Thư viện

29/8/25

UỐNG RƯỢU VỚI CỤ - KHƯƠNG-TỬ-NHA & CỤ - TRẦN CAO VÂN.

 



UỐNG RƯỢU VỚI CỤ - KHƯƠNG-TỬ-NHA & CỤ – TRẦN-CAO-VÂN.

       “Thanh hạ mỗi tồn tông xã niệm
       Liệu tri mộng mị đáo Thăng Long.” [1]
                               Thơ: (Trần Nguyên Đán)


Vị-Thủy chảy xuyên qua đầu Khương-Thượng [2]
ngư phủ câu giấu trong bụng lưỡi câu
Vương bá mộng tựa sợi tơ vương vướng
thế sự tình nhân-bản cấu nát nhàu.

Sông ôm ấp vì sao chờ cất vó
ngủ bao năm mê ngủ chẳng quên mơ
địa lợi tới thiên thời dồn cổ võ
nhân vị hòa kề vai luận cuộc cờ.

Hội thề để nối nỗi tình lạc quốc
chốn thiên đình giả điếc chẳng thèm nghe
chiến tranh dựa trên những điều không thực
kẻ gian manh là một lứa cá mè.

Đêm trừng mắt nghĩ suy tầm dịu kế
hoa tàng long ngọa hổ tứ tán phương
rừng núi hiểm bọn hung thần cách bế
biển sông ngăn chặn kín mọi nẻo đường.

Vân-Lâu rọi Trần-Cao-Vân câu cá [3]
ngóng thời cơ thành bại ý do thiên
Hương-Giang xót An-Hòa thương Vĩ-Dạ
Hải-Vân-Quan linh khí tỏa mọi miền.

Đền tháp cổ nhìn nước non ngơ-ngác
chí sĩ ngồi ngó cần ngập suy tư
ngự đất tổ thân đâm ra luân-lạc
vọng tương lai hai đầu gối mỏi nhừ.

Đất tổ ở, cớ chi không kiến-địa
lục thân chừ còn mất có vãng lai
bóng “tang du mộ cảnh” nghiêng tứ phía
hình “nhân sinh triêu lộ” lại sẵn bày.

Sông tịch mịch lòng sông âm ỉ sóng
tướng Yết-Kiêu chăm-chỉ đục đáy thuyền
nắng chiều vẽ hoàng-kỳ hừng hực nóng
đất không bằng nội thân giữ bằng yên.

Đò lủng đáy độ hà sơn bỉ ngạn
hầu định hình phẳng lặng một đại dương
mù chân-lý khai nguyên chân lý sáng
thắng trong tâm đâu sợ bị lạc đường.

Giả câu cá đợi “thời lai phong tống”
dẫu có là xương gãy hãy còn gân
nghiệm “hải giác thiên nhai” yêu lẽ sống
sở-cứ nguyên chương sử hết lạc vần.

Tửu chưa rót “đạo đồng” say bí tỉ [4]
tĩn “phủng thương thượng thọ” kính vĩ-nhân
chí sắt đá lộ đồ tung vó ký
đếch ngại chi nay Sở với mai Tần.

Trang Y Hạ.
Cước Chú:
1- Dịch thơ:
(Tuy nhàn hạ lòng vẫn lo việc nước
Liệu biết hay đêm mộng tới Thăng Long.)
2- Ông Lã Vọng tức Khương Tử Nha, Khương Thượng, tuổi đã tám mươi [80], ngồi câu cá trên sông Vi Thủy là khai quốc công thần nhà Chu (diệt nhà Thương) thế kỷ 12 (TCN).
3- Trần Cao Vân (1866 – 1916). Người Quảng Nam. Ông cùng vua Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp, thất bại bị người Pháp xử tử tại An-Hòa (Huế). Tưởng nhớ Trẩn Cao Vân. Thi sĩ: Ưng Bình Thúc Gia Thị, đề thơ:

Chiều chiều trước bến Vân-Lâu
Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.
(Ưng Bình Thúc Gia Thị).
4- “Đạo bất đồng bất tương vi mưu”.

LỜI GIÓ MƯA:
     Trong "The of Reason" của Triết gia Tây Ban Nha (George Santanaya) cuối thế kỷ 19, có nói:
- "Những kẻ nào không nhớ đến những chuyện xảy ra trong quá khứ thì thế nào cũng bị rơi vào hoàn cảnh tái diễn lịch sử".
Và:
     “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục. Tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”. Thi sĩ: (Gamzatov, thuộc quốc gia Daghestan).

Trần Phước Hân, (Sưu tầm)!




26/8/25

HỒ TRÊN NÚI SAN FRANCISCO


HỒ TRÊN NÚI SAN FRANCISCO


     “Hoành giáo giang san cáp kỷ thu”
                                     (Phạm Ngũ Lão).

Mò lên đỉnh sờ mặt hồ sẩm núi
đèo đá đeo bánh chè rã rời ra
hơi thở dốc sương tỳ vai đếch phủi
thông chọc trời mây chụm đứng hít hà.

Phành con mắt bóng Xuân-Hương, Than-Thở
ngắm Đồi-Cù róc rách thác Cam-Ly
Prenn vọng Tuyền-Lâm lòng rộng mở
đờn hết ngân, còn đứng đó làm gì.

Bên tai rót mật mùi lời Bao-Tự
mới hiểu rằng nàng ngậm miệng bấy nay
mới giật mình Phong-Hỏa-Đài đâu hử
rà châu thân thiếu chút cận ăn mày.

Cô vịt múa Khúc-Nghê-Thường làm dáng
cổ nghĩ rằng đồng chủng tộc Thiên-Nga
thôi đừng chấp, đã vô hình vạn trạng
vịt hay nga hoán-vị cũng vậy mà.

Bình-minh bận hầu chầu lão Thái-Thượng
cây cỏ mừng thưởng thức sữa sương thơm
xa bậu miết tưởng đứt dây tơ vướng
óc ngây-ngô xoa tóc muối bờm-xờm.

Nửa đời lổ nửa đời da loang-lỗ
chờ phủ phê oan khuất gánh phũ-phàng
tốt cái mã tìm nơi đâu mả giỗ.
sâm sẩm màu sẫm tối biết hỏi han.

Trót gá-nghĩa đất xa hàm-hồ trất
dàn trải lòng khế-ước định bao lâu
di-phương đượm hương thầm chưa thể mất
đả-đía lâu toác-hoác nửa cái đầu.

Hồ yên ắng hòa sớm mai tịch-mịch
não đinh ninh dậy sóng Bạch-Đằng-Giang
lính vốn dĩ răm-rắp tuân hiệu lịnh
tức thương thay bác Từ-Hải quy hàng.

Dạo thăm thú giật mình chim đực liệng
chợt hiểu ra, long hổ ngọa nơi đây
trút tâm sự vỗ về thời chinh-chiến
xương ngựa già cung kiếm mục nơi nầy.

Quay ngược để lên trời dòm Thượng-đế
quay xuôi nhằm lén ngó lão Diêm-vương
xót hai nẻo đi về đều hoang-phế
đành khai-hoang mở cõi ấm một đường.

Trang Y Hạ

Cước Chú:
Trong “Golde Gate Park” San Francisco,
trên đỉnh núi cao có một cái hồ rộng và dài.

Lời Gió Mưa:
Cho dù rồng có mạnh tới đâu cũng không thể ép được con rắn dưới đất”. (Trần Phước Hân).




23/8/25

MÙA THU SAN FRANCISCO

 



MÙA THU SAN FRANCISCO

       “Ngoài năm mươi tuổi ngoài chân thế,
        Ắt đã tròn như nước ở bầu”. (Nguyễn Trãi).

Quăng than-vãn, liệng sầu mây khóc gió
điện-thoại nâng sờ thu nét phôi-pha
tự khởi thủy vòng hợp tan vò-võ
mắt Huyền-Trân vọng cố-quốc chưa nhòa.

Quý-Ly cạn rượu khan trên đất giặc
lá rơi hồ vận nước sóng có lay
đêm lắng tiếng thở dài im phăm-phắt
ủ hơi men ấm quê đoạn tháng ngày.

Lòng canh cánh bóng chim thời luân-lạc
ướp thời gian, chừ nội, ngoại lai hy
hồi tồng-ngỗng bến thơ ngây chất-phát
nguyệt chở rằm ký-ức rạng nhu mì.

Cầm điện-thoại tâm bồi-hồi quá thể
bậu trong thơ men ủ tuổi hai mươi
Thái Bình Dương gợn bao điều muốn kể
nhận diện ra môi héo nở hoa cười.

Golden Gate Park tứ mùa lá vẫn [1]
ngoắt bóng người lai vãng điểm dung-nhan
cổ-thụ mỏi mầm chồi chờ hướng dẫn
hoa dại trêu chú bướm đực mơ-màng. [2]

Ôm dây rún mẹ nhủ rằng cõi tạm
lời triết nhân, lời ấy thấm cõi sâu
cảo-nhân rạ ước mơ nào có dám
áo bả choàng xếp xó mộng công hầu.

Ngồi ghế gỗ lạnh-cẳng hoài phương-bối
đã cận lâm không hiểu điểu đậu bay
đã cận thủy chẳng biết đường ngư lội
đành chịu ngu giữ trọn kiếp dại này.

Thu hồi tống rêu phong vườn thu cũ
hồn lá vàng phất-phới rộn từ tâm
thơ văn lạc mỏi chân tầm câu cú
trang thiên-cơ đời đợi có đợi lầm.

Dây tầm gửi tủi lòng treo cổ thụ
nắng thu chiều gom sáng vẽ màu đêm
thông gìa bóng phủ thông non nhắn nhủ
đồ viễn trường nhật mộ cố kiếm tìm.

Trang Y Hạ

Cước Chú:

1- Công viên rừng già San Francisco.

2- “Vườn xuân hoa nở đầy giàn,
Ngăn con bướm lại kẻo tàn nhụy hoa”. (ca Dao).




20/8/25

TRẦN GIA

 




TRẦN GIA


Cư tâm phúc lộc vạn điểm đầu

Nguyệt tân doanh đắc phủ thiên thâu

Thụy cố an nhiên kỳ mộng kiến

Vĩnh tuy hoài nhị lĩnh công hầu.


Dịch Nghĩa:

Lòng ở an phúc lộc hàng vạn hưởng tới bạc đầu

Trăng luôn sáng được tiếng cả ngàn năm

Sự lành lưu lại bình tâm hồn sẽ thấy mộng đẹp

Ổn định lâu dài, không hai lòng ắt sẽ vinh hiển.


Trang Y Hạ

Làm tặng cho một người.






18/8/25

NGÀY ĐÔNG Ở SAN FRANCISCO

 



NGÀY ĐÔNG Ở SAN FRANCISCO

  

      "Đánh tranh chụm nóc thảo đường,
        Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi”
                                           (Nguyễn-Du).


Sương sớm rủ, đông về thôi chở lạnh
bởi hiềm vì, cô starbucks chêm hơi
ngã-tư phố, mù-mờ chia tám nhánh
bước lơ-ngơ, bụng trộn-trạo rối-bời.

Chiếc-lá-cuối-, cùng” đường buông tay rũ [1]
xuống cõi đời bay bổng cõi-người-ta” [2]
khung-cửa-hẹp” đôi mắt viền huyết-dụ [3]
đất, hòa-âm-điền-dã” hóa hiền hòa. [4]

phố ngóng khách bộ hành rong phố chợ
xe hơi nằm mê ngủ lạc lối đi
nợ chưa mắc, cớ chi đâm mắc nợ
đè tâm can nặng bụng bởi duyên gì.

choàng tay siết eo thon cô starbucks
công-viên dư hàng ghế gỗ lê-thê
gió mặn chát thái-bình-dương cố quất [5]
phận ma hời, mong chi được vỗ về.

cây biệt gốc cây khô thân bỏ lại
đoạn đoạn ra, chế ghế đẩu ngồi chơi
Dương-quan-khúc, mây trèo qua cửa ải
lữ-trạm vui bao quãng vượt đã đời.

công-viên núi, thiêu-thiếu ai lui tới
rậm-rạp đồi, nhơ-nhớ thuở chiến-chinh
trực-thăng vọng âm thanh trầm vời-vợi
tận từ tâm, vương-vướng sợi ân tình.

ngụm nửa ngụm cà-phê vơi hơi ấm
văng-vẳng dồn văng-vẳng giọng bâng-quơ
đông siêng ghé, đẩy quê ra thăm-thẳm
chòm râu queo, tuyết dính tóc bơ-phờ.

quay lại quán mây mù theo bén gót
cô Thúy-kiều thầm-thỉ Alissa [6]
Cửu-long sóng hòa-âm Tiền-đường sóng
là giai-nhân tự-cổ đã lụa là.

cô gái trẻ, đầu chăm-băm “lap-tap”
có hiểu rằng, tâm lính trận sáng trưng
bồi-hồi nghĩ, vòng tay xưa ấm-áp
tuổi hai mươi, kỷ-niệm đóa hoa rừng.

nhận điệp-khúc, lời nguyền ngày đông trở
tuổi ly-hương bia-khắc-tự gió mưa
hẻm hẹp dẫn ngõ sinh từ muôn-thuở
én già nheo mắt đỏ vọng giao-thừa.

Trang Y Hạ

Cước Chú:
1- “Chiếc Lá Cuối Cùng”. Tác giả: (O. Henry).
2- “Cõi Người Ta”. Tác giả: (Saint – Exupéry).
3- “Khung Cửa Hẹp”. Tác giả: (Andre Gide).
4- “Hòa Âm Điền Dã”. Tác giả: (Andre Gide).
(Bốn tác phẩm do thi sĩ Bùi-Giáng dịch sang Việt Ngữ).
5- Theo tiếng Việt cổ. Cố quất, cũng có nghĩa “Cố Quốc”.
6- “Ai đẩy Thuý Kiều vào lầu xanh? Ai xô Alissa vào khung cửa hẹp? Ta tạm nói theo lối hồ đồ: chính Nguyễn Du đã đẩy Kiều vào lầu xanh; chính Gide đã xô Alissa vào khung cửa hẹp. Để làm gì?”. Trích: “Lời Nói Đầu” trong bản dịch “Khung Cửa Hẹp” của dịch giả: Thi sĩ (Bùi Giáng).

Lời Gió Mưa:

Làm thơ để gởi tấm lòng vô thiên cổ chứ không phải lưu danh nhất thời”. Trần Tử Ngang (661-702)

ĐĂNG U CHÂU ĐÀI CA

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế hạ.
Thơ: Trần Tử Ngang

BÀI CA LÊN ĐÀI U CHÂU [1]
Trang Y Hạ. Tạm Dịch.
Ngó trước chẳng thấy người xưa,
Nhìn sau kẻ mới vẫn chưa nghĩ mà.
Buồn trời buồn đất bao la,
Một ta quạnh quẽ sương sa não nùng.

Cước chú:

1- U-Châu là Bắc Kinh ngày nay.



17/8/25

THIẾU PHỤ


 

Đánh tranh chụm nóc thảo đường

  Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi”


(Nguyễn-Du).



11/8/25

ĐIỆN THOẠI

 



ĐIỆN THOẠI

     Trùng lâu thuý vũ nhân hà tại,
     Duy kiến hoang sơn đối tịch huân.
                                    (Lê Thánh Tông) [1]

Mở “phôn” ra, anh sẽ thấy em ngồi
sồ-sề chứ, không “gầy” như thơ tả
anh biền-biệt, trốn ở đâu vậy hả
mở phôn ra, là đã thấy em rồi.

Em bây chừ: (tóc, mắt, mũi, cằm, môi)
còn nguyên đó, nhưng thật là không phải
em cố đợi, đợi khi anh trở lại
sợ nhan tàn, đành mượn thuật “trụ-nhan”. [2]

Có đôi khi nhờ ((dao, kéo) tân trang
chỉnh “mâm pháo”, sửa suối đồi làm dáng
bước ỏng-ẹo, giả nai cho lãng-mạn
nơi phương trời, anh có nhận ra chăng.

Mấy chục năm, chính-chiến bỏ đất cằn
anh mất sạch, với em thì chưa mất
luôn bám víu, phao cảnh đời gian thật
thêu bức tranh “thiếu-nữ” mộng anh về.

Có bao đêm, dựa trăng bày tỉ-tê
bậc thềm vắng, dế kêu càng thêm vắng
chó gầm-gừ, lòng bồi hồi lo-lắng
sủa bóng người hay là sủa bóng ma.

Mở phôn ra, mong hãy mở phôn ra
anh cứ gọi, số nào em cũng bắt
anh cứ gọi, hàn ôn thời xa lắc
đã bên nhau, trên khắp cả địa-danh.

Bài thơ tình ướt-át cạn tuổi xanh
đừng cố nặn vét thêm chi mất sức
em vẫn sống hai cảnh đời mộng thực
để tìm nguồn an-ủi đỡ tàn phai.

Dù hom-hem, tuyết rụng thấm hai vai
cầm phôn lên, mở ra hơi tỏa nóng
em vẩn ngóng và đêm đêm vẫn ngóng
điện-thoại reo, chắc chắn của anh rồi.

Trang Y Hạ

Cước Chú:
1- (Lầu cao gác biếc còn người ở đâu,
Chỉ thấy núi hoang nắng chiều vương lại.)
2- “Trụ nhan”, Theo Hán Tự - nghĩa là kiềm giữ dung mạo không để cho già. Thuật trụ nhan (Thiên Long Bát Bộ) là thuật dưỡng nhan đặc biệt của phái Tiêu Dao, có thể khiến người trăm tuổi, trẻ lại như đôi mươi. Trường hợp này có Thiên Sơn Đồng Lão và Lý Thu Thủy, đã tám mươi tám [88] tuổi nhưng trông như bốn mươi [40], rất tiếc thuật Trụ Nhan đã thất truyền.

Lời Gió Mưa:
    Mỵ Châu - người con gái của Thục phán An Dương Vương. Cô công chúa quá thật thà đã trao nỏ thần cho “người yêu” Trọng Thủy - con trai của Triệu Đà. Triệu Đà vốn đã có ý đồ chiếm lấy Âu Lạc. Nay được nỏ thần, Triệu Đà xua quân vây thành Cổ Loa và thành Cổ Loa thất thủ.
     Biết trúng mưu hèn kế bẩn của giặc. Thục phán An Dương Vương vội vã nhảy lên ngựa, đem theo công chúa Mỵ Châu chạy ra ra biển trốn.
Về phía Mỵ Châu, cô vẫn còn hy vọng Trọng Thủy sẽ chung tình và đi tìm nên cô lấy lông ngỗng giấu từ trong túi áo rải dọc đường làm mật hiệu.
     An Dương Vương chạy đến bờ biển, đức vua quỳ xuống khẩn cầu sự giúp đỡ của thần Kim Quy. Thần Kim Quy hiện lên, phán rằng: "Người ngồi ở sau lưng ngài chính là giặc đó".
     Có thể nói Trong Thủy chính là “gián điệp” do Triệu Đà cài đặt. Vua An Dương Vương mất cảnh giác. Vậy, (giặc ngoại xâm không đáng sợ bằng giặc nội xâm). Từ bài học lịch sử đau thương của Vua Thục Phán An Dương Vương mà hơn bốn ngàn năm qua các triều đại Đại Việt vẫn luôn luôn đề phòng phương Bắc. Trong đền thờ vua Lý ở Nam Định có đề bốn chữ “BẮC MÔN TỎA THƯỢC”.
     Lịch sử “khẳng định”, kẻ thù truyền kiếp ngàn đời của Việt Nam chính là phương Bắc. Họ chẳng phải là “Anh em , đồng chí”.
                                                     Trần Phước Hân (St).




6/8/25

UỐNG RƯỢU VỚI HẰNG NGA

 



UỐNG RƯỢU VỚI HẰNG NGA


     “Ngã kim nhật tại tọa chi địa
      Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi” [1]
                                     (Vương Thực Phủ)

Nhá-nhem vọng trăng non nhô đầu núi
lạch lao-xao, chó sũa thủy-triều dâng
lòng-tong cá nhiễm dòng chờ chết đuối
cầu bê-ton bến cũ níu nợ-nần.

Nghe đồn-đoán bậu bơi qua biển lạ
gặp cứu-tinh, định-vị khoản vọng-sinh
mừng cho bậu, trèo lên cân (phúc, họa)
gói tâm thành hạ-sự chẳng vô tình.

Nghiền-ngẫm nghĩ, đoạn “lễ môn nghĩa lộ” [2]
nghiền-ngẫm suy, khúc “sát phí kinh doanh” [3]
gánh trần-ai biết ai trì độ độ
sữa mẹ khô, đất nẻ biệt không đành.

Con trâu yếu, sờ máy cày thêm thích
tầm cây đa, cây đa trụi thân trơ
chú cuội lái xe hơi vòng du-lịch
mặc vet-ton, quên ngủ bụi ngủ bờ.

Con nhái gọi bạn tình khô cứng họng
đêm sương vo giọt mặn hóa ra châu
hương bồ-kết ghì cọng rơm lạc-lõng
người đi xa còn giữ thuở dãi dầu.

Đèn cạn đáy, hiên lá rơi da-diết
gió mệt dìu hồn Lý-Bạch liêu-xiêu
cô thơ đợi, mắt mờ không giấy viết
đành trân mình chịu xỉ-vả đủ điều.

Đồng lên phố, đời lúa than-thở phận
cụ Thần-Nông, thắc-thỏm mắt trõm-lơ
bụng trộn-trạo, nào có ai phát-chẩn
ai thi-ân, mặc bão tố xô bờ.

Trụ đèn tắt, lò-dò tìm trăng mỏng
Nguyệt Nga ngồi, thấp-thỏm gặp Vân-Tiên
chim đớp muỗi, liệng ngang không để giọng
mơ đêm thanh, xóa bớt nỗi ưu-phiền.

Mở điện-thoại (gọi, nhắn) ngày tháng cũ
cầu ao sen bóng bậu có nôn-nao
thanh-bình buổi cớ chi thân di-trú
chưa xả ao, xã-tắc lạc phương nào.

Đất trời đổi, thân đơn Dạ-Lữ-Viện
ly-bôi khan, ngẩng mặt tiễn Hằng-Nga
trăng vành vạnh, giờ chẳng qua làm kiểng
thương rằm xưa nguyệt tỏ vẫn chưa nhòa.

Trang Y Hạ
Ngày hè, ghé Long Beach, California - 2025.

Cước Chú:
1- (Chỗ đang ngồi ngày hôm nay,
Người xưa cũng đã từng ngồi).
2- Nghĩa là: - con người mới sinh ra là đã có “thiện lương”! Và “lễ, nghĩa” cũng có từ sơ nhi. Vậy lễ là cửa, nghĩa là đường - để đi vào cuộc sống tiếp theo.
3- Nghĩa là: - việc lao động cầu sinh để tồn tại rất khó khăn.

Lời Gió Mưa:

    Từ lâu: “Phép ẩn dụ luôn luôn được thêu dệt và lồng ghép chằng chịt ở trong tấm thảm nhung tuyệt đẹp của ngôn ngữ. Do đó, mà nếu không có phép ẩn dụ thì văn chương thi phú chẳng qua cũng chỉ là một miếng vải thô kệch, bạc màu rách nát.”. (Trần Phước Hân).



31/7/25

NGÀY HÈ Ở ROSEMEAD.

 



NGÀY HÈ Ở ROSEMEAD

     “Trùng lâu thuý vũ nhân hà tại,
       Duy kiến hoang sơn đối tịch huân.”. [1]
                               (Lê Thánh Tông).

Ngọn gió dịu-dìu qua lòng phố nóng
lọn tóc cô starbucks búi cao cao
áo mỏng mặc bữa ni phơi mong-mỏng
cà-phê lay đồi vắng mở đường vào.

Nhạc nhã giọng hồn lâng-lâng huyễn-thuật
mơ-màng con sóng nhỏ hà-can
mười năm đếm thử còn bao nhiêu suất
quách liêu-xiêu nội thị gánh điêu-tàn.

Bậu ngồi chống cằm nghiêng qua mấy hướng
ghế rung-rinh chẳng hé mắt môi mời
dây chưa buộc đôi chân đà vương vướng
mãi lân lòng âm-ấm hóa xa-xôi.

Điều-hòa-máy, ngỡ làn da ấy mát
liếc qua gương tóc bỏ nhuộm đã lâu
sờ đầu gối ôn ấm hơi trận mạc
bóng hoàng-mai ẩn hiện vẫn tươi màu.

Dáng chim mỏi hối-hả đi làm tổ
dưới mái hiên hầm-hập bụi trần-ai
giọng nho nhỏ vọng âm lời kinh khổ
nhuận-sắc hay hồi luân nghiệt-ngả bày.

Ngồi sực nhớ, Lọ-Lem cô Công-Chúa
nhớ anh chàng, Chử-Đồng-Tử khỏa thân
thương đổ bệnh cánh đồng mùa thiếu lúa
thương mấy loài sinh phóng biết mấy lần.

Trưa huyễn-mộng, mộng Thúy-Kiều réo gọi
sóng Tiền-Đường, lớp lớp cuộn nào ngơi
thuyền không đáy, trôi trôi miền không tới
lời thề xưa biết có, lỡ lỡ lời.

Câu thơ khổ, không vẽ ra để khóc
bài thơ đau, chẳng vẽ để thở-than
đất trời cũ còn dang tay mời mọc
thế-nhân từ thế-nhân bắt bẽ-bàng.

Hà-phương xứ, hơi huân-phong ve vẫy
thị-sự bày, bày biện lắm ngổn-ngang
ngẫm thân thể, tang – “tang-du-mộ-cảnh” [2]
ngậm – “thiết-phi-chi-thống” lội địa-đàng. [3]

Phành đôi mắt to tròn cô starbucks
đượm màu đen sáng thế-kỷ hai mươi
vọng hè lạc, xác ve sầu trở giấc
hồn phượng vui tà áo gió mỉm cười.

Trang Y Hạ
Ngày hè ở Rosemead, Los Angeles 2025.

Cước Chú:
1- “Trùng lâu thuý vũ nhân hà tại,
Duy kiến hoang sơn đối tịch huân.”. [1]
(Lê Thánh Tông).
Dịch thơ:
(Gác Lầu còn đó người ở đâu,
Đứng ngắm núi hoang chiều nắng rọi.).
2- “Tang dâu mộ cảnh”. Nghĩa là: (Bóng ngả cành dâu).
3- “Thiết phi chi thống”. Nghĩa là: (Đau như cắt da).


LỜI GIÓ MƯA:
     Sau 7 giờ tối ngày 25 tháng 12, 1991, chế độ cộng sản (totalitarianism), một hệ thống nhà nước bạo lực đã kiểm soát tuyệt đối và đặt ra ngoài vòng pháp luật mọi hình thức đối lập tại Liên Xô, Đông Âu sụp đổ. Và từ đó, một chế độ toàn trị khác - công nghệ (techno-totalitarianism) ra đời. Dù rằng, chế độ nô lệ cổ điển đã bị hủy bỏ tại Mỹ, Châu Âu sau thế kỷ 18. Tuy nhiên, trên thực tế chế độ nô lệ không hoàn toàn bị hủy bỏ mà chỉ biến thể không chỉ nô lệ thân xác mà còn nô lệ tư tưởng.



5/6/25

MƯA SAN FRANCISCO (Thơ Phổ Nhạc).

 




HÀNG CÂY GIÀ

 



HÀNG CÂY GIÀ


     “Đài các hữu nhân nho tịch noãn,
        Biên thùy vô sự liễu doanh nhàn”. (Nguyễn Trãi).

Hàng cây, đứng bên đàng
chào nhau, chào buổi sáng
dốc phố quen, rủ rê về chạng vạng
hỏi vì sao, quá khứ mãi tươi xanh.

Sương vẽ màu, vẽ rong rêu rực rỡ nắng hanh
cành cây ướt
con chim già, ho húng hắng
văng vẳng nghe
tiếng gót giày thầm lặng
gót của nàng, hay là gót chân ai.

Gió, mở lòng thổi hơi gió tê tay
mùi áo trận thoang thoảng hương trinh nữ
ôm dây rốn, biết chốn đời lữ thứ
mẹ cưu mang chưa cho chọn phương nào.

Hàng cây đứng bên đàng
sức lực tiêu hao
không thể nắm, tay nàng quay trở về đoạn cuối
để cùng ngồi, gom dương liễu vào thơ
bên kia bờ đại dương lầm lũi ngày mơ
trang lưu bút, nhen lên từng nét ấm.

Từ khi biết tên người
đã biết yêu, từ non cao núi thẳm
bông ái tình, mỗi ngày mỗi hoa râm
đã để mất, câu thề dưới trăng rằm
con chim mộng tha phương, mong hội ngộ
rừng luyến rừng, kỷ niệm luyến nơi đâu.

Mưa mùa trước phủ mờ, mất hút bóng hải âu
áo Hoàng Sa, đẹp dung nhan vàng hoa cúc
tuyết mấy mùa, có ghé hỏi thăm
khúc ngũ liên sóng vỗ bờ thôi thúc
từng đoàn quân, hăng hái bước xuống thuyền.

Đôi tay từng cầm lái giữ bình yên
con quốc kêu, mặc kệ đêm sương mọng
chân lặc lè, trái tim đương nóng
chiến trường xưa, còn giữ lửa chưa tan.

Hàng cây đứng bên đàng
trông theo bờ dĩ vãng
yêu quê hương, chưa khi nào hữu hạn
thương hàng cây bên đàng dáng cao hơn.

Trang Y Hạ
San Francisco, 2010.




HÒN NON BỘ (Thơ: Phổ Nhạc).


 



27/5/25

ĐẤT NGHẸN

 



ĐẤT NGHẸN


      “Cử đầu vọng minh nguyệt, 
       Đê đầu tư cố hương.”,
                       (Lý Bạch).

Không phải tới giờ mới thấy thương quê
đã biết yêu quê từ thuở vừa sang sáu
tuổi thơ ngây, tập-tễnh tập mặc quần dài
thử đón tết, thử ngửi mùi nhang ăn bánh ú.


Mỗi ngày đoán giờ, qua bóng cây cau cây đu đủ
sáng gầy lờ, chiều tối cha ở ruộng về đan [1]
đan cho đặng sớm mai mẹ đem ra chợ
mới sáu tuổi đầu, biết chia khổ với mẹ cha.

Dựa gối gầy lờ, bụng ỏng trông đám ruộng xa
bóng mẹ tỏ mờ, giống bà tiên hiều hậu
bánh đúc xẻ hình thang, chấm mắm cái mẹ mua
ăn ngấu-nghiến, còn hơn nem công chả phụng.

Đói phân, cây sắn gắng gượng cao ngang bụng
con bò, con trâu không dám gặm trụi cỏ đồng
mùa lúa chín, rơm rạ theo người về nhà sum-họp
thằng bù nhìn buồn xo, xuôi tay ngó bầy chim.

Tháng chạp, đám mía khoe cờ lau đứng lặng im
vắt vẻo lưng còng chuyển về lò ép lấy nước
đường bát đối mặt, quấn rơm khô nằm thúng
gánh đi bỏ mối lấy tiền sắm tết, đón giao thừa.

Sông Rù-Rì, mùa cạn ngong ngóng cơn mưa [2]
tự biết bơi, lặn lần theo từng con cá bé
trong veo nước, hột phù-sa trôi về phương nào
bóng mây trắng lộn nhào theo cát trắng.

Mẹ mỗi ngày ngồi dệt, mẹ thèm hơi nắng
khung cửi ôm chân hòa nhịp tiếng thoi đưa
mẹ dệt thuê lấy gạo, khắp cả nhà người
vải đẹp cho đời, tấm áo mẹ vá tả tơi.

Cha vật lộn mảnh đất nhỏ “hương-hỏa”, xói đời
đất nghẹn không thể nào cho chi thêm nữa
cơm nồi đất, tụ hội bạn bè vui sắn khoai
khoai sắn, cũng cân đo đong đếm chi li.

Ngồi đánh vần mơ ước mệt mỏi ngủ li bì
trong mộng-mị, bảng ghi danh đỗ trạng-nguyên
thức giấc, mẹ cầm tay đồ theo từng nét chữ
chữ nho, cha dạy rúi nùi như đan như lát.

Cha mẹ, lìa quê lên miền cao-nguyên lưu lạc [3]
bỏ gầy lờ, gầy tương lai da đỏ sậm ba-dan
đất lạ đãi người mới, ruộng vườn xanh mướt
chuông nhà thờ dội tan sương báo tin mừng.

Ánh sáng chính là thuốc khử trùng trên từng
bông mai vàng nở lại, rõ “phúc họa tương tinh”
cuộc đời có vết nứt, ánh sáng mới lọt qua
móng nhà đổ nát phải chăng chỉ vì con kiến.

Mưa nắng hai mùa, cha mẹ dành vốn liếng
gió núi khói sương lạnh cóng, chẳng nề hà
đôi chân, chân cứng đá mềm chưa than-thở
hy-vọng hai thân dồn hết về những đứa con.

Bầy em sinh sau, chịu cảnh tản-cư mỏi mòn
trở lại thăm lại, nơi sinh ra cùng hơi núi
cao-nguyên giữ nguyên trạng, cho người về nhớ
mùi nắng, mùi mưa, mùi hy-vọng, mùi chia ly.

Cuộc đời ai cũng có nhiều tiếc nuối
thôi đành ôm nuối tiếc bước theo thủy-triều.

Chạy được hòa thượng, không chạy khỏi miếu
đám thảo-khấu ùa về cướp hết cả công-lao
đất nghẹn nhìn người bỏ quê, đi lánh nạn
cha mẹ ly-hương lây qua đời con tha-phương.

Ngụ ở bên này bờ đại-dương,
sóng vỗ lòng đau, tơ tưởng đoạn đường làng
mẹ dẫn đi chúc tết bà con trong xóm
cha dẫn đi chạp mả, trời đông gió bấc mưa phùn
dạy con, lòng ngay không sợ bóng nghiêng.

công lao cha mẹ, nối tiếp các bậc tiên-hiền
ngậm ngùi lìa quê, còng lưng khai-cơ lập-nghiệp
để lại cho con, - xin lỗi chúng con đành để mất
đất nghẹn, tới khi nào hết nghẹn cho đây.

Trang Y Hạ
San Francisco, 2008

Cước chú:
1- Lờ là một dụng cụ bắt cá đồng.
2- Sông Rù-Rì ở Xã Sơn-Xuân, Quế-Sơn, Quảng-Nam. Sông còn có tên Ly-Ly.
3- KonTum, 1957.


San Francisco (Hoa Kỳ)

20/5/25

CHỮ PHƯỜNG TRONG ĐỜI SỐNG

 



CHỮ PHƯỜNG TRONG ĐỜI SỐNG

Tác giả: Trang Y Hạ

     Trong cuộc sống hằng ngày, từ (cổ tới kim) - hễ nói địa danh thì địa danh gần gũi nhất đó là “phường”. Phường ở đây, nói về hành chánh là một đơn vị thấp nhất ở trong xã hội không chỉ ở Việt Nam mà ở cả bên Tàu. Phường đã có lịch sử, lịch sử văn thơ từ rất lâu đời. Ngoài phường thì còn có: Thôn, Ấp.

     Vậy tóm tắc chữ Phường như sau:

     Chữ “Phường” nguyên gốc là Hán Việt & Hán Nôm, thuộc Hán Cổ, Việt Cổ, có nhiều nghĩa cả chữ viết cũng có số nét khác, (Hán Nôm có tới Ba Chữ Phường có nét khác nhau). Trong bài nầy, chỉ đề cập tới hai bộ chữ Hán có dính líu tới chữ Phường, đó là: “Bộ Thổ & Bộ Ngư”.

Bộ Thổ: Phường, một âm khác là (Phòng).

     Phường chỉ về đơn vị hành chánh. Theo tài liệu xa xưa, thì phường chỉ áp dụng trong kinh đô, trong thành quách, trong châu huyện. Bên ngoài thì gọi là thôn, ấp... Ví dụ như: Kinh thành Thăng Long cũ gồm có ba mươi sáu [36] phường. “Khán khán ai bộ thậm khẩn, các xứ thôn phường giảng động liễu”. Tạm hiểu (Tình hình bắt bớ gấp gáp, xóm phường đều bàn tán xôn xao). Trích: Thủy Hử.

     Phường là một tổ chức, thời “phong kiến” gồm những người có đầu óc kinh doanh buôn bán hay cùng một nghề nghiệp thủ công nhưng không thể tự đứng ra hành nghề đơn độc. Do đó họ phải liên kết lại gọi là Phường dựa nhau làm ăn mà không sợ kẻ khác ức hiếp. Ví dụ: (Phường chèo, Phường hát, Phường vải, Phường nón, Phường thợ săn…).

     Ông bà ngày xưa có câu: “Buôn có bạn, bán có phường”. Tục ngữ đã nhắc nhở khi làm ăn, buôn bán - phải biết hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển, nếu mạnh ai nấy làm vì cái lợi nhỏ – sớm muộn sẽ nhận lấy hậu quả thua lỗ. Trong lãnh vực buôn bán vẫn có nghệ thuật có cộng hưởng, nhân ái chứ không thể đứng một mình mà thành đạt. “Buôn có bạn, bán có phường, Làm ăn có xóm, có làng mới vui”. (Ca Dao).

     Phường là: Cao ốc, biệt thự, dinh thự, đình miếu xây dựng để ghi ơn công lao của các bậc hiền tài ở làng mạc. Đó là “Trung Hiếu Phường” và “Tiết Nghĩa Phường”.

Phường là: Trường, sở, nhà dành riêng cho các chương trình hoạt động nào đó, gọi là: “Tác Phường”, có thể xem đó như một xưởng chế tạo, chế tác...

     Phường, một âm khác là “phòng”, như đê điều phòng lũ lụt. Trong “Chiến Quốc Sách” (Tần Sách), có câu: “Trường thành cự phường, túc dĩ vi tái”. Tạm hiểu: (Trường thành và đê lũy lớn, đủ làm quan tái), hoặc: “Dĩ phòng chỉ thủy, dĩ câu đảng thủy”. (Lấy đê ngăn nước, lấy ngòi dẫn nước). Mục đích chung là phòng vệ, cố thủ phòng vệ biên giới, phòng trộm cướp, phòng hoạn nạn. “Thiện phòng giả thủy dâm chi”. (Giỏi đắp đê ngăn nước ngập lụt). Đỗ Phủ, có câu: “Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng Hà, Tiện chí tứ thập tây doanh điền”. (Có kẻ năm mười lăm tuổi đi ra bắc phòng giữ đê sông Hoàng Hà, Đến năm bốn mươi tuổi đi khẩn ruộng ở phía tây). Chữ Lũy có một âm là: “Quấn quýt”.

     Phường, chỉ về một nhóm người có hành vi lưu manh, bất hảo, du thủ du thực chuyên đi quấy rối trật tự trị an thậm chí ăn cắp, ăn cướp hiếp đáp người dân lành rất đáng khinh bỉ và nguyền rủa, như: “Phường thảo khấu, Phường đá cá lăn dưa…”. Trong truyện Kiều có câu: “Con này chẳng phải thiện nhân. Chẳng phường trốn chúa, thì quân lộn chồng. ”. Hoặc: “Tình cờ chẳng hẹn mà nên, mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”, và hoặc: “Những phường giá áo túi cơm sá gì”. Chữ phường nầy cũng đồng nghĩa với “Lũ, Bọn, Tuồng, Hội”.

Tuy nhiên, không hẳn chữ “phường” hoàn toàn xấu mà còn có ý hay - dùng để nói lên tính cách phô diễn, so sánh. Chẳng hạn như câu Kiều: “Nàng rằng: Trộm liếc dung quang, Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn.”.

     Phường là cửa tiệm, như: Trà Phường, (Tiệm Trà). Phường Tứ” (Hiệu Buôn).

     Phường: (Động Từ): Trở Ngại, Ngăn trở, Nguy hiểm. Còn có âm khác là “Phướng”.

Bộ Ngư:

      Chữ Phường trong Bộ Ngư “Phồn Thể”, là: Con cá. Trong chữ “Giản Thể” là: Con cá mè, Con cá Phường. Từ đó mới có câu: “Thế hào ngư nhục hương lý”. Tạm hiểu: (Kẻ cường hào thường hay hà hiếp dân lành).

     Như đã nói, – phường là đơn vị hành chánh cuối cùng trong hệ thống hành chánh, (dù mang tên hay mang số) dù không ảnh hưởng nhiều hay sâu đậm về mặt lịch sử, địa dư. Biết vậy nhưng vẫn có các tên phường đã có từ hàng thế kỷ, trải qua nhiều biến thiên thay ngôi đổi chủ tên tuổi vẫn còn giữ; (còn giữ trong lòng người). Ví dụ: Phường Bến Nghé, Phường Da-Kao… (Số tên phường đó đã có từ thời Triều Nguyễn).

     Từ cổ tới kim mỗi khi có một triều đại mới nổi lên là có thay đổi địa danh, địa dư (chia ra, hợp lại). Chia ra, nhập lại vì lý do lưu thông, kinh tế, quân sự mà vẫn giữ tên gốc thì không cần phải bàn. Xóa bỏ địa danh lịch sử vì lý do “Chính Trị”, nhằm mục địch “Trả Thù” triều đại cũ, chế độ cũ không cùng chí hướng, không cùng chủ thuyết “ngoại lai” thì thật là tệ lậu và đáng tiếc.

     Xóa bỏ địa danh hành chánh lâu đời không hẳn là chỉ mất địa danh mà còn mất đi “giọng nói” – dù giọng nói còn đang nói và sẽ còn nói... - nhưng các thế hệ mai sau không biết giọng nói của mình ở vùng nào (trên giấy tờ). Ví dụ: Mất Tỉnh Quảng Nam, Mất Tỉnh Quảng Bình, Mất Tỉnh Thừa Thiên, Mất Tỉnh Phú Yên, mất Tỉnh Kon Tum… Đó là chưa kể tới Ca dao, Tục Ngữ, Văn, Thơ, Vè, Phú cũng như thổ sản ở mỗi nơi.

     Thời đại Computer, người ta quản lý nhân sự, quân sự, kinh tế, khoa học kỹ nghệ, giáo dục, y tế...- bằng kỹ thuật số rất nhanh gọn chính xác không cần xử dụng một số lượng lớn công chức hành chánh quá đông, ban bệ công sở vật chất tốn kém nặng nề từ trung ương cho tới địa phương làm hao tốn ngân sách. Vậy nói, xóa bớt Tỉnh, xóa bớt Huyện, xóa bớt xã, phường - nhằm giảm nhẹ bộ máy hành chánh là không thuyết phục.

     Ở Việt Nam lâu nay luôn tồn tại hai guồng máy “đảng và nhà nước”, song song với hàng với chục triệu công chức ăn lương. Mỗi guồng máy đều có ban bệ văn phòng dinh thự rất cồng kềnh và tốn kém.

     HÃY XÓA BỚT CÔNG CHỨC, ĐỪNG XÓA BỎ ĐỊA DANH LỊCH SỬ ĐÃ TỒN TẠI TỪ LÂU ĐỜI.

     Phường hay thôn, ấp là nơi chứng nhận “Hộ-Tịch” trên tờ giấy khai sanh khi chào đời, giấy khai tử khi lìa cõi đời. (Cả hai loại giấy đó không tự bản thân làm được). Phường, thôn, ấp là địa chỉ cuối cùng để “Đi và Về”. Chính nơi đó hiện hữu tổ tiên ông bà cha mẹ anh chị em cô bác dì chú, mồ mả, bạn hữu - tình làng nghĩa xóm - cũng như kỷ niệm học trò và tình yêu trai gái hẹn hò khi bước vào tuổi mộng mơ.


Trang Y Hạ

LỜI GIÓ MƯA:

Đọc Báo Đảng:

Sau ngày đổi tiền ở miền Nam,

     Tờ - Sài Gòn Giải Phóng (số ra hôm 27 tháng 9 năm 1975) đã viết như sau: 

     “Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ. Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”.

     Thế nhưng đồng tiền VN hiện giờ so với tiền CamPot và Lào thì thấp hơn.

Trang Y Hạ

(Sưu Tầm).