TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.
Kẻ Sĩ Ngày Xưa:
Từ khi nhân loại biết dùng ký tự (chữ viết) và học hành thì chính là lúc đó đã có “kẻ sĩ”. Theo Hán Tự, chữ “SĨ” là người, (người có học vấn). Kẻ sĩ (士) là một danh xưng tôn kính chỉ về người có học vấn ở trong xã hội phong kiến Trung Quốc và các quốc gia phong kiến Đông, Tây. Kẻ sĩ, họ là những người có tài năng, có tri thức, có đạo đức, có trách nhiệm. Từ chỗ có học vấn uyên thâm: - họ đã cho ra đời rất nhiều công trình nghiên cứu và nhiều tác phẩm lừng danh.
Trong trường đời, đôi khi có những người họ không lấy được bằng cấp cao, nhưng họ vẫn là kẻ sĩ. Và, một khi kẻ sĩ nhận định sai - đi sai đường phục vụ cho bạo chúa, độc tài, hoặc “Quỳ Gối” trước kẻ ác để cầu danh lợi thì cũng đem lại nhiều khổ đau cho bản thân và xã hội.
Từ lý do đó, mà người xưa nói:
“Thiên hạ bổn vô sự, dung nhơn tự nhiễu chi.”. Tạm dịch: (Thiên hạ vốn bình yên, kẻ khờ tự khuấy động.).
Kẻ sĩ ngày xưa đóng một vai trò rất quan trong lãnh vực giáo dục, kẻ sĩ giữ khuôn vàng thước ngọc, cân bằng về đạo đức, gia giáo, phê bình cái xấu củng cố cổ vũ cái đẹp... Bởi vậy, không một chế độ nào muốn tồn tại mà không thể không dùng kẻ sĩ. Xã hội ngày xưa rất coi trọng “kẻ sĩ”, nên có câu: “Nhất sĩ, Nhì nông”. Sống trong chế độ phong kiến và quân chủ chuyên quyền, thiên hạ luôn trông chờ một đấng Minh Vương, một vị quan Thanh Liêm, nếu xã hội suy đồi loạn lạc cướp bọc thì chỉ biết dựa vào Hiệp Sĩ. Từ nguyên do đó mà bá tánh luôn coi trọng những kẻ sĩ có tâm, kẻ sĩ có nhân cách.
Thời chủ nghĩa cộng sản, thì “kẻ sĩ, trí thức”, đều thuộc thành phần tư sản “phản động” cần phải loại bỏ. Theo “Lenin Toàn Tập”. Bản tiếng Nga, thì:
“Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là CỨT (говно).”. Tiến Sĩ, Nguyễn Đình Đăng. Dịch.
Câu nói của ông Lenin cho rằng “Bộ Não Của Trí Thức Là CỨT” cũng có phần đúng, - hiểu theo cách nhìn của một lãnh tụ theo chủ thuyết “cộng sản vô thần”. Theo ngụ ý của ông Lenin, nghĩa là: (Trí thức, một khi chưa được “tẩy não” sạch sẽ để có một lòng trung thành tuyệt đối phục vụ cho đảng thì chẳng khác gì một cục cứt.).
Thật ra, nếu tẩy não trí thức đi theo một hướng như bầy cừu thì trí thức chẳng hóa ra “hèn” hết ư...?! Tại sao không nói trắng ra rằng: - phải “biết hèn để sống” bằng không sẽ bị loại trừ? Do đó, sống dưới thời phong kiến, thời độc đảng, độc tài thì - kẻ sĩ phải tự thích nghi, thay màu như con tắc kè để làm theo “tấm bảng chỉ đường” do người ta dựng sẵn.
Tong cuộc sống cũng có khá nhiều kẻ sĩ thích được “hèn”, bởi thích chủ thuyết hoặc mượn chủ thuyết để “mua quan bán chúc” mưu cầu hạnh phúc cho bản thân - bất kể liêm sỉ, bất kể nhân cách làm người, bất kể sự thật. Kẻ sĩ tự hạ mình thành kẻ “hèn”, thì - loại kẻ sĩ này rất nguy hiểm cho cộng đồng; cho gia đình, bạn hữu. Loại kẻ sĩ tự hèn, họ không tuân thủ bất cứ quy tắc đạo đức, trách nhiệm. Họ có thể bán đứng bất cứ thứ gì (có thể bán), - miễn đạt được mục đích, là: có quyền, có tiền nhằm vinh thân phì gia.
Loại kẻ sĩ lầm lạc nầy, tới một lúc nào đó sẽ chợt tỉnh ngộ ra rằng bản thân “cống hiến” quá nhiều, nhưng cuối cùng cũng bị “vắt chanh bỏ vỏ”, nên đâm ra (trở mặt) để tìm về vị trí cao quý của kẻ sĩ - dù có trễ. Điển hình, như: Vũ Thư Hiên với tác phẩm “Đêm Giữa Ban Ngày”, Nhạc sĩ Tô Hải với tác phẩm “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”. Trần Đĩnh với tác phẩm “Đèn Cù”. Xuân Vũ với tác phẩm “Đường Đi Không Đến”. Và còn nhiều tác giả nữa, cũng như kẻ sĩ không chịu khom lưng cúi đầu.
Thi sĩ Trần Tế Xương cũng đã từng làm thơ chế riễu:
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng."
Thời
Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam, - một nhóm trí thức (kẻ
sĩ), gồm mười tám [18] người, phần nhiều họ có bằng
tốt nghiệp đại học từ Pháp Quốc mà tổng thống Ngô
Đình Diệm rất kính trọng, Cụ Diệm, mỗi khi gặp họ
- Cụ xưng họ là “Ngài” với một tấm lòng ưu ái.
Họ, là trí thức, bác sĩ, luật sư... đã được Cụ
Diệm mời ra cộng tác nhưng họ chỉ cộng tác một thời
gian ngắn thì đòi ly khai, ly khai bởi chính quyền không
đáp ứng các yêu cầu theo “cấp tiến” của nhóm họ.
Tiêu biểu: (Trần
Văn Văn,
Phan
Khắc Sửu,
Trần
Văn Hương,
Trần
Văn Đỗ,
Nguyễn
Lưu Viên,
Linh
mục Hồ Văn Vui, Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát, và nhiều
người khác...
). Người đời
gọi họ là “Nhóm Caravelle”.
Thật
lòng mà nói, chính nhóm Caravelle này đã tạo tiền đề
cho các phe đảng, tôn giáo, tướng tá có lý do nổi lên
làm phản - tạo nên cuộc “đảo chánh” năm một ngàn
chín trăm sáu mươi ba [1963] xóa bỏ hoàn toàn nền đệ
nhất cộng hòa non trẻ dẫn tới sự sụp đổ miền Nam
về tay Cộng sản Bắc Việt sau này.
Thời
Đệ Nhị Cộng Hòa, một số lớn trong nhóm caravelle đó
vẫn tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng
trong chính quyền. Điển hình: Thủ tướng Phan Huy Quát,
ký thỏa thuận cho quân đội Hoa Kỳ đổ quân vô miền
Nam năm một ngàn chín trăm sáu mười lăm [1965]) – Thời
đệ nhị nhóm kẻ sĩ đó, họ cũng không làm nên chuyện
gì nổi bật cho đất nước và dẫn tới ngày Bắc Việt
xóa sổ miền Nam. Ngày chế độ miền Nam không còn - một
số họ cũng chạy ra nước ngoài tỵ nạn, có người
viết hồi ký đổ thừa cho Mỹ “phản bội” hòng chạy
tội. Họ không dám quay đầu trở về với vị trí cao
quý của một kẻ sĩ như thuở ban đầu. Ngoài ra ở nước
ngoài, họ còn viết “Thư Ngỏ”, (Petetion) dâng lên đảng
Cộng sản Việt Nam xin xỏ, như sau:
“Thư
ngỏ nêu lên Ba [3] yêu cầu chính, ngoài việc từ bỏ chủ
nghĩa cộng sản, nhóm nhân sĩ trí thức còn yêu cầu Hà
Nội ngăn chận mưu đồ bành trướng của Trung Quốc,
thoát khỏi sự lệ thuộc của Bắc Kinh về cả kinh tế
lẫn chính trị và xã hội, đồng thời sửa đổi Hiến
Pháp, thực hiện các quyền tự do dân chủ của người
dân, xây dựng kỷ cương xã hội, sửa đổi luật đất
đai.”. (Theo: VOA).
Vậy
mới rõ rằng trí thức (kẻ sĩ), của người quốc gia
vốn thơ ngây, mơ hồ... - không hiểu một chút gì về
bản chất của “chủ thuyết cộng sản” toàn trị. Họ,
trước kia đã có một đất nước tự do; một thời phục
vụ chính quyền (Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa), do dân bầu
- hợp pháp, hợp hiến, hợp công pháp quốc tế. Đã có
tự do, Đã có tư hữu, Đã có nhân quyền, Đã có tự do
báo chí… Nhưng tiếc thay không biết quý
trọng, giữ gìn! Bây giờ thân bại danh liệt tỵ
nạn nơi xứ người - lại ngồi viết thư xin đảng Cộng
sản Việt Nam các thứ, - đi xin những thứ mà Cộng sản
Việt Nam không bao giờ có để mà cho - đi xin những thứ
mà không thuộc về mình.
Trong
xã hội phong kiến vua chúa và quân chủ chuyên chế, thì
chuyện học hành chỉ mong ra làm quan. May mắn, đậu Trạng
Nguyên thì vinh quy bái tổ về làng, đồng thời được
nhà vua trọng dụng, thậm chí gả công chúa làm vợ. Ngày
xưa, một khi thi đậu “Trạng nguyên, Bãng nhỡn, Thám
hoa, Cử nhơn, Tú tài”, tấm bằng đó là một gia sản
của cả cuộc đời, - dù không ra làm quan cũng trở thành
ông thầy giáo được người đời tôn vinh, kính nể,
được ăn trên ngồi trước.
Từ
cái mộng làm quan, cộng với công lao, tiền của của cha
mẹ lo cho ăn học - công ơn cao quý đó đã làm cho người
“kẻ sĩ” co mình trong cái ơn nghĩa phải báo đáp - cho
nên hầu hết kẻ sĩ thụ động, không dám dấn thân mà
chỉ trông chờ một “đấng minh vương” nào đó gầy
dựng cơ đồ là theo phò tá - tận trung, ngu trung tới
suốt đời. Kẻ sĩ thuở xưa, nói: “Thiên Hạ Hữu
Đạo Tắc Hiện”. Nghĩ là: (Thiên hạ có đạo thì
mới ra làm quan).
Và,
kẻ sĩ ngày xưa, cũng nói: “Đại ẩn tại triều,
trung ẩn tại thị, tiểu ẩn tại sơn”. Nghĩa là:
Đại ẩn tại triều: Người ở ẩn khôn ngoan, mưu sâu
là ẩn giữa chốn quan trường để chờ dịp mà hành
động. Ví dụ, như: Tư Mã Ý, ẩn thân làm quan cho Tào
Tháo, nhưng giấu kỹ mưu đồ soán ngôi. Tào Tháo dù biết
nhưng không bằng chứng nên đành chịu và hậu quả là
Tư Mã Ý tiêu diệt dòng họ nhà Tào. Hồ Quý Ly vốn
người đất Mân (Phúc Kiến) phò nhà Trần cũng tương tự
như Tư Mã Ý, - soán ngôi nhà Trần lập nên nước (Đại
Ngu). Kẻ sĩ có lòng phản trắc như Tư Mã Ý, Hồ Quý Ly,
Tần Cối... - đáo cuộc bản thân, gia đình đều bị
tiêu vong và để tiếng xấu cho hậu thế. Trung ẩn tại
thị, là người sống ẩn cư giữa chợ, nhìn thế cuộc
cầu may, Ví dụ: Bách Lý Hề, Nguyễn Trãi, Chu Văn An,
Nguyễn Bỉnh Khiêm... Tiểu ẩn, là người chạy vô trong
rừng sâu để sống. Ví dụ, như: Khổng Minh, Hứa Do, Sào
Phủ, Khương Tử Nha, Y Doãn... Họ trốn vô rừng, vô
ruộng rẫy, sông suối ở ẩn để chờ “thiên thời,
địa lợi, nhân hòa”, mới ló đầu ra đi tìm chức quan
hoặc nằm mong một ai đó, mời mọc, năn nỉ ỉ ôi, mới
chịu ra giúp…
Có
một điều đáng nói là các kẻ sĩ đi tìm Minh Vương để
phò tá, hoặc được đích thân các Minh Vương mời ra làm
quan, làm quân sự, - tới khi các đấng (minh vương) đó
đã hoàn tất việc chinh chiến tranh giành và nắm quyền
hành tuyệt đối trở thành Hoàng Đế, Vua Chúa thì kẻ
sĩ như: “cá nằm trên thớt.”. (Kẻ được phong
chức, kẻ bị tru di tam tộc, kẻ bị cho ngồi chơi xơi
nước, kẻ bị đày đi tù đày, kẻ mất chức về quê
đuổi gà cho vợ). Từ xưa, chỉ có hai công thần “kẻ
sĩ”, thoát khỏi tai ương đó. Một là: Trương Lương,
sau thời gian âm thầm giúp Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán
xong, ông không chờ nhận chức tước mà xin cáo lui về
quê với lý do - tụng kinh “Huỳnh Đình”. Hai là: Phạm
lãi, sau khi đã giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô
Phù Sai, ông cũng lặng lẽ rút lui cùng với Tây Thi ngao
du nơi Động Đình Hồ.
Số
phận thăng trầm của kẻ sĩ cũng bởi vì mộng công hầu
mà phải gánh tai ương; chịu vạ sát thân - chứ không
như “tu sĩ. Tu sĩ “Nhãn quán hình sắc nội vô hữu,
Nhĩ thính trần sự tâm bất tri.”. Tạm dịch: (Mắt
nhìn hình sắc, lòng không động, Tai vẳng chuyện đời,
dạ chẳng hay.).
Vua,
Không Xuất Thân Từ Kẻ Sĩ:
Từ
xưa, người lập nên nghiệp bá, đế vương phần nhiều
không xuất thân từ “kẻ sĩ”. Nhưng được nhiều kẻ
sĩ chạy theo phò tá rất đông. Tuy họ chỉ là người
bình thường, có khi là rất bình thường. Điển hình
như:
-
Lưu Bang là một trong vài người sáng lập triều đại
Nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc, xuất thân từ tầng
lớp nông dân chứ không phải là kẻ sĩ. Lưu Bang chỉ là
một “Đình Trưởng” nhỏ bé.
- Chu Nguyên Chương,
dựng nên Nhà Minh xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ,
phải đi giữ dê bò cho địa chủ. Thiên tai, dịch bệnh,
hạn hán nên cha mẹ, các anh chị của ông đều nối tiếp
nhau chết đói. Ông tới chùa Hoàng Giác làm thầy tu, đi
khất thực ba năm, trải qua quá nhiều gian khổ.
-
Thành cát Tư Hãn. Ông lớn lên trong cảnh nghèo khó nơi
sa mạc với các bộ tộc và bị ruồng bỏ sau khi cha của
ông chết sớm, ông lang thang trong cảnh túng thiếu nên
buộc phải chiến đấu để sinh tồn. Cuối cùng thống
nhất được các bộ lạc Mông Cổ. Từ đó ông được
tôn làm Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206, trở thành người
sáng lập Đế quốc Mông Cổ.
-
Hoàng Đế Toyotomi Hideyoshi
ở Nhật
Bản, người thống nhất đất nước và
Hoàng
đế Basil I
của Đế
quốc Byzantine, họ cũng xuất thân từng tầng lớp thấp.
-
Nhà Vua Trần. Họ Trần, tổ tiên của nhà vua là người
đất Mân, Phúc Kiến (Trung Quốc) di cư tới Tức Mặc,
phủ Thiên Trường, đời đời làm nghề đánh cá. Đặt
tên cũng đặt bằng tên của các loài cá. Ông Trần Thủ
Độ cũng đâu có biết nhiều chữ nghĩa, nhưng ông lại
là công thần hàng đầu dựng nên nhà Trần.
-
Lý Công Uẩn, dựng nên Nhà Lý (chú tiểu ở chùa). Theo
sách: “Mộng Kê Bút Đàm” của (Thẩm-Hoạt) đời Tống
thì Lý-Công-Uẩn vốn gốc là người Mân (Phúc-Kiến).
Và, Tiến sĩ Từ-Bá-Tường, người Quảng-Tây, nhà Tống.
Nội dung trong thư gửi cho Công Uẩn cũng nói: “Tiên thế
đại vương vốn là người đất Mân. Tôi nghe nói công
khanh ở Giao Chỉ cũng có nhiều người đất Mân.”.
Còn
nhiều người xây dựng cơ đồ hay lập nên nghiệp vương,
nghiệp bá mà họ không là “kẻ sĩ”. Tuy rằng các bậc
khai cơ, khai nghiệp lớn đó không học vấn cao thâm, thậm
chí rất ít học nhưng họ có cặp mắt “thần”. Họ,
- nhận biết người tài. Họ hiểu người tài. Họ biết
trọng dụng người tài. Họ biết đãi ngộ người tài…
Và, đặc biệt là có niềm tin mãnh liệt cũng như tầm
nhìn bao quát tình hình thế sự... Người xưa nói, họ có
“Chân Mạng Thiên Tử”. Người có chân mạng thiên tử
ắt sẽ có nhiều bậc trí sĩ ẩn cư tìm gặp, mang tài
cán ra giúp đỡ làm nên nghiệp đế vương.
Thiên
hạ từ xưa đã tự hỏi - “Tại sao kẻ sĩ có học vấn,
có tri thức và bằng cấp mà không tự đứng ra lập
vương, lập đế?”. Có nhiều nguyên do, nhưng tựu trung
chỉ có hai nguyên do chánh:
Thứ
Nhất:
Ngày
xưa, người đi học, học theo lối mòn từ một khuôn nắn
ra. Đó là chỉ biết “văn hay, chữ đẹp”!. Sĩ tử
quanh đi quẩn lại chỉ học sách của các bậc đi trước,
soạn sẵn, - một thứ “Kinh Sách” cố định một
chiều truyền từ đời này sang đời khác, cứ vậy mà
học theo lối mòn chứ không “cải cách” hay “khai
phóng”. Không dạy cách nhìn thực tiễn sâu rộng ra ở
bên ngoài xã hội và tranh luận, suy luận để tìm tòi.
Và hơn hết là sợ “thay đổi”. Đầu óc thủ cựu đó
thấm sâu vào não bộ, truyền lại các thế sau như một
“mệnh lệnh” vô hình ràng rịt tới mê muội.
Thứ
Nhì:
Học
là để làm quan, báo ơn vua, báo ơn cha mẹ dòng tộc...
Hơn nữa là chốn quan trường chẳng khác gì chiến trường
phải cạnh tranh khốc liệt để giữ mạng sống, giữ
địa vị nên không còn thời gian lo nghĩ chuyện cao xa.
Ngại dấn thân, bởi sợ thất bại, sợ bị vu khống tù
tội... Trong não kẻ sĩ chỉ biết vâng lệnh, không dám
mạnh dạn nêu ra ý kiến và đặt vấn đề tranh luận
đúng sai. Từ lý do đó mà hầu hết kẻ sĩ e dè không
dám phiêu lưu.
Kẻ
Sĩ Hiện Nay:
Kẻ
sĩ ngày xưa thì đã rõ ràng, còn kẻ sĩ hiện nay thì
khái niệm kẻ sĩ có vẻ mơ hồ và càng mơ hồ hơn. Tại
sao gọi là “mơ hồ”? Bởi kẻ sĩ thời nay không nhằm
phục vụ cho một thế lực nào cố định hay một lãnh
vực nào cố định. Kẻ sĩ ngày nay, họ có toàn quyền
lựa chọn nghành nghề; họ có quyền nêu ra vấn đề
“đúng, sai”. Họ có quyền xin thôi việc nếu bị chèn
ép. Họ cũng không bị áp lực phải trả ơn. Kẻ sĩ ngày
nay đa dạng và tự do tranh luận công khai. Họ không bị
gò ép phải đi theo một hướng. Thời đại văn minh, kỹ
nghệ, nên cuộc sống hầu như vội vã, suy nghĩ cũng thực
tế, thực dụng. Tất cả đều lo tìm tòi để theo kịp
đà phát triển của khoa học.
Tuy
vậy, kẻ sĩ sống dưới chế độ độc tài thì họ vẫn
là công cụ cho người khác sai khiến để phục vụ cho
một nhóm, một đảng phái. Do đó, họ cũng phải (biết
hèn) để tồn tại, cái hèn thời cuộc buộc phải hèn,
nhưng trong số kẻ sĩ không cam tâm hèn – để cúi đầu
khuất phục làm tôi mọi suốt đời mà họ vùng dậy đấu
tranh. Kẻ sĩ thời nay họ cũng biết “sai lầm”, dẫn
tới nguy hiểm cho bản thân, - cũng may là ở thời buổi
bùng nổ truyền thông, báo chí... - kẻ sĩ có chỗ tranh
luận bày tỏ chính kiến. Chính điều này mà đã làm cho
nhà cầm quyền độc tài e ngại, rồi từ e ngại không
kiểm soát nổi, nên đàn áp, bỏ tù. Điển hình: Vụ án
“Nhân Văn Giai Phẩm” là một bằng chứng.
Kẻ
sĩ ở trong “Nhân Văn Giai Phẩm” dù là nạn nhân nhưng
họ không “hèn”. Họ chịu bản án bất công và chịu
tù đày nhiều năm. Điển hình, như: Phan Khôi, Trần Dần,
Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Hữu Loan, Bùi
Xuân Phái, Lê Đạt, Nguyễn Bính, Nguyễn Mạnh Tường,
Văn Cao, Đào Duy Anh, Yến Lan, Trần Đức Thảo… Và còn
một số tên tuổi khác nữa. Đặc biệt là có nữ văn
sĩ Thụy An. Ngược lại, có nhiều “kẻ sĩ” cùng thời
lại vì sợ liên lụy tới bản thân gia đình mà bị
khuất phục đầu hàng trước cường quyền để rồi cam
tâm làm “đầy tớ trung thành” thậm chí còn
quay lại làm chứng gian tố cáo, vu khống bạn hữu
thân thiết đã một thời cùng cộng tác với nhau trên
các văn đàn. Đã như vậy rồi lại còn viết ra các tác
phẩm (thơ, văn) phục vụ cho chủ thuyết độc tài ngoại
lai mà không nhớ câu của người xưa nói: “Văn Dĩ
Tải Đạo”.
Với,
biết bao oan ức tới nỗi Nguyễn Hữu Đang phải thốt
lên, Câu đối:
-
“Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận
Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
-
Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế, quý cuộc
đời Nguyễn Trãi, Trương Lương. (Nguyễn Hữu Đang)
Và,
một Phùng Quán muốn “làm người chân thật”, nhưng
quá khó. Ông viết bài thơ:
Lời
Mẹ Dặn.
“Người làm xiếc
đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà
văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là
ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng
không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ
giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Trích thơ: (Phùng
Quán)
Tiêu
chí, mục đích của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đơn giản
chỉ là đòi “cởi trói” cho văn nghệ sĩ tự do sáng
tác văn chương thi phú; cởi trói cho nền văn học được
khai phóng. Nhóm chỉ vì hai chự “Tự Do” mà bị tù
đày.
Câu
nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”, của kẻ
sĩ ngày xưa vẫn còn có ý nghĩa và “hữu dụng” cho
tới tận ngày nay. Tại sao phải nói “hữu dụng”? Bởi
kẻ sĩ hiện nay khôn ngoan và thuận lợi hơn kẻ sĩ thời
phong kiến. Họ không cần “đấng minh vương”, cũng
không hẳn cúi đầu lâu dài phục vụ cho bọn “độc
tài, độc đảng”, họ biết thức thời để kiếm ăn,
làm giàu rồi tìm đường rút lui. Nghĩa là kẻ sĩ hiện
nay vẫn còn núp bóng “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”,
với một hình thức mới, hình thức tinh vi hơn với nhiều
biến tướng và che giấu kỹ lưỡng.
Kẻ
sĩ thời phong kiến, bị gò ép vào quá mức vào đạo
đức, truyền thống gia đình, xã hội và trung thành với
vua chúa nên không dám đòi hỏi quyền lợi quá đáng.
Ngược lại, kẻ sĩ thời bây giờ, họ cũng nhìn thế sự
thăng trầm ra sao rồi mới “tham chính”. Một khi đã
tham chính thì, - lại so kè, chạy vạy tìm đủ mọi cách
để được tiến chức; thăng quan thu được quyền lợi
nhiều hơn, nếu không đáp ứng đầy đủ thì quay ra
“phản phé” thoát ly, chạy trốn, lập phe nhóm riêng.
Ngày
nay các môn học đa dạng, kẻ sĩ hiện nay bằng cấp
nhiều hơn, mỗi người có năm bảy cái bằng tiến sĩ,
thạc sĩ, cử nhơn là chuyện bình thường. Tuy bằng cấp
có nhiều, còn tài năng thục học thì có khi theo không
kịp cái bằng, đôi khi bằng cấp lại là “bằng mua,
bằng giả” để hợp thức hóa một chức vụ, một cấp
bậc nào đó... Một xã hội suy đồi tha hóa đạo đức
thì kẽ sĩ - dù có trốn nơi trốn triều trung, có trốn
giữa chợ, có trốn vô rừng sâu, thiết nghĩ cũng đều
giống như nhau. Thôi, tốt hơn hết là đối mặt mà ngẫm
câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”.
Biết đây là biết thời, biết thế và rồi kẻ sĩ lại
chờ một “Đấng Minh Vương” mới để phò tá. Nhưng
khổ thay, cái đấng minh vương tự cổ chí kim chỉ có
đếm trên đầu ngón tay.
Nhìn
chung, (kẻ sĩ hay hèn sĩ) khoảng cách chỉ là giao thoa
mỏng manh của lý trí trước biến thiên phức tạp bí ẩn
của thời cuộc cũng như thực dụng và lý tưởng. Biết
vậy, nếu có tâm lòng ngay thẳng; có sự thông minh nhạy
bén thì có thể đi đúng hướng, để lại công trạng.
Thời buổi khoa học hiện nay hèn với không hèn cũng
chẳng qua chỉ còn là một khái niệm mơ hồ khó định
hình trừ phi có ai đó tự nói ra.
Thi
sĩ Nguyễn Du cũng đã từng báo trước:
“Trăm
năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét
nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy
mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong.”.
Dù gì, thì kẻ sĩ (hiện nay) vẫn là kẻ sĩ; kẻ sĩ vẫn có ích cho đời. Các chế độ độc tài, độc đảng mới e sợ kẻ sĩ có nhân cách, có đạo đức, có thực tài - những kẻ sĩ đó rất khó thuyết phục và khuất phục.
Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).
Quán Ven Đường Ngày Xưa.












.jpg)








