất chợt, Thúy Kiều nhìn bên đường có một ngôi mộ lẻ loi cỏ mọc đầy… Vương Quan – em trai Thúy Kiều cho biết đó là mộ của nàng Đạm Tiên – một kỹ nữ tài sắc một thời… Kiều cảm động than khóc cho phận hồng nhan bạc mệnh rồi thắp nhang khấn vái, khóc thương...! Thúy Vân dửng dưng khi thấy hành động khác thường của chị mình, nên cười:

     Vân rằng: “Chị cũng nực cười
     Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”   [câu 105]

     Ngôi mộ của nàng kỹ nữ Đạm Tiên là do một người đàn ông chôn cất. Người đàn ông nầy nghe danh Đạm Tiên đã lâu nên tìm tới để thỏa lòng... “Có người khách ở viễn phương. Tai nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi. Thuyền tình vừa ghé đến nơi. Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ”. Hai câu thơ sau Nguyễn Du lấy ý từ hai câu:

     “Nhất phiến tình chu dĩ đáo ngạn.
       Bình trầm rơi chiết dĩ đa thời”.

     Gia đình ông Vương Viên Ngoại bị “thằng bán tơ” lừa bịp mà bị án oan ức. Đám quan lại tham ô đòi tiền... Quan đời nào mà chẳng tham… Trong chữ quan có hai chữ “khẩu”. Một miệng thì nói ngang ngược, nhũng nhiễu… Một miệng thì phàm ăn; ăn bất cứ thứ gì ăn được là ăn cho bằng sạch. Do không có tiền nộp cho quan nên Thúy Kiều phải bán mình lấy tiền chuộc cha. Nàng nói thật chuyện có tình cảm của nàng với Kim Trọng cho cha mẹ biết và nhờ Thúy Vân thay nàng đáp lại ân nghĩa với chàng Kim. Dù sau nầy có chết đi thì cũng:

     Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây    [Câu. 734]

Tiếng cười quan trọng tới độ nàng Kiều cũng như thiên hạ phải chuẩn bị “tiếng cười” cho mai hậu một khi xuống suối vàng khỏi bẽ bang với người xưa.

     Một kẻ ăn chơi trác táng tới tan gia bại sản là Mã Giám Sinh, quanh năm sống nhờ nơi chốn thanh lâu ở huyện Lâm Truy cùng với mụ tú bà quá lứa – đôi bên già nhân nghĩa non vợ chồng. Lão ta mua Thúy Kiều với giá rẻ mạt “bốn trăm năm mươi lạng vàng”. [theo thanh tâm tài tử là bạc]. Lão cũng nhận ra tiếng cười của Thúy Kiều sẽ có sức thu hút khách làng chơi bốn phương.

     “Một cười này, hẳn nghìn vàng chẳng ngoa”     [Câu. 826]

     Trong kinh thánh công giáo có nói tới tên Giu-da bán Chúa chỉ có ba mười đồng mà bị nguyền rủa… Tên Sở Khanh cũng vì ba mươi lạng vàng của mụ tú già đất Lâm Truy mà hại Thúy kiều te tua xơ mướp… Sở Khanh cũng bị người đời nguyền rủa; chẳng những bị nguyền rủa mà còn trở thành một “thành ngữ” chỉ về những anh chàng nào thích “ăn bánh” rồi quốc ngựa truy phong vì không muốn trả tiền.

     Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương     [Câu 1186]

Chê, cười - nghĩ ra cũng còn nhẹ tội cho gã Sở Khanh.

     Mụ tú già đất Lâm Truy giận thằng chồng hờ họ Mã “hớt” đời con gái của Thúy Kiều nên giận cá chém thớt hành hạ đòn roi với Thúy Kiều… Bắt Thúy Kiều phải học cách - lẳng lơ gợi mời khách làng chơi với đủ các ngón ăn chơi trác táng. “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” . Tính ra tú bà, tú ông ngày xưa cũng cơ cực vì phải [dạy nghề] cho các cô. Ngày nay – thời đại “computer” các cô chỉ cần nhích chuột là có mấy trang web [...!] diễn trò đủ kiểu. Các “tú” chỉ lo đếm tiền, khỏe re!

     Khi ngâm-ngợi nguyệt, khi cười-cợt hoa     [Câu. 1214]

     Mụ tù già sau khi “tân trang” nàng Kiều thành một kỹ nữ không thua chi nàng Đạm Tiên. Mụ liền bỏ tiền ra quảng cáo rầm rộ “Món hàng chất lượng cao”! Mụ nhờ các ông thi sĩ tả Thúy kiều với những câu thơ tình:  anh…  anh…, em… em…! Lâm li sướt mướt – từ nét đẹp cho tới tài đánh đàn, làm thơ, nhất là nụ cười. Khách thập phương toàn là danh sĩ, hào phú vốn hảo ngọt đem tiền vàng đầy rương tranh nhau tới thanh lâu để mong được diện kiến người đẹp. Thanh lâu đất Lâm Truy đèn đuốc sáng trưng, vui như ngày hội:

     Cuộc vui đầy tháng, trận cười thâu đêm     [Câu. 1230]

     Thời nhà Minh bên Tàu chưa có “loa phường, loa ấp, loa xã”… Nhưng tiếng tăm của nàng Kiều tài hoa vẫn vang đi rất xa… Xa tới nỗi anh chàng họ Thúc vốn con nhà giàu, có học thức, có vợ là nàng Hoạn Thư con quan Lại bộ thượng thư, quê ở Vô Tích cũng biết. Thúc Sinh theo cha tới Lâm Truy buôn bán và “du học”. Vốn ưa sắc, Thúc Sinh lén lấy tiền bạc của cha ăn chơi mua đứt tiếng cười của nàng Kiều làm của riêng.

     Trăm nghìn đổ một trận cười như không     [Câu. 1304]

    Thúc ông biết Thúc Sinh [con trai] mình lấy Kiều [gái thanh lâu] làm vợ - khuyên không được nên tố giác Thúc Sinh ra quan. Quan xử Thúy Kiều – một là trở lại thanh lâu – hai là đánh đòn… Thúc Sinh khóc nhận lỗi vì không nghe lời Kiều mới ra nông nỗi. Thúc bẩm với quan là Kiều có học vấn, có tài làm thơ. Quan cho ngưng đánh và ra đề “Mộc Già” – Mộc Già có nghĩa là cái gông. Nàng họa rồi trao cho quan như sau:

Phiên Âm

“Hoàng-Oanh-Nhi Khúc

Ngã dữ mộc vi cừu
Hỉ khuyên sáo trung đắc xuất đầu
Cảm phương viên dà cái toàn thân xũ
Hà tằng mi vũ tu
Tọa tỉnh khả ưu
Khả linh lệ ngấn lệ lưu bất đáo chẩn hòa tụ [trù]
Tạ hiền hầu
Giao nhân cường hang, tái bất hứa phóng ca hầu.”

Dịch:

“Ta với cây là thù
Trong khuôn khổ mừng được ló đầu
Vuông tròn che toàn thân cảm thấy xấu
Tai mắt thẹn gì đâu
Đáy giếng âu sầu
Đáng thương áo xiêm chẳng thấm, giọt lệ cứ tuôn mau
Tạ hiền hầu
Cổ bị cứng, giọng hát nghẹn trong yết hầu.”

     Quan xem… Khen thơ nàng hay không thua gì thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ. [May mà gặp ông quan có khoa bảng chứ gặp ông mấy quan mua bằng, mua chức dốt đặc cán mai thì biết chi mà nghe thơ, cảm nhận thơ]. Quan còn khen cặp Thúc Sinh – Thúy kiều xứng đôi vừa lứa rồi ra lệnh cho làm lễ cưới chính thức sống như vợ chồng. Quan còn khuyên Thúc ông nên thức thời mà bỏ qua cho gia đạo trong ấm ngoài êm. Cũng vì lý do nầy mà Hoạn Thư sau khi biết chuyện đã không dám công khai…  ghen mà phải dung mưu “bắt cóc” Thúy Kiều.

     Cười rằng: “Đã thế thì nên!
     Mộc-già hãy thử một thiên, trình nghề”.     [Câu. 1451

     Ông quan nầy cũng có thể đã ăn vàng bạc đút lót của Thúc Sinh mới mới cả gan [chuyển đen thành trắng] như vậy?

     Hoạn Thư con nhà trâm anh - xinh đẹp, có tài nghiên bút lại là con gái quan Thượng thư ... Nàng thích kinh nhà Phật . Trong vườn, nàng lập Quan Âm Các để gõ mõ tụng kinh. Biết chồng “lập phòng nhì”. Nàng cũng không lạ chuyện năm thê bảy thiếp, nàng nghĩ chẳng thà nói với nàng một tiếng thì nàng cũng đâu nỡ hẹp hòi gì cho cam. Đàng nầy cứ giấu! [Thật lòng thì Thúc Sinh cũng không muốn giấu, Thúy kiều đã khuyên Sinh về nhà trình bày mọi chuyện]

     “Lại còn bưng-bít giấu quanh,
       Làm chi những thói trẻ-ranh nực cười!”      [Câu. 1543]

     Nhằm xóa đi bằng chứng: Nội, ngoại phạm trong việc âm mưu “bắt cóc” Thúy Kiều. Hoạn Thư đã vả mồm, bẻ răng hai nô bộc đã mách cho nàng biết về sự ngoại tình của chồng… Mục đích là bịt đầu mối để cho kế hoạch được giữ kín. Hoạn Thư giả đò bình thản nói cười  như chẳng có chuyện gì xãy ra.

     Buồng đào khuya sớm thảnh thơi
     Ra vào một mực, nói cười như không.    [Câu 1565]

     Ghen tương bốc tận mây xanh. Hoạn Thư quyết không tha thứ. Nàng cho giai nhân thân tín đi tắt bằng đường sông để bắt Thúy Kiều. Trong khi đó Thúc Sinh đi đường bộ về lại Lâm Truy – lộ trình xa hơn. Thúc sinh về thăm nhà lần nầy là nghe lời Thúy Kiều nói thật chuyện hai người với vợ đề nàng được yên phận làm lẻ. Nhưng chàng Thúc đã mắc mưu Hoạn Thư.

     Mấy phen cười nói tỉnh say,                 [Câu. 1575]
     Tóc-tơ bất động, mảy-may sự tình.    

     Thúc Sinh trong lòng nôn nóng nói ra sự tình, mượn hơi rượu để lấy tinh thần... Nhưng mỗi lần muốn đề cập là Hoạn Thư biết ý nên đánh trống lãng, nói bâng quơ chuyện không đâu vào đâu nhắm đánh lạc hướng.

     Có khi vui miệng mua cười,     [Câu. 1581]
     Tiểu-thư lại giở những lời đâu đâu.

     Hoạn Thư thật đáo để. Nàng giả vờ rằng - nàng luôn tin tưởng sự chung tình của vợ chồng. Nàng không bao giờ nghe những lời đồn đoán bên ngoài mà làm tan vỡ hạnh phúc.

     “Thiếp dù vụng, chẳng hay suy,
       Đã dơ bụng nghĩ, lại bia miệng cười”.    [Câu. 1587]

     Vốn đã đẹp người. Hoạn Thư lại trang điểm cho thêm đẹp. Mặc cho trong lòng nàng đang sôi sục vì ghen.

     Những là cười phấn, cợt son.     [Câu. 1591]

     Do mắc mưu đàn bà mà không hay biết. Về lại Lâm Truy. Thúc Sinh bàng hoàng! “Túp lều lý tưởng” đã trở thành tro bụi… Trở qua nhà cha già thì bài vị Thúy Kiều đã đặt trên bàn thờ khói nhang nghi ngút... Hơn một năm sống cô độc buồn phiền, chàng trở lại Vô Tích. Thúc Sinh bàng hoàng chứng kiến màn đánh ghen của vợ vô cùng thâm hiểm….! Gặp lại người xưa trong thân phận là một “Hoa Nô”. Gặp mặt nhau mà không dám nhìn dù đã từng sống như vợ chồng hơn một năm. Hoạn Thư thì cứ vui vẻ, ngọt ngào…!

     “Bề ngoài thơn-thớt nói cười                    [Câu. 1815]
       Mà trong nham-hiểm giết người không dao”.

     Đêm càng về khuya bữa tiệc đãi chồng sau một năm trở về càng thêm ảm đạm thê lương… Nào là giả đối trong tiếng cười của Hoạn thư, nào là sự hối hận của Thúc Sinh, nào là nỗi đau khổ của Thúy Kiều. Thúc Sinh hoàn toàn bị thúc thủ.

     Ngảnh đi, chợt nói, chợt cười,     [Câu. 1841]
     Cáo say, chàng đã giạm bài lảng ra.

     Sinh càng thảm-thiết bồi-hồi,
     Vội vàng gượng nói, gượng cười cho qua.     [Câu. 1863]

     Cuộc đánh ghen kể như đã hoàn hảo. Hoạn Thư ngồi ghế “quan tòa” rung đùi nhìn hai bị cáo – âm thầm chịu nhục, chịu đau khổ, chịu thua trận mà không hề có một cử chỉ hay lời nói biện minh... Hoạn Thư khoái chí rót rượu uống tì tì… Trong lòng nguyền rủa kẻ bội bạc, nguyền rủa kẻ giựt chồng.

     Tiểu-thư cười nói tỉnh say,                       [Câu. 1847]
     Chửa xong cuộc rượu, lại bày trò chơi.

     Cũng trong một tiếng tơ đồng
     Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm!    [Câu. 1855]

     Xét về lý thì Hoạn Thư đã phạm nhiều tội “hình sự” - nào là đốt nhà, nào là bắt cóc người lại giam cầm hành hạ trong một thời gian dài, nào là đánh ghen và dồn nạn nhân tới đường cùng phải “xin đi tu” để thoát cảnh làm tôi mọi, trong lúc tuổi đời của ni-cô Trạc-Tuyền còn quá đẹp, quá trẻ … Xét về tình – nghĩ sâu xa hơn – chính Hoạn Thư mới chính là kẻ phá nát gia can của mình chứ không là Thúc Sinh chồng của nàng. Nàng tưởng đánh ghen một cách “thâm hiểm – nham hiểm” là giành lại chồng. Nàng đã lầm – nàng đã đẩy chồng mình càng lún sâu vô nỗi u uẩn của sự ăn năn, ray rức và nhớ nhung thương cảm “ni-cô Trạc-Tuyền” …! Nàng “bịt miệng” không cho chồng và Ni cô Trạc Tuyền một lối thoát mặc dù biết rất rõ từ lời “Thân Cung” tức tự khai của con Hoa-nô viết ra...! Lời khai như sau:

Thân Cung:

     “Tỳ, Hoa Nô cung vì đoạn trường sự: Tỳ sinh Bắc Kinh, phụ tao oan nạn, trụy lạc xướng gia, tòng lương viễn giá Lâm Truy, trị phu tha xuất, hãm nhập hầu môn, nô nhan tỳ tất, du dương dịch trưởng kỷ xuân thu. Cấu diện bồng đầu, kính hạp trần mai đa tuế nguyệt. Tăng linh bạc mạnh, dục tương kim tiễn đoạn thanh ty. Lệ trích hồng nhan, kỷ khâu ngân toa kim chúc lãnh. Tự hương lệ viễn, canh canh điểm điểm toái sầu trường. Tự phụ mạc dịch, nhật nhật thì thì đàn huyết lệ. Pháp ngoại thi nhân, sử thiếp thân qui pháp qui kinh qui phật. Ngã trung đới đức, chúc tiểu thư đa phúc đa thọ dĩ đa nam. Phi can lịch huyết, sở cung thị thực.”

Dịch:

     “Tiện tỳ tên là Hoa Nô, xin cung khai về việc đoạn trường như sau:

    Nguyên tôi sinh ra tại Bắc Kinh, vì cha già gặp sự oan khiên, tôi phải truy lạc vào chốn nhà hát, theo chồng về đất Lâm Truy, gặp khi chồng vắng lại bị lọt chốn hầu môn [cửa quan], tấm thân luồn cúi, cành dương thay đổi trải mấy xuân thu.
     Lấm mặt bù đầu, hộp kính chôn vui từng bao tuế nguyệt. Lòng thương mệnh bạc, muốn đem dao cắt sợi tơ xanh. Lệ ố má hồng,, toan liều mạng với cành thoa bạc. Cố hương xa thẳm, tiếng trống canh đập nát dạ sầu, chồng cũ luống mong, chuỗi thời khắc tuôn khô lệ máu.
     Ví được mở rộng lòng nhân, cho tiện thiếp thiếp qui pháp qui kinh để qui Phật, thực là năm trong đội đức, chúc tiểu thư nhiều phúc nhiều thọ đẻ nhiều trai. Mấy lời tâm huyết giãi bày, khẩu cung toàn là sự thực.”

     Thật sự mà nói: Hoạn Thư có nễ tài sắc Thúy Kiều, xem như là tri kỷ, hồng nhan đa truân! Bởi lòng ghen quá nặng nên không thể tha thứ. Hoạn Thư xây Quan Âm Các trong vườn để tụng kinh Phật mà trong lòng nàng chẳng hề có Phật. Một bản án kinh hoàng cho Hoa Nô còn hơn đao phủ! Vậy mới biết sự trả thù của tiểu thư danh gia vọng tộc, của kẻ có học thức thật thâm hiểm. Khác với sự trả thù của người bình thường.

     Hoạn thư còn quá quắc hơn là: giả đò về thăm mẹ rồi âm thầm quay trở lui - xem chồng và “Ni cô Trạc-Tuyền” có lén lút gặp nhau…? Đúng y chang! Thúc Sinh và Ni cô Trạc Tuyền cùng nhau than thở... Thúy Kiều lần nữa lại khuyên Thúc Sinh dứt tình. Thúc Sinh cũng khuyên Thúy Kiều đi trốn… Hai bên đang dùng-dằng thì Hoạn Thư ung dung bước vô Quan Âm Các.

     Cười cười, nói nói ngọt-ngào.      [Câu. 1983]

          Hoạn Thư cất tiếng chào Thúc Sinh [chồng] như chẳng có chuyện gì trước mắt... Nàng còn vui vẻ khen Ni Cô Trạc Tuyền chép kinh chữ rất đẹp… Nàng ngồi xuống uống nước rồi ung dung nắm tay chồng trở lại nhà. Ni cô Trạc Tuyền hỏi nhỏ người hầu gái thì được người hầu cho hay bà chủ đã tới từ lâu và nghe hết ngọn nguồn. Thúy Kiều chợt rùng mình ớn lạnh nhớ lại những trận đòn đánh ghen và càng run sợ tiếng cười ngọt như dao.

     “Giận dầu ra dạ thế thường
       Cười dầu mới thực khôn lường hiểm-sâu”.    [Câu. 2013]

     … Rốt cuộc rồi Ni Cô Trạc Tuyền cũng trốn khỏi am đem theo chuông vàng, khánh bạc để phòng khi hữu sự. May gặp sư Giác Duyên ở Chiêu Ẩn Am thương tình cho tá túc. Việc chuông vàng, khánh bạc bị lộ, nên Ni cô phải rời Chiêu Ẩn Am. Không may gặp - Bạc Hà, Bạc Hạnh lừa đem bán nơi nhà chứa [lần hai] ở Châu Thai. Hoạn Thư “tương kế…” đuổi Ni cô bỏ chùa – màn chót của kế hoạch đánh ghen.

     Từ biên trấn xa xôi. Từ Hải nghe đồn về Thúy Kiều đã vội vã về Châu Thai mong gặp được người tri âm, tri kỷ trong cảnh.  giang hồ gần bảy năm sương gió… Họ gặp mặt là đã đem lòng luyến ái không dứt. Họ trở thành vợ chồng ngay từ giây phút đó!

     Cười rằng: “Tri-kỷ trước sau mấy người?”      [Câu. 2200]

     Nửa năm hương lửa mặn mà, Từ Hải lại ra đi theo “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”. Để rồi ba năm sau Từ Hải dẫn đại quân với hơn mười danh tướng trở lại Châu Thai đón “vợ” về đại bản doanh cử hành hôn lễ không khác gì là một hoàng hậu – rất xứng bậc mẫu nghi thiên hạ.

     Cười rằng: “Cả nước duyên ưa!                  [Câu. 2275]
     Nhớ lời nói những bao giờ hay không?”

     Hơn mười năm lưu thân viễn xứ. Bây giờ nàng Kiều – lần đầu tiên được hưởng vinh hoa phú quý. Trừng trị bọn gian ác. Nàng tự hào trước ba quân, tướng lĩnh, cờ xí tung bay rợp trời cùng vạn lời tung hô chúc tụng.

     Cùng nhau trông mặt cả cười.       [Câu. 2283]

      Liêu Dương ngàn dặm xa xôi, Kim Trọng phải về thọ tang chú nên không hay chuyện gia đình Thúy Kiều gặp tai ương… Kim Trọng trở lại quê nhà, thì – Vườn Thúy nơi hẹn hò bây giờ đã tiêu điều lạnh lẽo, cỏ mọc rêu phong phủ kín hết lối đi mà người xưa bây giờ đã trôi dạt về phương trời nào?!

     Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.     [Câu. 2748]

Câu nầy Nguyễn Du cũng lấy ý từ bài “Đề thích sở kiến xứ” có câu cuối “Đào hoa y cựu tiếu đông phong” cùa Thôi Hộ.

     Nhìn chung qua hai mười sáu câu thơ có chữ “cười” trong Truyện Kiều phần nhiều là: Cười buồn, Cười đau khổ và Cười đắc thắng của nàng tiểu thư họ Hoạn. Đối với Thúy Kiều tiếng cười hạnh phúc, mãn nguyện là khi làm vợ Từ Hải. Trai anh hùng gái thuyền quyên. Tình yêu say đắm thực sự khi đã nếm đủ mùi đau khổ!
Trang Y Hạ
San Francisco