Thư viện

14/06/2018

Áo Hạ Xa




Áo Hạ Xa

Ve khuya thức giấc gọi mùa
giúp mây thay áo chẳng đùa giỡn đâu
trời vui nhỏ giọt mưa ngâu
hỏi ra mới tỏ - cô sầu bỗng dưng...

chim bay nửa cánh ngập ngừng
ngó lui sửng sốt đã từng hiểu ra
ô hay - mới đó thôi mà
mỗi phương biền biệt gọi ba bốn lần…

còn ai đứng trốn trong sân?
cột cờ trơ trụi ngắm vầng trăng treo!
người đi bụi đất hò reo
hạ xa áo mỏng qua đèo nhớ nhau.

Trang Y Hạ
San Francisco - 2018


07/06/2018

Phố Quen




Phố Quen

Chiều nhàn lên phố quen
trời cạn nắng ngọn đèn đường ngóng đợi…
phố vẫn nằm trong đầu bước đi lạc lối
khói sương lấp ló phía chân trời tím mờ

vùng cao ốc mặc kiếng lạnh lùng đứng xơ rơ
vụn mây bay tảng lờ không thèm dừng lại
hối hả cùn hai chân vẫn luôn trễ nãi
điểm hứa hẹn trần ai tuần tự xa dần!

con đường từng đi qua bỏ lại phía sau chân
gót âm vang suốt chiều dài viễn xứ
cớ chi không quay lại một lần nghe thử
tiếng thời gian non nớt tuổi lấp đầy

hàng xe hơi giống loài rùa sống dai
chốt thân phận vòng vo gọi tương lai dĩ vãng
nơi ngã tư - vàng đỏ xanh - ngẫm ra chán ngán
dừng lại qua - không một chút đoái hoài!

đường rầy xe lửa song song đối lưu tựa con thoi
metro hun hút xuống lên - lặng thinh lầm lủi
bậu xa xưa bỏ lại nét thơ ngây từ buổi…
nắng tần ngần nhìn theo dấu thanh tân

lòng bối rối bóng mây đưa thơ lạc mấy vần
tuổi hoa niên ở trong tranh dáng thiên thần tuyệt mỹ
vịn ly cà phê chạy ngược dòng thế kỷ
con đường cũ mỗi ngày im lặng kể xót xa…

giọt mưa vui nhè nhẹ lạnh tay ngà
người con gái da nâu ngại ngần băng ngang đường vội vã
lá phong nằm trông trời nước cuốn thân tơi tả
có bao giờ trách cứ tại… mưa thu?

phố quen đi đau nhức khắp thân tù
nhớ thuở nằm nôi nghe từng lời ca dao mẹ hát
lúa vàng trăng ngợp cánh đồng bát ngát
ngọn đèn dầu le lói sáng tuổi lên

trở về nhà đường bằng phẳng lắm chông chênh
ngẫm nghĩ ra - đây chỉ là phố lạ!


Trang Y Hạ
San Francisco, 2008



04/06/2018

Họp Mặt Cựu Tù




Họp Mặt Cựu Tù 

Trang Y Hạ

     “Người lính già không bao giờ chết, vì sao chỉ mờ nhạt đi”
       [Đại Tướng, Douglas Mac Arthur]

     Kể từ ngày họp mặt anh chị em trại K4, LK lần thứ nhất tại Westminster ngày 4.7. 2010 tới nay tính ra cũng đã được tám năm. Trong tám năm dài đó đã có một số anh chị em già nua, bịnh tật, sức yếu và một số anh chị em đã chết… Do sống rãi rác trên toàn liên bang Hoa Kỳ và thế giới. Dù có biết, có nghe anh chị em cựu tù tổ chức - một cuộc gặp mặt nhưng không thể tới tham dự dù trong tâm lòng rất mong muốn…! Qua tám năm đó dù có nhớ nhau cũng chỉ nói chuyện qua phone…! Vì vậy tổ chức họp mặt lần hai - là để nhìn lại nhau; ôn lại một thời quá khứ… Và, nhìn về tương lai!

     “Cửu hạn phùng cam vũ, tha hương ngộ cố tri”
     [Chín năm hạn hán gặp trời mưa, tha hương đất khách gặp bạn cũ]

     Họp mặt lần nầy đúng vào ngày 26 & 27. 5. 2018 [nhằm thứ bảy & chúa nhật] mang tính cách gia đình tại nhà anh Nguyễn Trọng Tuấn cựu tù nhân chính trị K4. [Anh Tuấn xuất thân từ ngành Tâm Lý Chiến, chuyển qua công tác tại nhiều tiểu đoàn CTCT]… Do đó, lễ nghi tổ chức không rình rang như lần họp mặt ở Westminster lần thứ nhất… Lần thứ hai nầy anh chị em ghi danh ít hơn. Nơi tổ chức ở thành phố Portland, Tiểu bang Oregon. Gia đình anh Nguyễn Trọng Tuấn đứng ra sắp xếp tất cả - từ viết “băng-rôn”, lập danh sách các anh em chết trong tù và các anh chị em chết sau nầy…! Anh còn sáng tác một nhạc phẩm “Nỗi Niềm K4” và chính anh vừa đờn vừa hát cho anh chị em thưởng thức… Anh còn làm thơ diễn tả nỗi cơ cực trong những tháng năm tù đày…! Những anh em cựu tù nào tới thành phố Portland họp mặt thì cũng chính anh và anh Nguyễn Văn Khoan chạy xe ra phi trường đợi đón đưa về nhà ... Sự niềm nỡ của các anh, của vợ con các anh tiếp đón các bạn cựu tù tới họp mặt thật là nồng ấm, chân tình… Xóa tan ngay hết cả mệt nhọc cũng như lo lắng, bồn chồn… Gia đình các anh cũng đã lo mua - thực phẩm các loại, nước uống đóng chai, bia, rượu… trữ sẵn! Cháu Tú con rể anh Nguyễn Trọng Tuấn ra sông câu đem về hàng chục ký cá còn sống tươi roi rói để đãi các bác, các cô chú tới tham dự trong những ngày họp mặt… Đầm ấm và cảm động hơn nữa là em trai anh Nguyễn Trọng Tuấn cũng có mặt - đờn cho anh chị em cựu tù hát quốc ca…! Con trai, con gái của vợ chồng anh chị Nguyễn Trọng Tuấn và bạn hữu của các con anh chị cũng tới tham dự trong buổi tiệc..! Ngoài ra, con trai, con rễ của anh chị còn lo mọi công việc cho ngày họp mặt đầy đủ: Dàn máy karaoke, loa, amply, ánh sáng, chụp hình, bày tiệc và dọn dẹp… Đặc biệt là vợ anh Tuấn xưa nay chị rất ít khi chụp hình cá nhân, còn chỗ đông người thì tuyệt đối không bao giờ… Vậy mà lần nầy - chị nễ lời mời của các anh chị em cựu tù nên chị chịu chụp hình chung!

      Anh chị Tuấn bao tiêu tất cả phí tổn từ - ăn uống, chỗ ngủ, thăm viếng danh lam thắng cảnh và đón đưa anh em trong mấy ngày họp mặt mà không chịu thu tiền [góp vui] của anh em … Anh chị nêu ra lý do rằng:

-”Các bạn đã bỏ tiền ra mua vé máy bay tới họp mặt là đã quá tốn kém rồi…”!

     Anh chị em cựu tù chỉ còn biết ghi nhận tấm lòng nghĩa hiệp…! Dù có nói hàng nghìn lời cảm ơn cũng không đủ!

     Đa phần anh em cựu tù tới Portland khoảng gần trưa ngày 25.5… Bạn tù gặp mặt nhau tại nhà anh chị Nguyễn Trọng Tuấn - Tay bắt mặt mừng…! Ôm nhau mà rưng rưng…! Nhìn nhau cố ôn lại, cố nhớ lại, cố hình dung lại hình ảnh của nhau. Nhất là các anh em - kể từ ngày ra tù cho tới nay chưa bao giờ gặp… Nay gặp lần đầu có ngỡ ngàng giây lâu - nhưng kỷ niệm tội tù; nỗi đau khổ trong tù…, dần dần nhận biết hết! Tối đến, một bữa tiệc do chính tay chị Tuấn và các con nấu để khoản đãi… Bàn tiệc được bày ra phía sau nhà [sân sau] rất rộng…, nửa có mái che, nửa lộ thiên. Chung quanh có bức tường đá xây kiên cố cao khoảng một thước rưỡi, trên đầu tường sâu vô trong chừng hơn một thước là hàng rào bằng ván ngăn cách nhà hàng xóm. Khoảng đất trên đầu tường đá đó được trồng cây thông, trồng hoa và để những bình hoa kiểng trông đẹp mắt…! Anh em cựu tù nói vui là: “Sao mà giống bức tường đá trong tù, do chính bàn tay tù “cải tạo” xây gần ba năm mới hoàn thành để nhốt tù là - chính mình…”!


     Trong buổi tiệc đầu tiên đó - dù tuổi tác đã nhiều, cũng như một số trong anh em mang đủ thứ bịnh, nhưng vui quá mà phá lệ kiêng cử uống thuốc... Tất cả cùng nâng ly tưởng nhớ tới các anh em đã - bị đánh - bị xiềng, - bị biệt giam đã chết; nâng ly tưởng nhớ tới anh chị em còn ở bên quê nhà; nâng ly tưởng nhớ tới các anh chị em vì già yếu đã qua đời; nâng ly tưởng nhớ tới các anh chị em đã mua vé máy bay nhưng bị bịnh bất ngờ nên không tới được…! Ly rượu ngâm thuốc do chính anh Tuấn [chủ nhà] ngâm – được anh em nhấm từng ngụm nhỏ…, nhìn nhau… nuốt vô trong tâm lòng tất cả thương mến … Dù cách biệt tuổi tác vẫn cứ xưng hô… tao mày tuốt luốt…! Ôi, nghe sao mà… thân thiết không khác nào anh em ruột thịt…! Thăm hỏi nhau về gia đình vợ con; thăm hỏi nhau về đời sống hiện tại… Ôi, lúc nầy tất cả tuổi già cũng như tất cả bịnh tật đã trốn chạy đi đâu mất tiêu chỉ còn lại những con người sảng khoái của một thời tung hoành ngang dọc thuở chinh chiến…! 

     Khi hơi rượu thâm thấm…, ai nhớ được chuyện gì khi ở trong tù thì cứ nói ra… Người lớn tuổi nhất là anh Tuấn – tuổi đời của anh cũng đã tám mươi, số anh em còn lại dưới bảy mười và trên bảy mươi một vài tuổi… Trông anh Tuấn trẻ như người ở tuổi sáu mươi - anh để tóc dài bồng bềnh ngang vai - rất nghệ sĩ, cũng phải thôi vì - Anh Tuấn là - nhạc sĩ, họa sĩ và cũng là nhà thơ. Anh ăn nói sang sảng và luôn vui cười… Anh lái xe bạt mạng, ngồi trong xe cho anh chở đi các nơi mà phát ớn lạnh…! Trong bàn tiệc bữa nay có các anh Nguyễn Văn Vui, tới từ tiểu bang Louisiana. Anh tham gia rất nhiệt tình và đảm nhiệm nhiều công việc cho cộng đồng tại nơi anh ở và thế giới… Anh Phong Tây Sáng, tới từ tiểu bang North Carolina. Anh nhỏ tuổi nhất so với anh em trong bàn tiệc. Anh bệ vệ, râu ria rập rạp đậm chất lính rừng… Anh nhớ về sự đau khổ đánh đập ở trong tù…, nhất là khi anh chứng kiến cảnh anh Nguyễn Trọng Tuấn bị đánh mà anh không cầm được nước mắt. Anh khóc tức tưởi tại bàn khi kể lại cho anh em nghe… Anh Nguyễn Pháp tới từ thành phố San Jose, tiểu bang California, anh xuất thân từ trường “Chiến Tranh Chính Trị” Đà lạt. Sau khi ra tù anh vượt biên bằng đường bộ tới Thái lan. Anh tham gia công tác xã hội và giúp đỡ anh em…! Được gặp nhau đã là may mắn…! Buồn hay vui như nước lớn, nước ròng…! Xin mượn hai câu thơ của Lý Bạch để nói lên tâm trạng:

     “Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
       Mạc sứ kim tôn không đối nguyệt”
Nghĩa là: [Đã là người khi vui cứ vui. Chớ để chén không dưới ánh trăng]

     Trong ngày 25, ngày tới Portland đầu tiên [thứ sáu]. Khoảng 3 giờ chiều. Tận dụng thời gian…, anh Nguyễn Văn Khoan [thổ địa] hướng dẫn ba bốn anh em đi thăm đồi Đức Mẹ “The National of Our Sorrowful Mother Portland, Oregon USA”. Đồi cao đá dựng cheo leo, phải đi bằng thang máy. Đứng trên đồi nhìn bao quát một vùng rộng lớn… Trên ngọn đồi là một rừng cây thông nguyên sinh rậm rạp, âm u… với một dòng suối nhỏ nước trong xanh chảy bốn mùa không bao giờ cạn. Đền đài, tu viện nơi đây mang dấu tích cổ xưa - có nhiều hàng ghế dành cho người hành hương cầu nguyện… Tượng đức mẹ, bàn thờ Chúa được khoét sâu vô núi đá. Hàng lưu niệm có bán dưới chân đồi. “A History of The Grotto” bắt đầu hình thành từ năm 1923. Diện tích rộng 62 acre [mẫu Anh]. Các bạn có thể tìm hiểu thêm lịch sử ở - website: www.thegrotto.org.
    
     Ngoài các món ăn do chị Tuấn và các con của chị nấu còn có một món thịt heo rừng do anh Tuấn mua để đãi anh em. Anh Tuấn chưa biết cách làm món gì cho ngon nên đã phone hỏi ý kiến cựu tù Trần Phước Hân từ lúc còn ở San Francisco… Bữa nay - chính Trần Phước Hân trực tiếp “tư vấn” cho cháu Tú [rể của anh Tuấn] cách cắt thịt, cách ướp thịt để làm món nướng [BBQ] ngoài trời… Món nướng nầy rất hạp với hương vị rượu thuốc… Người trực tiếp nướng là do anh Phạm Huy Cầu [anh là người to cao nhất trong số anh em] đảm nhận… Anh Cầu tới từ tiểu bang Texas. Anh là cầu thủ bóng chuyền và cũng là võ sư… Hiện nay anh bị bịnh tim mạch, cao máu phải thường xuyên uống thuốc… Anh nướng thịt chín tới mẻ nào thì anh em bốc bằng tay nhai ngon lành tới đó…! Sau đó, cựu tù Trần Phước Hân còn làm một món thịt trâu rừng [anh Tuấn mua] xào với cộng hành… Anh em thưởng thức khen ngon rầm trời… [cười]…! Trong lúc tâm tình nơi bàn rượu, thì các anh chị em cựu tù bốn phương gọi tới… Vậy là vừa nói chuyện vừa mở video cho tất cả cùng nhìn dung nhan già chát của nhau… Ôi thôi, đủ thứ chuyện để mà nói, giành phone với nhau để mà nói, mà nhìn...! Tội nhất là các anh đã mua vé máy bay từ mấy tháng trước như – vợ chồng anh Đỗ Văn Bình ở tiểu bang Ohio, gần tới ngày sắp đi họp mặt thì cả hai vợ chồng đều bị bệnh và cả hai phải vô nằm bịnh viện….! Anh nằm trong bịnh viện mà gọi thăm anh em… Nhìn nét mặt của anh rất là mệt nhọc thở không ra hơi, nhưng anh vẫn cố gắng nói cho xong cảm nghĩ và ngỏ lời tiếc nuối…! Anh xin lỗi tất cả… ! Anh Bình còn gọi mấy lần nữa…! [Xin nói thêm - ở trong tù anh Đỗ Văn Bình Bình và anh Đỗ Minh Giám bị biệt giam hai năm...Và hai anh là người rời K4 sau cùng!].Vợ chồng anh Phạm Sơn Long ở New Hampshire cũng đã mua vé, nhưng gần ngày đi thì đứa con bị bịnh… Thiệt là buồn cho các anh! 

     Anh Nguyễn Văn Phòng ở Florida, lần họp mặt thứ nhất anh cùng vợ và con gái tới tham dự… Anh đã hơn tám mươi sáu tuổi, sức khỏe không cho phép đi xa, vì phải ngồi máy bay tới tám giờ, anh không thể chịu nổi.  Anh gọi thăm sức khỏe từng anh em cựu tù đã tới hội ngộ lần thứ hai. 

     Ngoài ra còn rất nhiều anh chị em ở các nơi khác và cả người còn ở quê nhà gọi tới hỏi thăm liên tục trong mấy ngày họp mặt... Tình cảm bạn cựu tù; tình cảm huynh đệ chi binh với biết bao kỷ niệm - tang thương, đày ải, máu và nước mắt, mồ hôi… Một thời bỏ mạng trên chiến trường; một thời bỏ mạng trong lao tù “cải tạo”… Một số anh chị em may mắn còn sống thì cũng mang một bản án “ngụy” cho chính bản thân và con cháu…! Hầu hết người tù đều mang  - “di chứng” bịnh tật trong thân xác…! Để lại “chấn thương” trong tâm hồn… Hiện nay, nơi xứ người mang một nỗi buồn: Cựu Tù Nhân Chính Trị - Làm thân tỵ nạn - tỵ nạn biết tới bao giờ…?!

     Chiến trường đi nào đâu tiếc thân trai
     Lịch sử quên ngậm ngùi quê bỏ mặt
     Nơi xứ lạ gió xiên chiều hiu hắt
     Vệt trăng soi còn tỏ nước xuôi dòng. [thơ tyh]

     Sáng ngày 26.5. Anh Nguyễn Văn Khoan mời tất cả anh em cựu tù tới nhà anh, trước để cho biết nhà và sau đó là… ăn sáng…! [nhà anh cách nhà anh Tuấn khoảng 15 phút chạy xe]. Trên đường đi, anh Nguyễn Trọng Tuấn đề nghị ghé garage sửa chữa xe hơi của con trai đầu của anh. Cháu Diệm là tên con trai đầu, cháu chào hỏi nhiệt tình và hứa bốn giờ chiều đóng cửa, về sớm… Tại nhà anh Nguyễn Văn Khoan - anh Khoan cùng các anh em cựu tù chụp hình chung trước nhà, sau đó anh dẫn anh em ra vườn sau xem rau và cây ăn trái do chính anh trồng và chăm bón… Điều ngạc nhiên là vợ anh – chị  đã nhận ra vài người cùng làng – đó là anh Nguyễn Pháp, anh Trần Phước Hân. Chị hỏi thăm vui vẻ, tiếp đãi anh em cựu tù ân cần…, nói là ăn sáng chứ thật ra là một bữa tiệc gia đình với đầy đủ các món ăn quê hương do chính tay chị nấu [hình như đã có chuẩn bị từ trước]. Anh em cựu tù vô cùng xúc động…! Trong bữa tiệc có uống một vài chai bia cho ấm lòng! Trời ngả về chiều tất cả anh em cựu tù tạm chia tay để trở về nhà anh Nguyễn Trọng Tuấn.
    
     Vợ chồng anh Nguyễn Viết Lý ở Sacramento, tiểu bang California. Anh chạy xe hơn 10 giờ mới tới Portland. Anh chị thuê khách sạn nghỉ qua đêm, ban ngày tới nhà anh Tuấn để gặp gỡ hàn huyên cùng bạn cựu tù. Sự nhiệt tình của anh cùng với tài nhớ dai nhiều chuyện trong tù… Anh kể lại rành mạch cho anh em nghe - thật cảm động…!

     Anh Nguyễn Thảy ở Tennessee, 7 giờ tối ngày 26 mới tới sân bay Portland. Anh Tuấn đi đón. Anh Thảy là một trong những anh chị em đã khỏi xướng một cuộc họp mặt lần thứ hai. Tuy ở rất xa nhưng lúc nào anh cũng quan tâm tới bạn cựu tù. Sự hiện diện của anh làm cho anh em rất phấn khởi…!

     Đêm nay – đêm 26 là đêm chính thức anh chị em cựu tù làm lễ tưởng niệm để nhớ tới các anh chị em chết trong trại tù K4 và những anh chị em K4 chết ở ngoài… vì tuổi già hay bị bịnh. Và, cũng tưởng nhớ tới tất cả anh chị em đã chết trong khắp cả các trại tù khác trên toàn cõi Việt Nam. Hiện diện đêm nay - ngoài một số anh chị em cựu tù K4, còn có một số con cháu tề tựu… Trên bàn thờ có danh sách các anh em đã chết trong tù…! Danh sách anh chị em chết sau ngày trở về…! Ly rượu rót tràn đầy tình thương nhớ; nén nhang thơm thắp lên khói tỏa khung trời…, được trao tận tay từng anh chị em… Và, anh chị em tuần tự tới trước bàn thờ khấn vái, thầm thì đôi lời…! Sau đó anh Nguyễn Trọng Tuấn nói lên lý do họp mặt… Đồng thời tất cả đều đứng lên. Tư thế nghiêm trang để chào cờ, hát quốc ca… - một phút mặc niệm… tưởng nhớ tới các linh hồn Quân Dân Cán Chính Miền nam đã bỏ mình vì chiến tranh; bỏ mình ngoài đại dương; bỏ mình trên rừng để đi tìm tự do.

     Nghi lễ đã xong - Anh Nguyễn văn Vui đọc “lời bạc” tưởng nhớ lại một giai đoạn tang thương, dâu bể chất chứa đầy những – chia ly, đày ải, đói khác, chết chóc…, để cho anh chị em và con cháu hồi tưởng về một quãng thời dĩ vãng đau buồn không thể nào quên. Với giọng miền Nam. Anh Nguyễn văn Vui đọc thật chậm rãi, rõ ràng từng chữ - tất cả đều im phăng phắc, không khí về đêm im ắng như tờ. Mọi người nghĩ rằng - Các anh chị em khuất mày, khuất mặt đã tụ về quanh nơi họp mặt này để hòa vui cùng với anh chị em cựu tù và con cháu đang hiện diện…!

Lời Bạc Cho Ngày Họp mặt
Cựu Tù Chính Trị K4

Trời Portland nắng ấm
Những cánh chim - bốn hướng tụ về
Những cánh chim - lìa bỏ chốn quê
Những cánh chim - chưa bao giờ mỏi mệt…!

K4!... K4!... K4!... !

Chốn tu luyện… người sống, trở thành … kẻ chết!
tang thương, khổ ải, đọa đày…
đêm lộn ngày,
ngày lộn đêm,
giữa, khung trời hữu hạn.
thương cha…!
nhớ mẹ…!
mong vợ…!
đợi con…!
anh chị em… nghìn trùng… sương phủ!

Đêm K4…!
Ngày K4…!

Người với người - đối đãi nhau… như loài dã thú!
gán lên đầu… vô số tội viễn vông…!
cùm U sắt - những bãi chông.
xích, xiềng… phận người công chính.
hằng ngày… nghe hằng nghìn… lời lừa phỉnh.
sắn, khoai, ấp ủ… đời trai
có ngày mai, mà… không thấy ngày mai
tù, không kêu án
thân đang sống…, trở thành thân - dĩ vãng
nhìn tương lai…, trắng toát chân trời!

Than ôi!
oan khiên… phủ kín khung trời
tìm đâu ra lẽ phải…?
lẽ phải là tội đồ…!
người tù chết, vùi thây - nấm đất hoang mồ
mắt trừng trừng… ngó về quê - báo mộng
bạn tù sống - chôn bạn tù chết
chiếc chiếu manh… ẩm mốc, thay hòm!

Nơi đất người lưu lạc sớm hôm
nhớ quê, nhớ bạn tù, suốt đời lận đận…!
nhưng hoài bảo - trong tâm cứ vẫn
giữ trong lòng: Danh Dự - Trách Nhiệm… không quên.

Trời Portland tụ tập tuổi tên
người tù già…, nhưng không bao giờ chết
tương lai… con cháu lưu danh…
không bao giờ chấm hết!
ly rượu cay…
nhưng rất ngọt nghĩa tình!

Than ôi!
Trang Y Hạ

     Tôn Tử nói: 

    "Một cuộc chiến đều dựa trên những điều lừa bịp”

Tội nghiệp cho - Người dân và Quân Cán Chính Miền Nam do không đủ khả năng [lừa bịp] mà đành chịu thua…!

     Đêm ở Portland trời xuống lạnh, anh chị em cựu tù cùng con cháu ngồi bên nhau, cùng nâng ly chức mừng ngày họp mặt. Không khí gia đình - vừa trang nghiêm, vừa hân hoan, vừa đầm ấm… Tình đồng đội, tình bạn tù như một cuốn phim từ từ quay lại thời tuổi trẻ, khi phải rời - mái trường, rời gia đình thân yêu cầm súng đi - giữ nhà, giữ nước… Tội tù là một vết dao “hận thù” được chém từ phía sau lưng xuyên suốt lịch sử.

     Vết đâm rồi cũng sẽ quên
     Sẹo lành còn nhức mông mênh nỗi sầu!
    
     Anh Tuấn, anh Lý… Lần lược kể ra một vài chuyện ở trong tù cho mọi người cùng nghe; đồng thời cũng trả lời cho lớp trẻ những câu hỏi…! Càng về khuya không khí càng thân tình qua từng lời ca, tiếng hát – những bài hát về lính được các giọng ca già cũng như trẻ trình bày ngọt ngào và cảm động! Trời không lạnh lắm nhưng lớp cựu tù cảm thấy lạnh… Do đó, lớp tù già nhường “sân chơi” cho lớp trẻ ăn uống, ca hát được tự nhiên hơn! Tất cả kéo nhau vô nhà tiếp tục hàn huyên tâm sự cho tới tận khuya mới đi ngủ.

      Ngày hôm sau, tất cả chở nhau đi dự lễ ngày chúa nhật ở nhà thờ Đức Mẹ La vang. Dự lễ xong lại kéo nhau tới nhà Diệm – con trai anh Nguyễn Trọng Tuấn ăn sáng. Bởi ngày hôm trước cháu Diệm có mời… Nhà vườn của cháu Diệm rất là rộng rãi thoáng mát…. Cháu Diệm mời mọi người lên sân thượng bằng gỗ lộ thiên phía sau nhà. Cháu Diệm đãi món phở tự tay vợ chồng cháu Diệm nấu…! Nguyên liệu toàn cây nhà lá vườn. Lúc ăn cháu Diệm có mang rượu tây ra, có cả bia. Độc đáo nhất là – cháu Diệm rót ra một ca lớn rượu thuốc ngâm… đã tám năm để đãi các chú, các bác…! Tạm biệt nhà cháu Diệm tất cả kéo sang nhà vợ chồng cựu tù Nguyễn Văn Khoan – Vợ chồng anh Khoan hôm trước đã có mời cơm trưa thân mật trước khi chia tay! Tới nhà anh Khoan thì thấy giờ còn quá sớm nên anh Khoan đề nghị đi du ngoạn ngắm đồi hoa hồng và thác nước. Hai địa danh nầy nổi tiếng ở Portland. Lên đồi hoa hồng anh chị em đi một vòng…, chụp hình lưu niệm… Sau đó tiếp tục chạy tới thác nước, đường đi khá xa… Đến nơi mới hay là - địa điểm du ngoạn thác nước đóng cửa để sửa chữa…!

     Anh chị Khoan sinh nhiều con, hầu hết đã lập gia thất… Hôm nay ngày cuối tuần. Nghe anh chị nói – ngày cuối tuần các con trai, con gái, dâu, rễ, cháu nội, ngoại, tập trung về nấu nướng… ăn uống tới chiều tối mới ai về nhà nấy. Đúng là nhất cử lưỡng tiện! Tiệc vui cuối tuần của gia đình kết hợp với niềm vui các chú, các bác cựu tù tới thăm…! Già trẻ cùng ngồi chung mấy bàn nâng ly mừng hội ngộ…! Tan tiệc, một số anh em cựu tù trở về nhà, số còn lại tập trung về chỗ anh Nguyễn Trọng Tuấn, ngủ nghỉ... Ai về lại nhà mình thì anh Tuấn đưa ra phi trường. Sáng hôm sau, thứ hai, anh Tuấn cùng vài anh em cùng nhau ra chợ mua thực phẩm về làm bữa cơm trưa để giã từ...! Một vài anh em ở lại thăm người quen, thì vẫn ở nhà anh Tuấn. Riêng hai bạn cựu tù Trần Phước Hân và Nguyễn Pháp được anh Khoan đưa ra phi trường lúc 6 giờ 30 chiều.

     Họp mặt rồi chia tay; chia tay rồi mong mỏi một ngày lại họp mặt để biết ai còn, ai mất... Gặp nhau sau một thời gian dài - tay bắt mặt mừng, ôm nhau, siết tay nhau… Lúc chia tay ở trước sân nhà anh Tuấn sau mấy ngày hàn huyên, nâng ly chúc mừng - đã nói ra biết bao chuyện muốn nói mà vẫn không hết… Mọi người ai cũng - Bùi ngùi… ! Rưng rưng…! Bịn rịn, lưu luyến… nặng nề từng bước đi… Anh Nguyễn Trọng Tuấn hai mắt đỏ hoe… gượng cười… ra lệnh cho cựu tù Trần Phước Hân:

-         Đứng nghiêm…! Chào tay…! Chào…!

     Cựu tù Trần Phước Hân cũng cùng tâm trạng buồn bã… như anh chị em! Nhưng… “Quân lệnh như sơn” phải chấp hành! - Cựu tù Hân – Chập hai chân vào, đứng nghiêm chỉnh - đưa tay phải lên chào huynh trưởng đúng theo quân cách nhà binh! Hai cô con gái của anh Tuấn đứng trong hiên nhà chứng kiến giây phút chia tay của cha chú cũng phải bật cười… Và, không khí đã bớt nặng nề…! “Gặp nhau đây rồi chia tay, ngày vàng như đã vụt qua trong phút giây…”!

     Thôi, xin mượn câu nói của Nhậm Ngã Hành trong truyện kiếm hiệp “Tiếu Ngạo Giang Hồ” của Kim Dung – Ông đã nói với cô con gái của ông là - Nhậm Doanh Doanh lúc thoát ra khỏi nơi tù đày - Mười hai năm dưới đáy Tây Hồ để kết thúc bài viết.

     “Khi con người muốn sống, tất nhiên phải có lý do để sống”

     Xin chào - Hẹn một ngày không xa - sẽ họp mặt lần thứ 3…!

Trang Y Hạ
San Francisco.

    















Họp Mặt Lần Thứ 2 tại Portland, Oregon - 2018


Họp Mặt Lần Thư Nhất tại Westminster, Califonia - 2010


      



















23/05/2018

Tri Kỷ & Tri Âm




Tri Kỷ & Tri Âm

TRI KỶ:

     Tri kỷ là từ “Hán Việt”. Tri: hiểu biết. Kỷ: mình. Hai chữ “tri kỷ” ghép chung lại có nghĩa là hiểu biết về chính bản thân mình, tự hiểu về bản thân của mình… Có người nói:

     “Chính tôi còn không hiểu thấu tôi, vậy thì làm sao anh có thể hiểu được tôi!”.

     Câu tự thán đó không phải hoàn toàn vô lý. Để cho người khác thấu hiểu tâm lòng của mình khi mới quen hoặc chưa gặp mặt, hay dẫu có gặp mặt tiếp xúc đôi ba lần; trao đổi vài ba câu chuyện… chưa chắc đã hiểu nhau. Vợ chồng sống chung nhiều năm chưa hẳn là tri kỷ, khi mà ông nói gà, bà nói vịt cãi cọ ỏm tỏi hằng ngày. Thật ra cũng có nhiều cặp vợ chồng - ngoài tình vợ chồng ra họ vẫn là tri kỷ... - bắt nguồn từ nghề nghiệp, hay ngưỡng mộ tài năng trí tuệ hai bên qua dự cảm…  Tri kỷ, đó chính là dự cảm… Không ai xác định ý muốn một cách rõ ràng của chính mình để rồi tự nói ra cho người khác biết bởi - sự việc, ngữ cảnh, thời gian luôn biến đổi.

     Bạn bè quen nhau từ thuở còn ở dỗng, chia sớt vui buồn hoạn nạn cũng chưa hẳn là tri kỷ. Có hiểu chăng cũng chỉ là “suy bụng ta ra bụng người” mà thôi. Người xưa nói “Dò sông dò biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người”. Lòng người thâm sâu hơn biển. Từ cổ chí kim có biết bao câu chuyện lừa thầy phản bạn đã đi vào lịch sử. Trong truyện Tàu có Bàng Quyên – Tôn Tẩn. Hai người cùng học một thầy là Quỷ Cốc Tiên Sinh. Vì ganh tỵ mà Bàng Quyên âm mưu hãm hại Tôn Tẩn để cướp đi trí tuệ của bạn. Trong con người có thiện có ác. Bầu trời có đêm có ngày, có nóng có lạnh luôn luôn xung khắc từng giây, từng giờ. Từ đó tâm tình con người cũng dễ sa ngã hay thay đổi theo.

     Xưa nay hầu như mọi người mỗi khi nhắc tới hai chữ tri kỷ là nghĩ ngay tới người phụ nữ, như: - cô ấy là hồng nhan tri kỷ của tôi; cô ấy là người thấu hiểu tình yêu của tôi đối với cố ấy và ngược lại, hoặc như - anh mong muốn em là người tri kỷ của đời anh… Vân vân & vân vân… ! Tri kỷ mà dễ dàng như vậy thì trên cuộc đời nầy làm gì có “Tình là dây oan”? Để rồi tương tư thất tình; để rồi tự vẫn vì người yêu phụ bạc; để rồi xuống tóc đi tu – [cắt đứt dây chuông] như trong truyện Lan và Diệp… Tri kỷ chẳng dính dáng gì tới tình yêu trai gái cả, chỉ mượn chữ để khẳng định một sự tương ngộ hay xác tín một sự việc mà thôi.

     Trong văn chương xưa nay không hiếm tri kỷ. Bởi văn là người - nghĩ sao viết vậy. Đọc văn, đọc thơ hòa mình vào trong tác phẩm để rồi cảm thấy dường như có chính mình ở trong đó…! Cảm nhận ra nhân vật hay ý thơ đã nói dùm tâm trạng của mình. Dù có gặp tác giả hay không gặp vẫn xem đó là [một nẻo về của tâm hồn] của tri kỷ. Trong bài thơ Khóc Dương Khuê [1839 – 1902] của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến có mấy câu:

     “Rượu ngon không có bạn hiền,
       Không mua không phải không tiền không mua,
       Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
       Viết đưa ai, ai biết mà đưa,”

Đó là tri kỷ, và… đã không còn tri kỷ, bởi vì:

     “Bác Dương nay đã thôi rồi.
       Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta”

      Vậy, tri kỷ là hiểu mình. Đi tìm một người để hiểu mình không phải là một chuyện dễ dàng. Hoặc ngược lại để hiểu một người khác cũng không phải dễ dàng, cho dù có là bạn bè lâu năm hay là vợ chồng ăn ở với nhau lâu năm.

     Để cho người khác hiểu được mình. Điều trước tiên phải có cái vốn sống với đầy đủ nhân cách, tư cách, phải sống thành thật, có lòng vị tha, không nghi kỵ, đố kỵ hay ganh ghét… Biết yêu thương và quan tâm… Biết chấp nhận sự bất đồng để được hòa đồng hay tương đồng. Hơn hết là bản thân phải sống có đạo đức…. Tri kỷ là phải biết dự cảm với tất cả mọi nguyên nhân chủ yếu tiềm tàng ở trong con người, hoàn cảnh… - có thể xãy ra bất cứ lúc nào và nơi nào. Tri kỷ không ai đem cho mà tự mình đi tìm tri kỷ...!

TRI ÂM:

     Tri âm có nghĩa là hiểu về âm nhạc. “Ai tri âm đó mặn mà với ai”. [Kiều]. Nguyên do hai chữ tri âm là từ chuyện Bá Nha - Tử Kỳ mà có.

    Bá Nha hay còn gọi là Sở Bá Nha. Ông là người nước Sở nhưng lại làm quan Thượng Đại Phu ở nước Tấn. Ông có ngón đờn Thất Huyền Cầm nổi tiếng đương thời. Còn Tử Kỳ họ Chung - Chung Tử Kỳ - một người danh sĩ ẩn danh, nhà ở thôn Tập Hiền trên núi Mã Yên gần cửa sông Hàn Giang. Ông làm nghề tiều phu [đốn củi] đổi gạo phụng dưỡng cha mẹ già yếu.

     Một bữa Bá Nha vâng lệnh của vua nhà Tấn tới nước Sở công cán. Buổi chiều, khi trở về đoàn thuyền của Bá Nha đi tới sông Hàn Giang, Bá Nha nhìn trăng thanh gió mát nên ra lệnh cho đoàn thuyền cắm neo và bày tiệc rượu đồng thời lấy đờn ra khảy…, đờn đứt dây! Chung Tử Kỳ trên núi lấy củi nghe và khen tiếng đờn rất hay…! Bá Nha nghi ngờ có thích khách nên cho người lên bờ tìm hiểu. Đối đáp qua lại, Bá Nha mới biết Chung Tử Kỳ là bậc danh sĩ đã ẩn danh. Bá Nha mời xuống thuyền và đờn bản “Cao sơn lưu thủy” và các bản khác cho Tử Kỳ nghe. Tử Kỳ nghe - đoán được ý nghĩ, tâm trạng, hoài bão của Bá Nha. Bá Nha nghĩ rằng mình đã gặp tri âm [hiểu âm nhạc]. Bá Nha ngỏ ý mời Tử Kỳ về kinh thành nhưng Tử Kỳ từ chối vì còn phải trả hiếu cho cha mẹ. Bá Nha hẹn Tử Kỳ sau khi xong việc công sẽ trở lại thăm… Khoảng một năm sau Bá Nha trở lại thăm Tử Kỳ thì than ôi…! Tử Kỳ đã bị bệnh mà chết….! Bá Nha bày lễ cúng và khóc than trước mộ Tử Kỳ!... Bá Nha đờn trước mộ Tử Kỳ hồi lâu… Sau đó đứng lên đập vỡ cây đờn mà nói rằng: “Tử Kỳ chết rồi thì giữ đờn làm gì”!

     Từ chuyện Bá Nha - Tử Kỳ mà sau này người ta hay nhắc tới "Tri Âm" như là một sự - cảm thông, hay đồng cảm, hoặc chia sớt vui buồn trong tình yêu, tình bạn...

Ngón đờn nổi tiếng mà chi
tìm đâu ra một Chung Kỳ lắng nghe.

Trang Y Hạ - San Francisco

   


                    Sinh Nhật của người em bạn



22/05/2018

Thơ Cổ




Thơ Cổ

Sừ hòa nhật đương ngọ
Hãn trích hòa hạ thổ
Thùy tri bàn trung xan
Lạp lạp giai tân khổ.

Dịch thơ:

Giữa trưa nắng cháy đường cày
Mồ hôi thấm đất lúa rày trổ bông
Bưng cơm ai có hiểu không
Mỗi hạt là mỗi khổ trong khổ ngoài.

Trang Y Hạ



18/05/2018

Thúy Kiều Dự Lễ Thanh Minh




Thúy Kiều Dự Lễ Thanh Minh

       "Bất tri tam bách dư niên hậu
         Thiện hạ hà nhân khấp Tố Như"
                                           [Nguyễn Du]


Chiều xuống thấp nghĩa địa đẫm màu ma
vệt nắng mỏng mơ màng vương thảm cỏ
chim mỏi mệt bay về cánh rừng xa
khói hương quyện luyến lưu người trong gió

nàng Thúy Kiều ngồi bên ngôi mộ hoang
ghi: Hiệu Thư Lưu Đạm Tiên Chi Mộ
nghe sự kể từ - em trai Văn Quang
thương tiếc một bậc tài danh ngắn số

tay sờ bia giọt nước mắt tuôn trào
xót xa kiếp hồng nhan mà bạc phận
nàng liên tưởng mai đây sẽ ra sao
bước một bước lên ngôi hay lận đận

ý thơ nhập nàng rút vội cây trâm
viết lên cây vài câu thơ lưu lại
xưng chị em tha thiết với cõi âm
hồn Đạm Tiên dùng dằng lòng tê tái.

Trang Y Hạ - San Francisco

"Vạch da cây, vinh bốn câu ba vần". Câu [100]

Thơ rằng: [8 câu 4 vần]

Phiên Âm

Sắc hương hà xứ dã,
Bằng điều thống tâm tai. 
Minh nguyệt lãnh loan bị,
Ám trần phong kính đài.
Ngọc tuy hoàng thổ oánh,
Danh vị bạch tuyết mai.
Thương hữu như niên tửu,
Vô nhân điện nhất bôi.

Dịch Thơ:

Sắc hương lộng lẫy nơi nào
thanh minh gặp gỡ cớ sao bần thần
chăn uyên trăng lạnh phong trần
gương trong bụi phủ mấy tầng than ôi
ngọc vùi đất lấp sáng ngời
danh chưa trắng rợn chân trời gió mây
rượu trong ví phỏng còn đây
hai tay nâng chén sầu lây tế nàng.

Trang Y Hạ

Hồn Đạm Tiên linh ứng:

Một cơn gió giật rung cây
hương thơm có cả dấu giày in rêu
Kiều rằng: kể cũng trớ trêu
âm dương hòa tấm lụa thêu như vầy
tài mệnh tương đố xưa nay
tạ lòng nàng lại vạch cây mấy vần.

Trang Y Hạ

"Gốc cây lại vạch một bài cổ thi". [Câu 132]

Thơ rằng:

Phiên Âm:

Tây phong hà xứ khỉ,
Trận trận sử nhân ai.
Thảm thiết như hàm oán,
Thê lương tự hữu hoài.
Thừa loan nghi sạ khứ,
Khoái hạc nhạ trùng lai.
Bất đoạn hương hồn xứ,
Thương thương xứ ấn đài.

Dịch thơ:

Trời tây gió thổi từ đâu
mỗi cơn gió đẩy cơn sầu chưa phai
oan khiên thảm cảnh đã bày
buồn vương tự cổ lòng này nhớ nhau
hình loan quá vãng thêm đau
hạc vàng chợt hiện mai sau sáng lòa
gót ngọc rạng rỡ muôn hoa
hương hồn hiển hiện rõ là chị em.

Trang Y Hạ  - San Francisco












16/05/2018

Thơ Thúy Kiều



Thơ Thúy Kiều

     Bài thơ nầy Thúy Kiều làm cho Đạm Tiên trước khi nàng trầm mình xuống sông Tiền Đường tự tử. Nàng tự vẫn vì Hồ Tông Hiến giết chết chồng nàng là Từ Hải - một phần lỗi cũng vì nàng khuyên chồng ra đầu thú. Nàng bị mắc mưu và còn bị Hồ Tông Hiến đem nàng gã cho thổ quan.

"Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau" [Câu Kiều 2626]

Thập ngũ niên tiền hữu ước
Kim triêu phương đáo Tiền Đường
Bách tuế quang âm hỏa thước
Nhất sinh thân tự hoàn lương
Trào tín thôi nhân khứ dã
Đẳng nhàn liễu khướt đoạn trường

Dịch thơ:

Mười lăm năm trước có hẹn
Tinh sương bước tới Tiền Đường
Trăm năm bóng câu qua cửa
Một đời mơ mộng hoàn lương
Sóng trào tiễn người đi khuất
An nhàn giủ sổ đoạn trường.

Trang Y Hạ