Thư viện

24/5/26

ĐỌC; KIẾM HIỆP DÃ SỬ.

 



ĐỌC: KIẾM HIỆP DÃ SỬ.

        “Tay trỏ xuống, một phen bạc phơ đầu lũ giặc
       Vươn mình cao trăm trượng Sóc Sơn kia.”.
                                              (Trần Thúc Vũ).
Trang Y Hạ

     Tôi đọc truyện kiếm hiệp “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” gồm bốn [2] cuốn. Tác giả: Trần Phiên Ngung và thi phẩm “Dựng Cõi”, của Tác giả Trần Thúc Vũ. Cả hai “đầu sách” tôi nhận từ chị Hà Tuyết Vân ở Anaheim gửi tặng. Thật ra: (Trần Phiên Ngung - Trần Thúc Vũ. Tuy hai, nhưng cùng một tác giả.).

     Từ lâu, khi nhận được sách tôi đã có ý nghĩ viết đôi dòng như một “lời phi lộ” hầu bày tỏ chút (tương giao) cảm nhận lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn bày tỏ trong tác phẩm kiếm hiệp dã sử và thi tập như một lời cảm ơn. Tuy vậy, muốn thẩm thấu một tác phẩm trường thiên tiểu thuyết kiếm hiệp nổi danh trong một thời gian ngắn không phải chuyện ngày một ngày hai... Bây giờ ngồi viết cũng chỉ là lướt qua ý tưởng như người “cởi ngựa xem hoa” chứ không dám nói “bình văn, bình thơ” đối với một tác phẩm đồ sộ như vậy.

     Tóm tắc lai lịch sau bìa sách: “Thi sĩ Trần Thúc Vũ sinh năm 1941 ở Thái Bình. Cựu thiếu tá không quân VNCH, đi tù “cải tạo” ngoài Bắc mười hai [12] năm; đi tù đợt hai năm [5] năm. (Tổng cộng là mười bảy [17] năm.). Trục xuất ra khỏi nước năm 1999, được định cư ở Anaheim California (Hoa Kỳ) cho tới khi qua đời.”.

     Tựa sách “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, tạm hiểu là (Cõi trời phương Nam có một tay kiếm lừng danh.). Tuy rằng, cốt truyện dã sử là hư cấu, hư cấu nhưng không hẳn là muốn nói gì thì nói; nói không mục đích; nói không chủ đề. Tư tưởng cốt yếu trình bày trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, chủ đích tác giả gợi lại lòng yêu nước, lòng quyết tâm giữ nước của tiền nhân và người dân Đại Việt trải qua hàng ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Đồng thời tác giả cũng dẫn chứng ra các âm mưu thâm độc mà phương Bắc đồng hóa dân tộc Đại Việt qua các tổ chức, giáo phái bí mật có tên “Thất Sát Đoàn”... Hơn nữa, tác giả cũng nhắc lại cho hậu thế tên tuổi của các đấng anh hùng Đại Việt cũng như các địa danh xảy ra cuộc chiến chống quân phương Bắc.

     (Truyện kiếm hiệp dã sử dựa vào sử Đại Việt, tác giả viết trong thời gian còn ở quê nhà, biết rằng nội dung không đụng chạm, nhưng lại đụng chạm tới giặc Tàu nên không cho xuất bản trong nước.).

     Ngày xưa (ở miền Nam) tôi đã từng say mê đọc tiểu thuyết kiếm hiệp: “Đồ Long Đao”; “Anh Hùng Xạ Điêu”; “Võ Lâm Ngũ Bá”; “Tiếu Ngạo Giang Hồ”; “Lộc Đỉnh Ký”… Đọc xong có thể nói là để giải trí chứ chẳng lưu lại gì nhiều ngoại trừ tên của một vài nhân vật chính dễ nhớ hoặc một vài môn võ: “Giáng long thập bát chưởng”. “Cửu âm chân kinh”. “Hàm mô công”. “Nhất dương chỉ”. “Càn khôn đại nã di”. Đả cẩu bổng pháp”. “Thiết bố sam”…”. Và, các loại độc dược: “Thập Hương Nhuyễn Cân Tán” của Triệu Mẫn. “Xà Vương Độc” của Tây Độc Âu Dương Phong. “Hủ Thi Độc của Đinh Xuân Thu” “Tâm Thi Não Thần Đan” của Nhậm Ngã Hành. “Sinh Tử Phù” của phái Thiên Sơn Đồng Hủ. “Cốt Xuyên Tâm Cao” của Ngũ Độc Thánh Cô.

     Tất cả các thứ võ công, độc dược trong tiểu thuyết kiếm hiệp chỉ là để (gà nhà bôi mặt đá nhau.) của người Tàu. Trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” cũng có nhiều bí kiếp võ công thượng thừa: “Sát na vô lượng thần công”. Một tuyệt kiếm của Hưng Đạo Vương trong “Vạn Kiếp Bí Truyền”. “Bạch hạt kiếm”. “Ưng dực trảo pháp”. “Thái ất long hình công”... Những môn võ nầy dùng để đánh giặc phương Bắc, diệt kẻ phản quốc…, chứ không sát hạn đồng bào ruột thịt. Còn các loại độc dược độc địa thì trong Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm tuyệt đối không dùng. Bọn tiểu nhân, bọn độc ác mới chế độc dược tiêu diệt đối thủ có võ công thượng thừa để giành chiến thắng mà không hao tốn binh lực.

     Đọc “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, tác giả xử dụng cách hành văn miền Nam để diễn tả nội tâm nhân vật - dằn xé giữa sự trắc trở tình yêu trai gái; tình yêu gia đình; tình yêu tổ quốc và diễn tả các sự kiện lịch sử xung đột nội tình thế sự trên quê hương trước họa xâm lăng từ ngoại bang... Tác phẩm đậm tính văn học, văn chương tiểu thuyết. Tuy vậy, tác giả có xử dụng một số địa danh và nhân vật (tượng trưng) trong truyện kiếm hiệp của văn sĩ Kim Dung.

Trích đoạn:
     “Từ ngày lớn khôn Uyển Thanh hiểu được rằng, cha nàng tuy bề ngoài bình thản, nhưng tự trong lòng ông chất chứa một nỗi đau đớn khôn nguôi. Dù ông chẳng hé răng kể một lời về mẹ nàng, nhưng nàng biết ông yêu thương bà vô hạn. Uyển Thanh lớn lên, không được lưu một chút nào hình ảnh về người mẹ, những lúc buồn phiền, nàng ước mong có mẹ để được thổ lộ, để được cảm thông. Nàng biết cha yêu thương nàng, nhưng tình cha con dẫu đằm thắm, dẫu dịu dàng vẫn có điều gì xa cách, ông không thể thay thế một người mẹ trong tâm hồn nàng. Nàng làm sao ngỏ cùng cha những biến chuyển tâm tư của một đời thiếu nữ. Hằng đêm, nàng thao thức thương nhớ mẹ, dẫu rằng nàng chỉ có cái cảm giác thật là quá mơ hồ về một người mẹ, một người mẹ nàng không biết mặt, nàng chẳng còn nhớ được một kỷ niệm nào của những ngày thơ ấu, tất cả ký ức thuở ấu thơ như một đám mây mù.”.

     (Cô Uyển Thanh cũng là nhân vật chính cùng với Nguyên Huân ở trong truyện.).

     Trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”, nhân vật chính là Trần Nguyên Huân. Tôi nghĩ (nhân vật Trần Nguyên Huân có thể là hậu duệ của dòng họ Trần.) - đã ba lần đánh tan quân Nguyên. Nhân vật Nguyên Huân, đưa tôi đi diện kiến các vị anh hùng tài trí Đại Việt: (Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn, Trần Nguyên Đán, Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Trần Ngỗi...) và nhiều vị khai quốc công thần khác nữa. Tôi còn được ngồi ngắm cảnh sương mù lạnh lẽo trên Ải Chi Lăng hùng vĩ. Được ngồi lắng nghe tiếng vó ngựa của đoàn quân giặc phương Bắc và tiếng trống thúc quân tiến công của nghĩa quân Đại Việt... Được ngồi lắng nghe tiếng hò reo chiến thắng của nghĩa quân Đại Việt. Được ngồi lắng nghe vong hồn vị tướng Liễu Thăng than thở vì bỏ mạng trên xứ người…!

     Từ trong tâm khảm, Tôi lại còn nghe văng vẳng lời thì thầm bên tai của các vị tiền nhân Đại Việt, rằng:

     - “Này, chú em hậu bối. Chú mầy đọc “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” thì phải nhớ kỹ câu “Bắc Môn Tỏa Thược”. Nghe rõ chưa?”.

     Tôi mừng rơn vì hồn thiêng sông núi Đại Việt vẫn còn linh hiển chứ chưa hẳn là tan biến mất. Đại Việt là quốc gia nhỏ bé sống cạnh một ông hàng xóm to lớn. Năm ngàn năm qua, ông ta ỷ bự con lấy thịt đè người coi khinh Đại Việt. (Hàng xóm bất lương không thể nhận là “anh em” được.).

Trích đoạn:
     “Giữa lúc đó Trần Trí và Phương Chính “tướng Tàu” đem đại quân từ Nghệ An tiến lên Trà Long, dùng cả thủy quân ngược sông Lam mà tiến. Địch đến bờ nam của Khả Lưu, chuẩn bị tiến đánh lên bờ bắc. Đây là trận đánh then chốt, lần đầu tiên một trận chiến, có thời gian cho hai bên chuẩn bị, có sự tham chiến cả hai quân thủy bộ. Quân địch rất đông, mà nghĩa quân quân số chỉ chừng ba mươi ngàn, nên cuộc đọ sức phải bằng mưu trí và tinh thần quyết tử của nghĩa quân Lam Sơn hơn là thực lực.”.

     Lang thang trong truyện, tôi có gặp các môn phái: “Không Động, Võ Đang, Thiếu Lâm, Côn Lôn, Nga Mi, Hoa Sơn, Cái Bang…”. Có thể nói - tôi vui nhất là gặp anh chàng Trương Vô Kỵ! Gặp anh ta tôi nhớ lại cha mẹ của anh là Trương Thúy Sơn, Hân Tố Tố cùng người sư phụ Kim mao sư vương của họ, Tạ Tốn. Văn sĩ Kim Dung cho họ trôi ra Băng hỏa đảo và Trương Vô Kỵ được sinh ra ở đó. Tôi không biết Băng hỏa đảo ở biển nào? Đọc truyện kiếm hiệp của tác giả Kim Dung, ông không nói biển nào? Tôi nghĩ văn sĩ Kim Dung có biết và biết rất rõ, bởi trong tiểu thuyết của ông có nhân vật Trần Hữu Lượng – vốn dòng dõi nhà Trần, Đại Việt lưu vong. Chu Nguyên Chương không cướp công, - thì Trần Hữu Lượng đã lên ngôi làm vua. (Sách tái bản, văn sĩ Kim Dung loại bỏ nhân vật Trần Hữu Lượng ra khỏi sách?).

     Tôi cũng có thể tưởng tượng; tôi cũng có thể hư cấu như văn sĩ Kim Dung... Tôi tưởng tượng, tôi hư cấu: - Băng hỏa đảo có thể là Hoàng sa. Hoàng sa nghĩa là (cát vàng, cát vàng hợp với “hỏa”, màu lửa đỏ). “Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn đàn, lấy đàn bà thử đàn ông.”. Biển Đông rộng lớn mênh mông, ai kiểm soát biển đông thì tự do tung hoành.

     Trong tiểu thuyết văn chương thi phú không ai bỏ công lao ngồi viết ra toàn những thứ chữ vô nghĩa, nội dung trống rỗng, khô khan cho mất công... Ai cũng hiểu điều đó. Và, từ đó suy ra...

     Đọc: Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm, tôi gặp mặt chưởng môn nhân các phái. Ngày nay họ hiền khô, mặt mày hết bặm trợn, - một thời họ đã từng kéo đệ tử đi gây chiến, đi trả thù với các bang phái khác, với các quốc gia khác - gây ra xáo trộn giang hồ đồng đạo; xáo trộn đời sống xã hội khắp nơi... Bây giờ, họ biết trách nhiệm; biết đoàn kết thương yêu cùng nhau phục vụ cho quê hương của chính họ, hơn là cứ gà nhà bôi mặt đá nhau. Đi gây chiến xâm lấn với các quốc gia láng giềng. Tôi nghĩ, Trần Nguyên Huân đã giải thích đạo nghĩa làm người cho họ, nêu lên chính nghĩa Đại Việt cho họ hiểu, nên họ mới thức tỉnh mà “hồi đầu thị ngạn”...!?

Trích đoạn:
     “- Điều nầy vãn bối đã hiểu, tình người không phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng nói, phong tục. Cái đạo làm người là yêu mến mọi người, chữ Nhân kia lớn biết bao! Xin lão trang chủ chớ bận tâm áy náy. Đau thương, máu lửa, càng giảm đi được chừng nào, thì vận nước càng hưng thịnh, cái Nhân càng sáng tỏ…”.

     Tôi viết tới đây thì… (sức tàn, lực kiệt) - thôi đành chống gậy đi vô chốn vườn thơ: “Dựng Cõi” để nâng ly, ngâm vịnh vài ba bài thơ của tác giả Trần Thúc Vũ nhằm lấy lại sức... Tôi đọc một thôi hết cả tập thơ, chẳng những không lấy lại sức lực mà còn ngẩn ngơ ra với những câu thơ:

     “Trên chót vót đỉnh buồn ta đã tới. Cho một đời thoắt chốc những hư không. Dòng nước mắt này đây xin giữ lại. Tặng riêng em ngày tháng nặng khôn cùng.”! Trích thơ: (Trần Thúc Vũ).

Và: “Về Đâu”.

     “Muôn sau con cháu thay màu mắt. Đo hộp đầu lâu có ngẩn ngơ. Ngàn năm “gène” cũ còn hay mất? Có xót thương gì lũ thất cơ.
Trích: “Về Đâu”. Trần Thúc Vũ.

Trang Y Hạ
Viết tại, San Francisco- 2023.

Lời Gió Mưa:
Thần kiếm sắc bình chân Nam Quan Ải,
Dòng kinh trong nâng chén ngắm Cà Mau.”.
             Trích thơ: (Trang Y Hạ).






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét