ĐỌC: KIẾM HIỆP DÃ
SỬ.
“Tay
trỏ xuống, một phen bạc phơ đầu lũ giặc
Vươn
mình cao trăm trượng Sóc Sơn kia.”.
(Trần
Thúc Vũ).
Trang Y Hạ
Tôi đọc truyện kiếm hiệp “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” gồm bốn [2] cuốn. Tác giả: Trần Phiên Ngung và thi phẩm “Dựng Cõi”, của Tác giả Trần Thúc Vũ. Cả hai “đầu sách” tôi nhận từ chị Hà Tuyết Vân ở Anaheim gửi tặng. Thật ra: (Trần Phiên Ngung - Trần Thúc Vũ. Tuy hai, nhưng cùng một tác giả.).
Từ lâu, khi nhận
được sách tôi đã có ý nghĩ viết đôi dòng như một
“lời phi lộ” hầu bày tỏ chút (tương giao) cảm nhận
lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn bày tỏ trong tác
phẩm kiếm hiệp dã sử và thi tập như một lời cảm
ơn. Tuy vậy, muốn thẩm thấu một tác phẩm trường
thiên tiểu thuyết kiếm hiệp nổi danh trong một thời
gian ngắn không phải chuyện ngày một ngày hai... Bây giờ
ngồi viết cũng chỉ là lướt qua ý tưởng như người
“cởi ngựa xem hoa” chứ không dám nói “bình văn, bình
thơ” đối với một tác phẩm đồ sộ như vậy.
Tóm tắc lai lịch sau
bìa sách: “Thi sĩ Trần Thúc Vũ sinh năm 1941 ở Thái
Bình. Cựu thiếu tá không quân VNCH, đi tù “cải tạo”
ngoài Bắc mười hai [12] năm; đi tù đợt hai năm
[5] năm. (Tổng cộng là mười bảy [17] năm.).
Trục xuất ra khỏi nước năm 1999, được định cư ở
Anaheim California (Hoa Kỳ) cho tới khi qua đời.”.
Tựa sách “Nam Thiên
Nhất Tuyệt Kiếm”, tạm hiểu là (Cõi trời phương Nam
có một tay kiếm lừng danh.). Tuy rằng, cốt truyện dã sử
là hư cấu, hư cấu nhưng không hẳn là muốn nói gì thì
nói; nói không mục đích; nói không chủ đề. Tư tưởng
cốt yếu trình bày trong “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm”,
chủ đích tác giả gợi lại lòng yêu nước, lòng quyết
tâm giữ nước của tiền nhân và người dân Đại Việt
trải qua hàng ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm
phương Bắc. Đồng thời tác giả cũng dẫn chứng ra các
âm mưu thâm độc mà phương Bắc đồng hóa dân tộc Đại
Việt qua các tổ chức, giáo phái bí mật có tên “Thất
Sát Đoàn”... Hơn nữa, tác giả cũng nhắc lại cho hậu
thế tên tuổi của các đấng anh hùng Đại Việt cũng
như các địa danh xảy ra cuộc chiến chống quân phương
Bắc.
(Truyện kiếm hiệp dã
sử dựa vào sử Đại Việt, tác giả viết trong thời
gian còn ở quê nhà, biết rằng nội dung không đụng
chạm, nhưng lại đụng chạm tới giặc Tàu nên không cho
xuất bản trong nước.).
Ngày xưa (ở miền
Nam) tôi đã từng say mê đọc tiểu thuyết kiếm hiệp:
“Đồ Long Đao”; “Anh Hùng Xạ Điêu”; “Võ Lâm Ngũ
Bá”; “Tiếu Ngạo Giang Hồ”; “Lộc Đỉnh Ký”…
Đọc xong có thể nói là để giải trí chứ chẳng lưu
lại gì nhiều ngoại trừ tên của một vài nhân vật
chính dễ nhớ hoặc một vài môn võ: “Giáng long thập
bát chưởng”. “Cửu âm chân kinh”. “Hàm mô công”.
“Nhất dương chỉ”. “Càn khôn đại nã di”. Đả cẩu
bổng pháp”. “Thiết bố sam”…”. Và, các loại độc
dược: “Thập Hương Nhuyễn Cân Tán” của Triệu Mẫn.
“Xà Vương Độc” của Tây Độc Âu Dương Phong. “Hủ
Thi Độc của Đinh Xuân Thu” “Tâm Thi Não Thần Đan”
của Nhậm Ngã Hành. “Sinh Tử Phù” của phái Thiên Sơn
Đồng Hủ. “Cốt Xuyên Tâm Cao” của Ngũ Độc Thánh
Cô.
Tất cả các thứ võ
công, độc dược trong tiểu thuyết kiếm hiệp chỉ là
để (gà nhà bôi mặt đá nhau.) của người Tàu. Trong
“Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” cũng có nhiều bí kiếp
võ công thượng thừa: “Sát na vô lượng thần công”.
Một tuyệt kiếm của Hưng Đạo Vương trong “Vạn Kiếp
Bí Truyền”. “Bạch hạt kiếm”. “Ưng dực trảo
pháp”. “Thái ất long hình công”... Những môn võ nầy
dùng để đánh giặc phương Bắc, diệt kẻ phản quốc…,
chứ không sát hạn đồng bào ruột thịt. Còn các loại
độc dược độc địa thì trong Nam Thiên Nhất Tuyệt
Kiếm tuyệt đối không dùng. Bọn tiểu nhân, bọn độc
ác mới chế độc dược tiêu diệt đối thủ có võ công
thượng thừa để giành chiến thắng mà không hao tốn
binh lực.
Đọc “Nam Thiên Nhất
Tuyệt Kiếm”, tác giả xử dụng cách hành văn miền Nam
để diễn tả nội tâm nhân vật - dằn xé giữa sự trắc
trở tình yêu trai gái; tình yêu gia đình; tình yêu tổ
quốc và diễn tả các sự kiện lịch sử xung đột nội
tình thế sự trên quê hương trước họa xâm lăng từ
ngoại bang... Tác phẩm đậm tính văn học, văn chương
tiểu thuyết. Tuy vậy, tác giả có xử dụng một số địa
danh và nhân vật (tượng trưng) trong truyện kiếm hiệp
của văn sĩ Kim Dung.
Trích đoạn:
“Từ ngày lớn
khôn Uyển Thanh hiểu được rằng, cha nàng tuy bề ngoài
bình thản, nhưng tự trong lòng ông chất chứa một nỗi
đau đớn khôn nguôi. Dù ông chẳng hé răng kể một lời
về mẹ nàng, nhưng nàng biết ông yêu thương bà vô hạn.
Uyển Thanh lớn lên, không được lưu một chút nào hình
ảnh về người mẹ, những lúc buồn phiền, nàng ước
mong có mẹ để được thổ lộ, để được cảm thông.
Nàng biết cha yêu thương nàng, nhưng tình cha con dẫu đằm
thắm, dẫu dịu dàng vẫn có điều gì xa cách, ông không
thể thay thế một người mẹ trong tâm hồn nàng. Nàng
làm sao ngỏ cùng cha những biến chuyển tâm tư của một
đời thiếu nữ. Hằng đêm, nàng thao thức thương nhớ
mẹ, dẫu rằng nàng chỉ có cái cảm giác thật là quá
mơ hồ về một người mẹ, một người mẹ nàng không
biết mặt, nàng chẳng còn nhớ được một kỷ niệm
nào của những ngày thơ ấu, tất cả ký ức thuở ấu
thơ như một đám mây mù.”.
(Cô Uyển Thanh cũng
là nhân vật chính cùng với Nguyên Huân ở trong truyện.).
Trong “Nam Thiên Nhất
Tuyệt Kiếm”, nhân vật chính là Trần Nguyên Huân. Tôi
nghĩ (nhân vật Trần Nguyên Huân có thể là hậu duệ của
dòng họ Trần.) - đã ba lần đánh tan quân Nguyên. Nhân
vật Nguyên Huân, đưa tôi đi diện kiến các vị anh hùng
tài trí Đại Việt: (Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn, Trần
Nguyên Đán, Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo,
Trần Ngỗi...) và nhiều vị khai quốc công thần khác
nữa. Tôi còn được ngồi ngắm cảnh sương mù lạnh
lẽo trên Ải Chi Lăng hùng vĩ. Được ngồi lắng nghe
tiếng vó ngựa của đoàn quân giặc phương Bắc và tiếng
trống thúc quân tiến công của nghĩa quân Đại Việt...
Được ngồi lắng nghe tiếng hò reo chiến thắng của
nghĩa quân Đại Việt. Được ngồi lắng nghe vong hồn vị
tướng Liễu Thăng than thở vì bỏ mạng trên xứ người…!
Từ trong tâm khảm,
Tôi lại còn nghe văng vẳng lời thì thầm bên tai của
các vị tiền nhân Đại Việt, rằng:
- “Này, chú em hậu
bối. Chú mầy đọc “Nam Thiên Nhất Tuyệt Kiếm” thì
phải nhớ kỹ câu “Bắc Môn Tỏa Thược”. Nghe rõ
chưa?”.
Tôi mừng rơn vì hồn
thiêng sông núi Đại Việt vẫn còn linh hiển chứ chưa
hẳn là tan biến mất. Đại Việt là quốc gia nhỏ bé
sống cạnh một ông hàng xóm to lớn. Năm ngàn năm qua,
ông ta ỷ bự con lấy thịt đè người coi khinh Đại
Việt. (Hàng xóm bất lương không thể nhận là “anh em”
được.).
Trích đoạn:
“Giữa lúc đó
Trần Trí và Phương Chính “tướng Tàu” đem đại quân
từ Nghệ An tiến lên Trà Long, dùng cả thủy quân ngược
sông Lam mà tiến. Địch đến bờ nam của Khả Lưu, chuẩn
bị tiến đánh lên bờ bắc. Đây là trận đánh then
chốt, lần đầu tiên một trận chiến, có thời gian cho
hai bên chuẩn bị, có sự tham chiến cả hai quân thủy
bộ. Quân địch rất đông, mà nghĩa quân quân số
chỉ chừng ba mươi ngàn, nên cuộc đọ sức phải bằng
mưu trí và tinh thần quyết tử của nghĩa quân Lam Sơn
hơn là thực lực.”.
Lang thang trong truyện,
tôi có gặp các môn phái: “Không Động, Võ Đang, Thiếu
Lâm, Côn Lôn, Nga Mi, Hoa Sơn, Cái Bang…”. Có thể nói -
tôi vui nhất là gặp anh chàng Trương Vô Kỵ! Gặp anh ta
tôi nhớ lại cha mẹ của anh là Trương Thúy Sơn, Hân Tố
Tố cùng người sư phụ Kim mao sư vương của họ, Tạ
Tốn. Văn sĩ Kim Dung cho họ trôi ra Băng hỏa đảo và
Trương Vô Kỵ được sinh ra ở đó. Tôi không biết Băng
hỏa đảo ở biển nào? Đọc truyện kiếm hiệp của tác
giả Kim Dung, ông không nói biển nào? Tôi nghĩ văn sĩ Kim
Dung có biết và biết rất rõ, bởi trong tiểu thuyết của
ông có nhân vật Trần Hữu Lượng – vốn dòng dõi nhà
Trần, Đại Việt lưu vong. Chu Nguyên Chương không cướp
công, - thì Trần Hữu Lượng đã lên ngôi làm vua. (Sách
tái bản, văn sĩ Kim Dung loại bỏ nhân vật Trần Hữu
Lượng ra khỏi sách?).
Tôi cũng có thể
tưởng tượng; tôi cũng có thể hư cấu như văn sĩ Kim
Dung... Tôi tưởng tượng, tôi hư cấu: - Băng hỏa đảo
có thể là Hoàng sa. Hoàng sa nghĩa là (cát vàng, cát vàng
hợp với “hỏa”, màu lửa đỏ). “Lấy lửa thử
vàng, lấy vàng thử đàn đàn, lấy đàn bà thử đàn
ông.”. Biển Đông rộng lớn mênh mông, ai kiểm soát
biển đông thì tự do tung hoành.
Trong tiểu thuyết văn
chương thi phú không ai bỏ công lao ngồi viết ra toàn
những thứ chữ vô nghĩa, nội dung trống rỗng, khô khan
cho mất công... Ai cũng hiểu điều đó. Và, từ đó suy
ra...
Đọc: Nam Thiên Nhất
Tuyệt Kiếm, tôi gặp mặt chưởng môn nhân các
phái. Ngày nay họ hiền khô, mặt mày hết bặm trợn, -
một thời họ đã từng kéo đệ tử đi gây chiến, đi
trả thù với các bang phái khác, với các quốc gia khác -
gây ra xáo trộn giang hồ đồng đạo; xáo trộn đời
sống xã hội khắp nơi... Bây giờ, họ biết trách nhiệm;
biết đoàn kết thương yêu cùng nhau phục vụ cho quê
hương của chính họ, hơn là cứ gà nhà bôi mặt đá
nhau. Đi gây chiến xâm lấn với các quốc gia láng giềng.
Tôi nghĩ, Trần Nguyên Huân đã giải thích đạo nghĩa làm
người cho họ, nêu lên chính nghĩa Đại Việt cho họ
hiểu, nên họ mới thức tỉnh mà “hồi đầu thị
ngạn”...!?
Trích đoạn:
“- Điều nầy vãn
bối đã hiểu, tình người không phân biệt chủng tộc,
màu da, tiếng nói, phong tục. Cái đạo làm người là yêu
mến mọi người, chữ Nhân kia lớn biết bao! Xin lão
trang chủ chớ bận tâm áy náy. Đau thương, máu lửa,
càng giảm đi được chừng nào, thì vận nước càng hưng
thịnh, cái Nhân càng sáng tỏ…”.
Tôi viết tới đây
thì… (sức tàn, lực kiệt) - thôi đành chống gậy đi
vô chốn vườn thơ: “Dựng Cõi” để nâng ly, ngâm vịnh
vài ba bài thơ của tác giả Trần Thúc Vũ nhằm lấy lại
sức... Tôi đọc một thôi hết cả tập thơ, chẳng những
không lấy lại sức lực mà còn ngẩn ngơ ra với những
câu thơ:
“Trên chót vót
đỉnh buồn ta đã tới. Cho một đời thoắt chốc những
hư không. Dòng nước mắt này đây xin giữ lại. Tặng
riêng em ngày tháng nặng khôn cùng.”! Trích
thơ: (Trần
Thúc Vũ).
Và: “Về Đâu”.
“Muôn sau con cháu
thay màu mắt. Đo hộp đầu lâu có ngẩn ngơ. Ngàn năm
“gène” cũ còn hay mất? Có xót thương gì lũ thất cơ.
Trích:
“Về Đâu”. Trần Thúc Vũ.
“Thần kiếm sắc bình chân Nam Quan Ải,
Dòng kinh trong nâng chén ngắm Cà Mau.”.
Trích thơ: (Trang Y Hạ).


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét