Thư viện

17/03/2019

Nghĩ Về Một Bài Kệ




 Nghĩ Về Một Bài Kệ   

     Lòng tham của người đời là vô tận. Tham hay như cầu vật chất, quyền uy, tiền bạc… là không giới hạn, nếu đó là nhu cầu chính đáng. Sức người làm ra của cải thì ít, trong khi đó nhu cầu cho bản thân thì nhiều… Thí dụ: chưa có xe đạp thì dành tiền mua xe đạp, có xe đạp thì ao ước có xe gắn máy, có xe gắn máy thì lại mơ xe hơi, mơ máy bay, du thuyền. Quyền tư hữu là bất khả xâm phạm; quyền tư hữu cũng là một giấc mơ, là hoài bảo, là động lực thúc đẩy thoát khỏi sự nghèo đói. Mơ ước giàu sang quyền cao chức trọng, vợ đẹp con ngoan bằng chính sức lực của bản thân thì chẳng có gì phải chê trách. Đạp đổ mọi giá trị đạo đức, mọi nguyên tắc pháp luật của xã hội để cầu vinh thì sẽ không tồn tại mà còn ô danh muôn đời. Bài kệ cho chúng ta thấy tầng nất của mơ ước - là con người là phải có mơ ước; mơ ước để tiến thân không có gì gọi là tội lỗi.

Bài Kệ

Chung nhật mang mang chỉ vì cơ,
Đắc liễu bão phạn hựu tư y,
Y thực lưỡng ban câu phong túc
Tiện tưởng cao lâu dữ mỹ thê,
Thú hạ kiều thê tịnh mỹ thiếp,
Xuất nhập vô thuyền thiểu phi cơ,
Luân thuyền phi cơ cụ kỷ bị,
Hựu vô quan chức bị nhân khi,
Ngũ phẩm, tứ phẩm hiềm quan tiểu,
Tam phẩm nhị phẩm dã hiềm đê,
Nhất phẩm đương triều tát tể tướng,
Cánh tưởng diện nam khứ đăng cơ,
Nhất nhật đăng cơ tọa liễu điện,
Hựu trưởng thành Tiên hạ cuộc kỳ.

Khai Thị

Tạm dịch:

Tất bật cả ngày lo thân đói
No cơm lại muốn có áo quần
Cơm no, quần áo đà đầy đủ
Mơ tưởng có nhà cao vợ đẹp
Cưới vợ thêm thiếp hầu xinh xắn
Dạo chơi ước có tàu máy bay
Phi cơ tàu thuyền sắm đầy đủ
Lại lo chức phận sợ người khinh
Ngũ phẩm tứ phẩm chê rằng nhỏ
Tam phẩm Tứ phẩm chẳng bằng ai
Nhất phẩm Tể tướng đệ nhất triều
Lòng thèm cái mão vua đang đội
Mỗi ngày chễm chệ ngôi thiên tử
Lại thích cùng Tiên vầy cuộc cờ.

Trang Y Hạ





Cảo Thơm





Phương Cảo

Ngẫm ra chẳng rõ khi nào
bậu khiêng mưa nắng chất vào - thân xa
chất đầy ngắm để vỡ òa
dỗ dành đã rõ nghĩa là thời yêu

lần hồi nhặt nhạnh sương chiều
lần hồi xếp lớp cô liêu trong lòng
nhớ ngồi đối diện đèn chong
nhớ nằm tay gác thương rằm bơ vơ

thế nhân phấn khích cuộc cờ
qua tiền tối mặt hững hờ bậu ơi
Cửu-Lưu* rãi khắp nẻo đời
hỏi đâu có được mấy người trăm năm

sắc hương chẳng lọ thân tằm
lần về phương-cảo hỏi thăm ai giờ
rừng tình lạc nẻo bơ vơ
mây đùa đáy nước lặng lờ sông trôi

như sương, như bọt ngàn khơi
quang hồi chiếu ảnh cạn lời tri âm
nửa khuya nghe gió thì thầm
nửa khuya nghe tiếng mái giầm vọng đưa.

Trang Y Hạ
·       Cửu-Lưu có: Thương lưu, Trung lưu, Hạ lưu
Gồm 27 danh phận…!







16/03/2019

Người Về

Trường Gia Long


Người Về

Tặng anh Trang Y Hạ

Người về phố đã thay tên
Thuở đi còn nhớ hay quên con đường
Sài Gòn  giữ kín niềm thương
Vẫn Phan Thanh Giản, vẫn trường Gia Long.

Người về nghe ấm trong lòng
Hay là đã có nắng trong xứ người
Sài Gòn luôn giữ nụ cười
Hồng Thập Tự, nét vui tươi Kỳ Đồng.

Người về hẳn nhớ bến sông
Hay là thấm lạnh trong lòng - nước non
Sài Gòn in dấu vàng son
Dạo Hàm Nghi, bến Vân Đồn thuở xưa.

Người về góp hạt nắng thưa
Ngửa tay hứng giọt nước mưa bên lề
Sài Gòn trĩu bóng hồn quê
Ngó Công Lý, ngắm nắng hè Chi Lăng.

Người về lòng chớ băn khoăn
vành khăn là một mảnh trăng soi đời
Sài Gòn kỷ niệm chưa vơi
Đêm mơ mộng ước một đời tự do.

Nguyễn Minh Tuấn - 4. 2019




12/03/2019

Có Người Mẹ Già Bị Lẫn


Có Người Mẹ Già Bị Lẫn

Trần Thị Bích Hiệp

     Cuối tuần, con trai cả tạt qua biếu mẹ hộp sữa. Mẹ hỏi "Sữa gì đó con, mẹ uống được không, có đắt lắm không con...?". Mẹ đang hỏi chưa dứt câu thì lão con trai đã vội vã nói: "Thôi, thôi..., con bận lắm, con đi đây - mẹ cứ uống đi, sữa tốt đó...!".

     Giữa tuần, con gái ghé thảy cho mẹ một ký táo Mỹ, vừa mới bước vào nhà đã quát ầm ĩ "Mẹ ơi, sao mẹ bầy hầy quá vậy..., lần nào còn đến cũng phải dọn...!". Mẹ nói "Mẹ muốn mua cái ấm nước mới vì cái ấm này mua từ năm 1999 giờ cũ lắm rồi...!". Con gái quát "Mẹ lại lẫn nữa rồi...! Ai bảo mẹ cái ấm này mua từ năm 1999...?". Mẹ im bặt, mẹ nhìn con gái dọn dẹp khua khoắng... Mẹ lại rụt rè bảo "Cái ấm nó cũ...". Con gái lại quát tiếp "Thôi, mẹ đã già yếu, mẹ cứ ngồi yên cho con lo, dù có mua ấm mới thì mẹ cũng đâu có sử dụng". Nói đoạn con gái vội vàng đi ra xe, miệng còn lằm bằm "Người ta đã bận còn nhì nhằng phát mệt thêm".

    Có lần mẹ già buột miệng "Nhà này mẹ thương nhất thằng Út, mẹ mong gặp thằng Út nhất". Các đứa con khác hậm hực... "Mẹ cưng thằng Út nhất, muốn gặp nó là đúng rồi. Nó không cho mẹ được đồng quà nào, tấm bánh nào - mà mẹ vẫn thích nó...!".

     Nhưng chuyện đâu có phải như vậy. Bởi mẹ già thích gặp đứa con trai Út - vì mỗi lần con trai Út đến thăm mẹ, tay chẳng mang gì về làm quà cho mẹ nhưng Út sà xuống, vui vẻ nói "Mẹ có chuyện gì vui kể cho con nghe với...". Vậy là mẹ kể liên tu bất tận nào chuyện ngày xưa, chuyện hôm nay... Mẹ kể chuyện nọ xọ chuyện kia, chuyện vừa kể rồi thì mẹ lại kể lại. Anh Út ngồi chăm chú nghe, thỉnh thoảng nhắc khéo mẹ "Chuyện này mẹ vừa kể rồi, mẹ kể chuyện khác đi". Vậy đó, anh chịu khó ngồi hai ba tiếng đồng hồ chăm chú lắng nghe mẹ kể đủ thứ chuyện với thái độ trân trọng và chân thành… ! Mẹ kể chuyện tới khi mệt rồi anh mới xin phép ra về.

     Những món quà của con cả, con gái đem về chất đống - mẹ chẳng dùng vì tuổi già sức yếu chẳng ăn uống được bao nhiêu. Mẹ cũng không dám chê hay nhiều lời vì sợ con mắng là lẫn…!

     Mẹ chỉ thích gặp thằng Út - món quà quý nhất của thằng Út là ngồi xuống trò chuyện với mẹ. Người già thường hay nghĩ về quá khứ, quả thật đúng như vậy...!

     Có rất nhiều kỷ niệm trong cuộc đời mẹ, khi vắng các con, mẹ chỉ còn biết ngồi nhìn bức tường lặng im...! Chị giúp việc cũng mệt mỏi với sự lẫn của mẹ - nghe mẹ cất tiếng là chị chuồn mất. Có đôi lúc mẹ lẩm bẩm nói chuyện một mình.

     Quà cho người già, không gì tốt hơn đó là – chịu khó ngồi xuống trò chuyện và lắng nghe...!


Trần Thị Bích Hiệp St






07/03/2019

Nụ Cười của Mẹ




NỤ CƯỜI CỦA MẸ

    Tặng Trang Y Hạ

Ở bên mẹ vô cùng hạnh phúc
Chẳng lo gì gió vụt mưa sa
Tháng ngày tuy thiếu bóng cha
Nhưng với con trẻ mẹ là thái dương

Mẹ vất vả trăm đường sớm tối
Vai nặng quằn chẳng nói lời than
Đôi khi lén chặm đôi hàng
Cha con vắng số, mẹ càng yêu hơn

Mẹ đã nuốt tủi hờn gối lẻ
Sống âm thầm cho trẻ trọn vui
Mưa sa bão táp dập vùi
Cướp thời xuân mộng mẹ tôi mất rồi

Chỉ mong con sớm thành người
Để lòng mãn nguyện mẹ cười - tiếc thay
Hôm nay và những ngày mai
Vắng mẹ bên những chông gai cuộc đời

Bài thơ dâng mẹ - nụ cười
từ trong di ảnh, không lời - xa xăm...

Hương Phạm
(Mùng 8 tháng 3, nhớ Mẹ!
Họa thơ “Chiếc áo hoa” của Trang Y Hạ


04/03/2019

Hồn Tháng Ba




Hồn Tháng Ba

Đưa tay sờ mặt tháng ba
vết hằn trên những hồn ma sâu dần
hồn ma chống gậy quanh sân
chuyển mùa thế sự mấy tầng không gian

mưa vui giọt giọt đọng tràn
cảm ơn trời đất hỏi han bấy chầy
kinh khua nhức nỗi sầu vây
nằm im cho mớ rễ cây ăn dần

chân minh le lói mộ phần
bầy hồn ngơ ngẩn giữa trần gian đi
còng lưng cõng hết thị phi
mong chi thiện pháp - mong chi giới trì

tháng ba xua đuổi hồn quy
quay nhìn sử lịch còn ghì nắm xương
ăn mày thần thánh cùng đường
bản lai diện mục còn vương kiếp trần

bàn chi hai chữ ngụy chân
dư đồ một mảnh bao lần hợp tan
đi qua mấy buổi cơ hàn
mai vàng nở rộ trên ngàn đấy thôi

tháng ba hồn có bồi hồi

Trang Y Hạ









02/03/2019

Vô Lượng Kiếp




Vô Lượng Kiếp

Từ vô lượng kiếp bậu về
Bi-năng-bạt-khổ  - bốn bề ngát hương
Quy-mang khỏa lấp đoạn trường
 Chân như ngõ ý mở đường khai tâm

thế-âm mộng tỉnh mê lầm
giác-hữu-tình - ngọn sóng ngầm lặng yên
bậu về giữa núi truân chuyên
vọng nghe tình sử qua miền thinh không

bậu về hun khói đốt đồng
hay là diễm lệ trong lồng vàng son
nhân gian nhớ mặt mỏi mòn
dẫu gì duyên đoạn vẫn còn quanh đây

bậu về sáng một áng mây
hay là chiếc lá dưới cây bồ đề
kệ người to nhỏ khen chê
kinh đêm mòn mõ hồn quê đậm đà

từ vô lượng kiếp - bóng ma
thấm qua hàng vạn đóa hoa mỉm cười
dựa vai bờ tuổi đôi mươi
tự hào nhận được kiếp người bậu ơi.

Trang Y Hạ







26/02/2019

Đêm Nằm với Tuổi Bảy Mươi




Đêm Nằm với Tuổi Bảy Mươi

Ta chừ ẵm tuổi bảy mươi
văn thơ già nua khập khiểng
có còn vài con én liệng
đụng vô cái đầu hoa tranh

gia tài vốn thân tỵ nạn
nhà thuê cù cựa bao năm
nghĩ mình giữa vùng nắng hạn
cơn mưa nào nhớ ghé thăm

đêm nằm xương kêu inh ỏi
chập chờn giấc ngủ về khuya
dĩ vãng ngọn roi đau nhức
duỗi chân khớp gối lặc lìa

đêm nằm lắng nghe tiếng ngáy
của mình hay của người ta
thương con thạch sùng chép miệng
thương con dã tràng bãi xa

ai bày đong thời bằng tuổi
nhân sinh tính tháng, tính ngày
vó ngựa chiến trường rong ruổi
xót cho tuổi già không may

văng vẳng một thời chinh chiến
vết thương còn ẩn trong tim
giao tranh vẫn đang tiếp diễn
trách ta buông súng im lìm

đất lạ đứng ôn kỷ niệm
tình đầu, tình cuối đã nhòa
hàng cây ven đường cắc cớ
rụng vài giọt nước cho ta.

Trang Y Hạ









25/02/2019

Gởi Quan Xử Án Bao Công



Gởi Quan Xử Án Bao Công

Nơi huyện môn ông đặt trống kêu oan
trăm án sự dân tới làm phiền toái
trăm án sự ông tận tình tra hỏi
mặt đen sì tâm tỏa sáng hơn gương

thời của tôi đã có lắm nhiễu nhương
nước nhà mất lại chịu lời vu khống
lòng ao ước - phải chi có cái trống
án ngập đồng trống chịu nổi không đây

bao oan khiên xói lở buổi sum vầy
tình yêu nước cũng lắm phen nghiêng ngả
quan hai miệng ăn nói như ác bá *
dân ngậm tăm nhìn thế sự nổi trôi

ông có vua - chính trực ngự trên ngôi
bọn sâu dân, mọt nước không dám hé
án đời xưa có chăng cũng nhỏ lẻ
còn bây giờ tràn ngập cả giang san

kẻ hậu nhân kính gởi ông mấy hàng
chỉ cho tôi đấng minh quân sáng suốt
lấy nhân ái, lấy sự thật làm đuốc
soi sáng trang lịch sử oai hùng xưa

tôi trông ông chẳng khác hạn chờ mưa
Cẩu Đầu Trảm - thỏa lòng dân nô nức
nhìn cái ác lẽ nào đành bất lực
Bao Công ơi - công lý ở nơi đâu

có đôi khi giật mình giữa đêm thâu
Khai Phong Phủ ầm ầm vang tiếng trống
ngước mắt lên tấm lưới trời lồng lồng
lòng tôi tin sợi tóc chẳng lọt ra.

Trang Y Hạ
*Trong chữ quan có hai chữ khẩu [miệng]

Nhà văn đời Tống Âu Dương Tu đã dành cho Bao Chửng những lời bình luận: “Thuở nhỏ hiếu thuận, tiếng thơm khắp xóm làng, cuối đời chính trực, lưu danh khắp triều đình”.













23/02/2019

Giấc Mộng Dài


Hạt Kê


Trường Mộng *

Nhân sinh nhất trường mộng
Nhân tử mộng nhất trường
Mộng lý thân vinh quý
Mộng tỉnh lại cùng hương
Triêu triêu tại tác mộng
Bất giác mộng hoàn lương
Mộng trung nhược bất tỉnh
Uổng tác mộng nhất trường

Khai Thị

Trang Y Hạ - Tạm dịch thơ:

Giấc Mộng Dài

Sống thời ôm giấc mộng dài
Thác thời mộng vẫn ở hoài chẳng xa
Mộng mơ tiền của đầy nhà
Tỉnh mộng lại thấy thân ra cảnh nghèo
Sớm sớm mộng mị lại đeo
Công hầu khanh tướng - san đèo, lấp sông
Mộng chưa tỉnh giấc trong lòng
Tiếc cho giấc mộng đã không kê vàng **.

Trang Y Hạ
*Tựa bài thơ – TYH đặt

** Kê vàng là điển tích đời nhà Đường, có anh chàng tên là Lư Sinh - nằm mơ thấy mình đỗ Tiến sĩ, được vua ban quyền cao chức trong, giàu sang, vợ đẹp con xinh… Vinh hiển tới 30 năm. Giật mình tỉnh dậy thì mới hay đó chỉ là giấc mơ. Trên bếp nồi kê chủ quán trọ nấu vẫn chưa chín.


    Cuộc đời trăm năm hư huyễn. Mộng thực tựa gió cuốn mây trôi… Hãy giữ sự bình đạm mà sống!


   

Lã Động Tân

20/02/2019

Tình Mẹ và Cố Hương




Tình Mẹ & Cố Hương

Trang Y Hạ

    Tôi rất thích ăn món shusi – món cá hồi [salmon] cá sống của người Nhật. Ăn món cá shusi uống với rượu Sake hâm nóng khi ở ngoài trời lạnh cóng thì rất là thú vị. Cá hồi, loại cá cho nhiều dinh dưỡng, điều nầy ai cũng đều biết. Tuy nhiên ít có ai biết được đặc tính về loài cá hồi.

     Con cá hồi thứ nhất - đó là Cá Hồi Chó và tình mẹ! 

     Trong đại dương bao la có một loài cá hồi với tên gọi là: Cá Hồi chó. Cá hồi chó đẻ ra hàng ngàn trứng và canh giữ cho số trứng đó nở ra… Bầy cá hồi con còn nhỏ không thể tự đi kiếm mồi nên hằng ngày xúm nhau rỉa rói thịt của mẹ mình để ăn, cá hồi mẹ trân mình chịu đau đớn mà không hề vùng vẫy để chạy trốn hay than vãn… Khi bầy cá hồi con trưởng thành cũng là lúc cá hồi mẹ chỉ còn lại một bộ xương… Các con vật khác như: con heo, con bò, con trâu… may mắn là có vú để nuôi con. Sự hy sinh thân thể để nuôi con như cá hồi chó không bút nào tả nỗi.  Sự hy sinh của cá hồi chó to lớn như trời biển vậy mà tác giả nào đó đã đặt tên cho cá hồi là “cá hồi chó”…? Cá với chó khác biệt nhau xa! Thiết nghĩ nên đặt lại tên cho cá hồi chó là - Cá hồi “Mẫu Tử” thì đúng đạo lý hơn.

     Loài cá là vậy, còn con người thì sao…?

     Ca dao, tục ngữ, âm nhạc - có những câu tưởng nhớ về Mẹ khá nhiều, như: “Tình mẹ bao la như biển Thái Bình. Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra…”. Tuy nhiên cũng có những người Mẹ bỏ rơi con của mình - bỏ rơi con ngay từ khi mới lọt lòng - nơi chùa chiềng…, thậm chí quăng con vô thùng rác…! Hoặc đành đoạn đem bán con vì một lý do nào đó…. Thậm chí có người mẹ mới sinh con còn đỏ hỏn đã đem cho “Cô Nhi Viện”. Thôi thì, mỗi người mỗi cảnh… nhưng dù gì đi chăng nữa - chia lìa tình mẫu tử chẳng những là nỗi đau mà còn là một tội ác. Những người mẹ “phá thai” - giết con của mình khi đã tượng hình thành người cũng là một tội ác.

     Đó là người mẹ sinh đẻ ra... Vậy còn người mẹ “Tổ quốc - đất và nước” thì sao…?  Từ bao đời những người con của mẹ quê Việt Nam hầu hết - vì phe nhóm, vì đảng phái, vì quyền lợi, vì chủ thuyết ngoại lai mà giành giật chém giết lẫn nhau máu đổ thành sông, xương chất thành núi. Kẻ thua thiệt bị đày đọa trong chốn lao tù và một số chết nơi rừng thiêng nước độc. Người nào có còn sống sót cũng đành bỏ nước ra đi lưu vong nơi xứ người. Trong lịch sử Việt Nam thời nhà Trần - Trần Thủ Độ soán ngôi nhà Lý và sau đó diệt tận gốc tất cả tông thất nhà Lý chết tới mấy ngàn người. Hoàng Thân Lý Long Tường nhanh chân dẫn vài ngàn người thân tín xuống thuyền chạy qua Cao Ly tỵ nạn. Hoàng thân Lý Long Tường được vua Cao Ly cho tá túc và trong dụng. Chính Hoàng Thân Lý Long Tường đã được vua Cao Ly phong tướng và giao trọng trách ngăn chận quân Nguyên. Và, ông đã đánh tan quân Nguyên xâm lăng Cao Ly. Dòng họ Lý hiện nay con cháu rất đông sống ở cả hai miền Nam Bắc Cao Ly với cái họ Lee.

     Năm 1954 chia đôi nam bắc Việt Nam. Miền Nam theo phe tự do. Miền Bắc theo phe cộng sản. Gần một triệu người miền Bắc được tổng thống Ngô Đình Diệm cho di cư vô Nam… Cuộc chiến tranh Nam Bắc kéo dài hơn hai mươi năm. Năm 1973 các bên tham chiến ký Hiệp hòa bình định Paris. Năm 1975 Miền bắc xua quân chiếm miền Nam bằng mỹ từ “giải phóng”! Người dân yêu tự do đổ xô nhào ra biển, băng rừng đi tìm tự do ở các nước tư bản bất kể sống chết; bất chấp sóng to gió lớn và cướp biển - đã chết vô số kể… Số người Việt tỵ nạn trở thành công dân của các quốc gia khác có khoảng - bốn triệu người… Hiện nay số người Việt vẫn tiếp tục ra đi tìm tự do dưới mọi hình thức.

     Mẹ Việt Nam cũng giống y chang con cá hồi chó, bị đàn con rỉa rói thịt da qua bốn ngàn năm văn hiến. Tài nguyên trên rừng dưới biển cạn kiệt. Và, anh em một nhà tiếp tục xâu xé nhau mãi mãi không thể nào sống chung được. Mẹ Việt ơi, phải chăng: “Mẹ rừng, Cha biển” nên anh em một nhà xung khắc lẫn nhau!

     Ngạn ngữ nói: “Đã muốn làm tội, thiếu gì lời buộc”!

     Con cá hồi thứ hai và tình cố xứ!

     Con cá hồi sống trên khắp đại dương, nhưng tới mùa sinh sản thì cá hồi bằng mọi cách quay về nơi đã ra đi - đó là các dòng sông, dòng suối trong đất liền. Trên đường trở về cố hương cá hồi đã gặp không biết bao nhiêu là nguy hiểm. Khi tìm ra cửa sông, cửa suối - cá hồi phải nghỉ lại để thích nghi với nước ngọt và sau đó là “vượt vũ môn”. Con nào không vướt qua thác ghềnh thì bị loài gấu xám ăn thịt.

     Những con nào đã vượt qua thác ghềnh thì cũng mất rất nhiều sức lực lại còn phải luôn đề phòng loài ó cá đi kiếm mồi. Cá hồi bơi ngược dòng về tới lưu vực của sông, của suối thì lập tức cá hồi đi tìm cá đực để giao phối - đẻ trứng. Cá hồi mẹ hoàn tất công việc đẻ trứng cũng là lúc cá hồi mẹ nằm lăn ra chết…! Thật là đau xót cho cá hồi mẹ không nhìn thấy đàn con khôn lớn do mình đẻ ra.

    Mùa xuân trở về, lúc nầy đàn cá hồi con đã trưởng thành và tiếp tục mang sứ mạng mới như người mẹ của mình đã mang là phải hành trình ra biển khơi… Bầy cá hồi con xuôi theo dòng sông, dòng suối, khi đã ra gần tới cửa biển thì bầy cá nghỉ lại để cho cơ thể thích nghi với dòng nước mặn và ghi nhớ nơi ra đi để còn có ngày trở về…!

     Con cá hồi còn có “một quê hương để trở về”, còn người Việt lưu vong, người Việt tỵ nạn thì vĩnh viễn không còn quê hương để về thắp một nén nhang cho ông bà tổ tiên, mà có về đi chăng nữa rồi cũng phải ra đi chứ không thể ở lại lâu dài được. Hoặc có về và ở lại rồi cũng chết - không phải chết như cá hồi mẹ - mà chết bởi lao tù, chết bởi các nguyên nhân khác…!

     Đất trời đã sinh ra loài cá hồi chó mang trong tâm tình mẹ bao la như biển trời. Đó cũng là một tấm gương cho những người mẹ - cho dù người mẹ cũng đã dành cả cuộc đời cho các con… Đất trời đã sinh ra loài cá hồi để rồi phải đành bỏ quê hương đi lưu tán khắp đại dương và trở về nơi sinh ra để truyền giống và chết! Con người lìa xa quê hương đất mẹ không phải do trời, mà do chính con người gây ra… Con người vì thù hằn, vì ích kỷ; vì quyền lợi riêng tư mà đẩy chính con người - bất kể là anh em đồng bào ruột thịt tới ngõ cụt! Tôi còn nhớ câu nói của Albert Camus rằng: “Việc của người biết suy nghĩ là không đứng cùng phía với đao phủ”! Phải chăng vì không chịu đứng về phía đao phủ mà đành bỏ nước ra đi…?!  Hai loài cá hồi đã cho con người một bài học - một bài học từ thiên nhiên nhưng đầy nhân bản và triết lý.

     Tôi vẫn thích ăn cá hồi - món shusi, uống với rượu sake hâm nóng nhìn ra ngoài trời nơi xứ người lạnh lẽo mà tôi đã và đang tỵ nạn bao nhiêu năm nay… Cầm ly rượu trong tay tôi nhớ về quê hương! Tôi nhớ mẹ! Tôi nhớ các em gái, em trai! Tôi nhớ về những tháng năm chinh chiến…! Tôi nhớ về bạn hữu đã nằm xuống nơi chiến trường và lưu lạc tứ phương! Tôi nhớ người dân bỏ ruộng  vườn nhà cửa để chạy giặc trong bom đạn…! Tôi nhớ người phụ nữ đã yêu đời lính gian nan khổ ải của tôi! Xin cúi đầu trước anh linh dân tộc; xin thắp một nén nhang trước anh linh và hồn thiêng tổ quốc!

     Con cá hồi còn có nơi để hồi…
     Con người lưu vong, tỵ nạn thì không biết hồi nơi nào!

Trang Y Hạ
Đầu mùa Hạ - 2019.




18/02/2019

Lời Thề Sông Hóa




Lời Thề Sông Hóa

Bóng giặc xôn xao trở bước về
cọc nhọn năm nao có ngủ mê
lời thề sông hóa voi rơi lệ
biên ải mây đen kéo bộn bề

nhang khói ấm lòng gươm giáo cũ
vòng hoa tô điểm chiến trường xưa
Diên Hồng ký ức tâm chưa rũ
Quỷ kế xâm lăng lắm lọc lừa


Trang Y Hạ

Hưng Đạo Vương tiến quân tới bờ sông Hóa Giang thì voi của ngài bị sa lầy, nước thủy triều dâng nhanh…- voi nhìn ngài chảy nước mắt. Để yên lòng ba quân - ngài trỏ Hóa Giang mà thề rằng: “Chuyến nầy không phá tan giặc Nguyên thề sẽ không trở về bến sông nầy nữa”.



13/02/2019

Thơ Trần Tử Ngang

Tượng Trần Tử Ngang



Thơ: Trần Tử Ngang

“Làm thơ để gởi tấm lòng vô thiên cổ chứ không phải lưu  danh nhất thời” Trần Tử Ngang (陳子昂661-702)


Tôi thích bài thơ: Bạch Đế Thành Hoài Cổ của thi sĩ Trần Tử Ngang. Bởi ông tới Thành Bạch Đế - ông hỏi cư dân gốc địa phương để tìm về thời quá khứ vàng son của Thành Ba Tử, của đền đài Hán vương cung, của cung điện nhà Chu, của giang sơn nhà họ Vũ… Thành Bạch Đế ngày nay vẫn còn giữ tên tuổi. 

Tôi thì cũng nhớ về thành xưa, nước xưa. Nhưng tất cả đều thay tên, đổi họ. Và buồn hơn là sống lưu vong nơi xứ người! 

Bạch Đế Thành Hoài Cổ

Nhật lạc Thương giang vãn,
Đình kiêu vấn thổ phong.
Thành lâm Ba Tử quốc,
Đài một Hán vương cung.
Hoang phục nhưng Chu điện,
Thâm sơn thượng Vũ công.
Nham huyền thanh bích đoạn,
Nham huyền bích lưu thông.
Cổ mộc sinh vân tế,
Quy phàm xuất vụ trung.
Xuyên đồ khứ vô hạn,
Khách tứ toạ hà cùng.

Dịch nghĩa

Trời lặn, sông Thương xuống chiều
Dừng chèo hỏi phong tục địa phương
Thành xây trên nước Ba Tử cổ
Đài trong cung vua Hán xưa.
Cõi ngoài có còn trong đất nhà Chu
Núi sâu còn nhớ ơn vua Vũ
Núi cao vách xanh đứt đoạn
Đất hiểm trở, nước biếc chảy qua
Cây cổ thụ như mọc trong mây
Cánh buồm ra khỏi sương mù
Đường sông còn dài vô hạn
Ý người ngồi trong thuyền chưa dứt.

Ở Bạch Đế Thành Nhớ chuyện Cũ

Sông Tương cạn nắng chiều tà
Ngưng chèo phong tục hỏi qua xóm làng
Cổ thành Ba Tử miên man
Rêu mờ bụi phủ lạnh tràn Hán cung
Đất Chu còn đó một vùng
Công lao vua Vũ tỏa khung trời đầy
non cao đá biếc trông mây
Sông xanh đất hiểm tháng ngày chảy qua
Mây tầng lẫn với cây già
Cánh buồm thấp thoáng lướt ra sương mờ
Đường sông thăm thẳm tiêu sơ
Người ngồi suy tưởng lặng lờ nước trôi!

Trang Y Hạ - Dịch thơ
San Francisco






Nghĩ Về Một Câu Ca Dao




Nghĩ Về Câu Ca Dao

Trang Y Hạ

     Công cha như núi Thái Sơn
     Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
     ….

     Tóm lược về núi Thái Sơn:
     Thái sơn là một ngọn núi chỉ cao khoảng 1.545 mét so với mặt nước biển, thuộc tỉnh Sơn Đông bên Tàu. Diện tích áng chừng hơn bốn trăm cây số vuông. Theo truyền thuyết của người Tàu - ngọn núi Thái Sơn có cột chống trời. Thái Sơn là thánh địa của Đạo gia, từ xưa tới nay đã có mười hai vị hoàng đế - từ Tần Thủy Hoàng cho tới Càn Long thân hành tới cúng tế đất trời cầu xin thái bình thịnh trị…!

     Núi Thái Sơn có bốn đỉnh:

     Đỉnh Ngọc Hoàng
     Đỉnh Thiên Trụ
     Đỉnh Nhật Quang
     Đỉnh Nguyệt Quan
    
    Đỉnh núi Thái sơn… Trên đó người Tàu xây dựng - hai mươi quần thể kiến trúc và có hai ngàn di tích lịch sử. Có Đầm Vương Mẫu, cung Đấu Mẫu. Hiện nay được Unesco công nhận là “Di sản thế giới”.

     Nước Việt Nam đã bị người Tàu đô hộ hơn một ngàn năm. Khoảng thời gian hơn mười thế kỷ đó dư sức để người Tàu xóa đi một dân tộc – chẳng những xóa hết một nền văn hóa mà xóa cả con người. Bằng chứng hùng hồn là ông cha nước Việt chúng ta đã “mang gươm đi mở cõi”, chỉ chưa đầy ba trăm năm thôi mà ông bà chúng ta đã xóa gần hết người Hời và văn hóa Hời. Hiện nay người Hời chỉ còn khoảng - tám mươi ngàn người sống rải rác trong nước và thế giới. Bốn mươi mấy năm nay những người Việt yêu tự do cũng không khác chi người Hồi là mấy. Hơn bốn triệu người Việt sống rải rác trên chín mươi quốc gia trên thế giới và con số người bỏ nước ra đi càng ngày càng nhiều thêm…! Nơi xứ người dần dà lớp con cháu có còn giữ được ngôn ngữ văn hóa tiếng Việt hay không? Đó là điều trăn trở hằng ngày của các bậc cha mẹ cũng như giới cầm bút hiện nay. Trong một ngàn năm bị làm nô lệ, người Tàu đã cố gắng hết sức để đồng hóa người Việt, họ tịch thâu sách vở, bắt dân ta học chữ Hán, tiêu diệt và bắt đi nhân tài của đất nước. Hoặc có học giỏi đỗ đạt cũng phải phục tùng cho người Tàu. Qua một thời gian dài như vậy nhưng người Tàu đã không đè bẹp được ý chí giành quyền độc lập, quyền tự chủ của người dân Việt

     Nước Việt chúng ta có núi cao, có sông sâu, có Ải Nam Quan, một quan ải hùng vĩ trấn giữ bờ cõi nước Việt trước trước họa xâm lăng của Tàu. Dãy núi Hoàng Liên Sơn rộng lớn trãi dài qua hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu tới Yên Bái tổng chiều dài - một trăm tám mươi cây số, rộng ba mươi cây số có những ngọn núi cao từ: 1.800 m – 3. 090m – 2938m. Ngọn núi cao nhất Đông Dương là ngọn Phan-Xi-Păng có độ cao tính từ mặt nước biển là 3. 542m. Cao gấp đôi níu Thái Sơn bên Tàu.

          Bởi bị nô lệ người Tàu cả hơn ngàn năm do đó dân tộc Việt chịu ảnh hưởng về mọi mặt trong đời sống kể cả văn chương truyền khẩu như ca dao, tục ngữ… và thức ăn như: Bún tàu, thịt kho tàu, tàu hủ, gạch tàu… Thờ phụng, ma chay cúng quảy, cưới xin đều ảnh hưởng Tàu. Thờ nhân vật anh hùng và cả truyền thuyết của tàu như: Quan Công, Tây Vương Mẫu, Nữ Oa Nương Nương…!

     Ca dao Việt xưa nay nói:  

    Công cha như núi Thái Sơn!

    Người Việt tại sao ví công cha như núi Thái sơn? Núi Thái sơn của Tàu chỉ cao có 1.545m, thua ngọn núi thấp nhất của dãy Hoàng Liên Sơn Việt Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn rộng gấp nhiều lần Thái Sơn. Người Tàu họ ví công cha của họ như vậy là đúng! Chúng ta có dãy Hoàng Liên Sơn với những ngọn núi cao, thì chúng ta ví công cha của chúng ta như dãy núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ bao la đã từng che chở đàn con Việt Nam qua bốn ngàn năm văn hiến.
    
     Còn câu thứ hai là:

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Thử hỏi, nguồn nào chảy ra…? Trên núi Thái sơn có thờ bà Vương Mẫu. Vương mẫu tức là bà Tây Vương Mẫu. Trên núi có cái đầm nước lớn, đề tên là “Đầm Vương Mẫu”. Bà Tây Vương Mẫu vốn là vị nữ thần độc ác, luôn gây tai họa cho dân gian… Về sau Đạo Giáo bên Tàu mới “cải tà quy chánh” cho bà hiền từ trở lại.  Thiết nghĩ “… nước trong nguồn chảy ra” chính là nước từ cái đầm của bà Tây Vương mẫu nầy chảy ra chứ chẳng sai.

      Chúng ta là người Việt nếu ví - công cha như núi Thái Sơn thì vô tình chúng ta ví cha Tàu chứ không phải ví công cha Việt của chúng ta, mà núi Thái Sơn bên Tàu cao cũng chỉ bằng phân nữa các đỉnh núi trong dãy Hoàng Liên Sơn. Ví như vậy là công cha Việt của chúng ta mất đi một nửa! Uổng quá, phải không nà? Còn ví nghĩa mẹ Việt như nước trong nguồn chảy ra…? Nguồn đây là nước nguồn cũng từ núi Thái Sơn mà ra, làm chi mà bằng nguồn nước trong xanh thấm tình quê cha đất tổ từ trong dãy núi Hoàng Liên Sơn được. Hai câu ca dao nối liền hai ý đều quy về một địa danh là núi Thái Sơn bên Tàu. Xưa nay qua ca dao chúng ta thản nhiên ví công cha nghĩa mẹ của mình với tấm lòng hiếu thảo của người con, mà đâu có hay rằng chúng ta đang ca tụng cha mẹ Tàu…!

     Vậy chúng ta hãy tự hào ví: công cha, nghĩa mẹ của chúng ta bằng hai câu thơ của Trang Y Hạ, rằng:

     Công cha như dãy Hoàng Liên
     Nghĩa mẹ, suối hiền tự núi chảy ra!

Trang Y Hạ - San Francisco