Thư viện

8/1/26

TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.

 




TẢN MẠN: KẺ SĨ HAY HÈN SĨ.

Kẻ Sĩ Ngày Xưa:

     Từ khi nhân loại biết dùng ký tự (chữ viết) và học hành thì chính là lúc đó đã có “kẻ sĩ”. Theo Hán Tự, chữ “SĨ” là người, (người có học vấn). Kẻ sĩ () là một danh xưng tôn kính chỉ về người có học vấn ở trong xã hội phong kiến Trung Quốc và các quốc gia phong kiến Đông, Tây. Kẻ sĩ, họ là những người có tài năng, có tri thức, có đạo đức, có trách nhiệm. Từ chỗ có học vấn uyên thâm: - họ đã cho ra đời rất nhiều công trình nghiên cứu và nhiều tác phẩm lừng danh.

     Trong trường đời, đôi khi có những người họ không lấy được bằng cấp cao, nhưng họ vẫn là kẻ sĩ. Và, một khi kẻ sĩ nhận định sai - đi sai đường phục vụ cho bạo chúa, độc tài, hoặc “Quỳ Gối” trước kẻ ác để cầu danh lợi thì cũng đem lại nhiều khổ đau cho bản thân và xã hội.

Từ lý do đó, mà người xưa nói:

     “Thiên hạ bổn vô sự, dung nhơn tự nhiễu chi.”. Tạm dịch: (Thiên hạ vốn bình yên, kẻ khờ tự khuấy động.).

     Kẻ sĩ ngày xưa đóng một vai trò rất quan trong lãnh vực giáo dục, kẻ sĩ giữ khuôn vàng thước ngọc, cân bằng về đạo đức, gia giáo, phê bình cái xấu củng cố cổ vũ cái đẹp... Bởi vậy, không một chế độ nào muốn tồn tại mà không thể không dùng kẻ sĩ. Xã hội ngày xưa rất coi trọng “kẻ sĩ”, nên có câu: “Nhất sĩ, Nhì nông”. Sống trong chế độ phong kiến và quân chủ chuyên quyền, thiên hạ luôn trông chờ một đấng Minh Vương, một vị quan Thanh Liêm, nếu xã hội suy đồi loạn lạc cướp bọc thì chỉ biết dựa vào Hiệp Sĩ. Từ nguyên do đó mà bá tánh luôn coi trọng những kẻ sĩ có tâm, kẻ sĩ có nhân cách.

     Thời chủ nghĩa cộng sản, thì “kẻ sĩ, trí thức”, đều thuộc thành phần tư sản “phản động” cần phải loại bỏ. Theo “Lenin Toàn Tập”. Bản tiếng Nga, thì:

     “Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là CỨT (говно).”. Tiến Sĩ, Nguyễn Đình Đăng. Dịch.

     Câu nói của ông Lenin cho rằng “Bộ Não Của Trí Thức Là CỨT” cũng có phần đúng, - hiểu theo cách nhìn của một lãnh tụ theo chủ thuyết “cộng sản vô thần”. Theo ngụ ý của ông Lenin, nghĩa là: (Trí thức, một khi chưa được “tẩy não” sạch sẽ để có một lòng trung thành tuyệt đối phục vụ cho đảng thì chẳng khác gì một cục cứt.).

     Thật ra, nếu tẩy não trí thức đi theo một hướng như bầy cừu thì trí thức chẳng hóa ra “hèn” hết ư...?! Tại sao không nói trắng ra rằng: - phải “biết hèn để sống” bằng không sẽ bị loại trừ? Do đó, sống dưới thời phong kiến, thời độc đảng, độc tài thì - kẻ sĩ phải tự thích nghi, thay màu như con tắc kè để làm theo “tấm bảng chỉ đường” do người ta dựng sẵn.

     Tong cuộc sống cũng có khá nhiều kẻ sĩ thích được “hèn”, bởi thích chủ thuyết hoặc mượn chủ thuyết để “mua quan bán chúc” mưu cầu hạnh phúc cho bản thân - bất kể liêm sỉ, bất kể nhân cách làm người, bất kể sự thật. Kẻ sĩ tự hạ mình thành kẻ “hèn”, thì - loại kẻ sĩ này rất nguy hiểm cho cộng đồng; cho gia đình, bạn hữu. Loại kẻ sĩ tự hèn, họ không tuân thủ bất cứ quy tắc đạo đức, trách nhiệm. Họ có thể bán đứng bất cứ thứ gì (có thể bán), - miễn đạt được mục đích, là: có quyền, có tiền nhằm vinh thân phì gia.

     Loại kẻ sĩ lầm lạc nầy, tới một lúc nào đó sẽ chợt tỉnh ngộ ra rằng bản thân “cống hiến” quá nhiều, nhưng cuối cùng cũng bị “vắt chanh bỏ vỏ”, nên đâm ra (trở mặt) để tìm về vị trí cao quý của kẻ sĩ - dù có trễ. Điển hình, như: Vũ Thư Hiên với tác phẩm “Đêm Giữa Ban Ngày”, Nhạc sĩ Tô Hải với tác phẩm “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”. Trần Đĩnh với tác phẩm “Đèn Cù”. Xuân Vũ với tác phẩm “Đường Đi Không Đến”. Và còn nhiều tác giả nữa, cũng như kẻ sĩ không chịu khom lưng cúi đầu.

Thi sĩ Trần Tế Xương cũng đã từng làm thơ chế riễu:
      “Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
      Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
      Phen này ông quyết đi buôn lọng,
      Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
      Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
      Phen này ông quyết đi buôn lọng,
      Vừa bán vừa la cũng đắt hàng."


     Thời Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam, - một nhóm trí thức (kẻ sĩ), gồm mười tám [18] người, phần nhiều họ có bằng tốt nghiệp đại học từ Pháp Quốc mà tổng thống Ngô Đình Diệm rất kính trọng, Cụ Diệm, mỗi khi gặp họ - Cụ xưng họ là “Ngài” với một tấm lòng ưu ái. Họ, là trí thức, bác sĩ, luật sư... đã được Cụ Diệm mời ra cộng tác nhưng họ chỉ cộng tác một thời gian ngắn thì đòi ly khai, ly khai bởi chính quyền không đáp ứng các yêu cầu theo “cấp tiến” của nhóm họ. Tiêu biểu: (Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Văn Đỗ, Nguyễn Lưu Viên, Linh mục Hồ Văn Vui, Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát, và nhiều người khác... ). Người đời gọi họ là “Nhóm Caravelle”.

     Thật lòng mà nói, chính nhóm Caravelle này đã tạo tiền đề cho các phe đảng, tôn giáo, tướng tá có lý do nổi lên làm phản - tạo nên cuộc “đảo chánh” năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba [1963] xóa bỏ hoàn toàn nền đệ nhất cộng hòa non trẻ dẫn tới sự sụp đổ miền Nam về tay Cộng sản Bắc Việt sau này.

     Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, một số lớn trong nhóm caravelle đó vẫn tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền. Điển hình: Thủ tướng Phan Huy Quát, ký thỏa thuận cho quân đội Hoa Kỳ đổ quân vô miền Nam năm một ngàn chín trăm sáu mười lăm [1965]) – Thời đệ nhị nhóm kẻ sĩ đó, họ cũng không làm nên chuyện gì nổi bật cho đất nước và dẫn tới ngày Bắc Việt xóa sổ miền Nam. Ngày chế độ miền Nam không còn - một số họ cũng chạy ra nước ngoài tỵ nạn, có người viết hồi ký đổ thừa cho Mỹ “phản bội” hòng chạy tội. Họ không dám quay đầu trở về với vị trí cao quý của một kẻ sĩ như thuở ban đầu. Ngoài ra ở nước ngoài, họ còn viết “Thư Ngỏ”, (Petetion) dâng lên đảng Cộng sản Việt Nam xin xỏ, như sau:

     “Thư ngỏ nêu lên Ba [3] yêu cầu chính, ngoài việc từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, nhóm nhân sĩ trí thức còn yêu cầu Hà Nội ngăn chận mưu đồ bành trướng của Trung Quốc, thoát khỏi sự lệ thuộc của Bắc Kinh về cả kinh tế lẫn chính trị và xã hội, đồng thời sửa đổi Hiến Pháp, thực hiện các quyền tự do dân chủ của người dân, xây dựng kỷ cương xã hội, sửa đổi luật đất đai.”. (Theo: VOA).

     Vậy mới rõ rằng trí thức (kẻ sĩ), của người quốc gia vốn thơ ngây, mơ hồ... - không hiểu một chút gì về bản chất của “chủ thuyết cộng sản” toàn trị. Họ, trước kia đã có một đất nước tự do; một thời phục vụ chính quyền (Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa), do dân bầu - hợp pháp, hợp hiến, hợp công pháp quốc tế. Đã có tự do, Đã có tư hữu, Đã có nhân quyền, Đã có tự do báo chí… Nhưng tiếc thay không biết quý trọng, giữ gìn! Bây giờ thân bại danh liệt tỵ nạn nơi xứ người - lại ngồi viết thư xin đảng Cộng sản Việt Nam các thứ, - đi xin những thứ mà Cộng sản Việt Nam không bao giờ có để mà cho - đi xin những thứ mà không thuộc về mình.

     Trong xã hội phong kiến vua chúa và quân chủ chuyên chế, thì chuyện học hành chỉ mong ra làm quan. May mắn, đậu Trạng Nguyên thì vinh quy bái tổ về làng, đồng thời được nhà vua trọng dụng, thậm chí gả công chúa làm vợ. Ngày xưa, một khi thi đậu “Trạng nguyên, Bãng nhỡn, Thám hoa, Cử nhơn, Tú tài”, tấm bằng đó là một gia sản của cả cuộc đời, - dù không ra làm quan cũng trở thành ông thầy giáo được người đời tôn vinh, kính nể, được ăn trên ngồi trước.

     Từ cái mộng làm quan, cộng với công lao, tiền của của cha mẹ lo cho ăn học - công ơn cao quý đó đã làm cho người “kẻ sĩ” co mình trong cái ơn nghĩa phải báo đáp - cho nên hầu hết kẻ sĩ thụ động, không dám dấn thân mà chỉ trông chờ một “đấng minh vương” nào đó gầy dựng cơ đồ là theo phò tá - tận trung, ngu trung tới suốt đời. Kẻ sĩ thuở xưa, nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”. Nghĩ là: (Thiên hạ có đạo thì mới ra làm quan).

     Và, kẻ sĩ ngày xưa, cũng nói: “Đại ẩn tại triều, trung ẩn tại thị, tiểu ẩn tại sơn”. Nghĩa là: Đại ẩn tại triều: Người ở ẩn khôn ngoan, mưu sâu là ẩn giữa chốn quan trường để chờ dịp mà hành động. Ví dụ, như: Tư Mã Ý, ẩn thân làm quan cho Tào Tháo, nhưng giấu kỹ mưu đồ soán ngôi. Tào Tháo dù biết nhưng không bằng chứng nên đành chịu và hậu quả là Tư Mã Ý tiêu diệt dòng họ nhà Tào. Hồ Quý Ly vốn người đất Mân (Phúc Kiến) phò nhà Trần cũng tương tự như Tư Mã Ý, - soán ngôi nhà Trần lập nên nước (Đại Ngu). Kẻ sĩ có lòng phản trắc như Tư Mã Ý, Hồ Quý Ly, Tần Cối... - đáo cuộc bản thân, gia đình đều bị tiêu vong và để tiếng xấu cho hậu thế. Trung ẩn tại thị, là người sống ẩn cư giữa chợ, nhìn thế cuộc cầu may, Ví dụ: Bách Lý Hề, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm... Tiểu ẩn, là người chạy vô trong rừng sâu để sống. Ví dụ, như: Khổng Minh, Hứa Do, Sào Phủ, Khương Tử Nha, Y Doãn... Họ trốn vô rừng, vô ruộng rẫy, sông suối ở ẩn để chờ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, mới ló đầu ra đi tìm chức quan hoặc nằm mong một ai đó, mời mọc, năn nỉ ỉ ôi, mới chịu ra giúp…

     Có một điều đáng nói là các kẻ sĩ đi tìm Minh Vương để phò tá, hoặc được đích thân các Minh Vương mời ra làm quan, làm quân sự, - tới khi các đấng (minh vương) đó đã hoàn tất việc chinh chiến tranh giành và nắm quyền hành tuyệt đối trở thành Hoàng Đế, Vua Chúa thì kẻ sĩ như: “cá nằm trên thớt.”. (Kẻ được phong chức, kẻ bị tru di tam tộc, kẻ bị cho ngồi chơi xơi nước, kẻ bị đày đi tù đày, kẻ mất chức về quê đuổi gà cho vợ). Từ xưa, chỉ có hai công thần “kẻ sĩ”, thoát khỏi tai ương đó. Một là: Trương Lương, sau thời gian âm thầm giúp Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán xong, ông không chờ nhận chức tước mà xin cáo lui về quê với lý do - tụng kinh “Huỳnh Đình”. Hai là: Phạm lãi, sau khi đã giúp Việt Vương Câu Tiễn đánh bại Ngô Phù Sai, ông cũng lặng lẽ rút lui cùng với Tây Thi ngao du nơi Động Đình Hồ.

     Số phận thăng trầm của kẻ sĩ cũng bởi vì mộng công hầu mà phải gánh tai ương; chịu vạ sát thân - chứ không như “tu sĩ. Tu sĩ “Nhãn quán hình sắc nội vô hữu, Nhĩ thính trần sự tâm bất tri.”. Tạm dịch: (Mắt nhìn hình sắc, lòng không động, Tai vẳng chuyện đời, dạ chẳng hay.).

Vua, Không Xuất Thân Từ Kẻ Sĩ:

     Từ xưa, người lập nên nghiệp bá, đế vương phần nhiều không xuất thân từ “kẻ sĩ”. Nhưng được nhiều kẻ sĩ chạy theo phò tá rất đông. Tuy họ chỉ là người bình thường, có khi là rất bình thường. Điển hình như:

     - Lưu Bang là một trong vài người sáng lập triều đại Nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc, xuất thân từ tầng lớp nông dân chứ không phải là kẻ sĩ. Lưu Bang chỉ là một “Đình Trưởng” nhỏ bé.

     - Chu Nguyên Chương, dựng nên Nhà Minh xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ, phải đi giữ dê bò cho địa chủ. Thiên tai, dịch bệnh, hạn hán nên cha mẹ, các anh chị của ông đều nối tiếp nhau chết đói. Ông tới chùa Hoàng Giác làm thầy tu, đi khất thực ba năm, trải qua quá nhiều gian khổ.

     - Thành cát Tư Hãn. Ông lớn lên trong cảnh nghèo khó nơi sa mạc với các bộ tộc và bị ruồng bỏ sau khi cha của ông chết sớm, ông lang thang trong cảnh túng thiếu nên buộc phải chiến đấu để sinh tồn. Cuối cùng thống nhất được các bộ lạc Mông Cổ. Từ đó ông được tôn làm Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206, trở thành người sáng lập Đế quốc Mông Cổ.

     - Hoàng Đế Toyotomi Hideyoshi ở Nhật Bản, người thống nhất đất nước và Hoàng đế Basil I của Đế quốc Byzantine, họ cũng xuất thân từng tầng lớp thấp.

     - Nhà Vua Trần. Họ Trần, tổ tiên của nhà vua là người đất Mân, Phúc Kiến (Trung Quốc) di cư tới Tức Mặc, phủ Thiên Trường, đời đời làm nghề đánh cá. Đặt tên cũng đặt bằng tên của các loài cá. Ông Trần Thủ Độ cũng đâu có biết nhiều chữ nghĩa, nhưng ông lại là công thần hàng đầu dựng nên nhà Trần.
     - Lý Công Uẩn, dựng nên Nhà Lý (chú tiểu ở chùa). Theo sách: “Mộng Kê Bút Đàm” của (Thẩm-Hoạt) đời Tống thì Lý-Công-Uẩn vốn gốc là người Mân (Phúc-Kiến). Và, Tiến sĩ Từ-Bá-Tường, người Quảng-Tây, nhà Tống. Nội dung trong thư gửi cho Công Uẩn cũng nói: “Tiên thế đại vương vốn là người đất Mân. Tôi nghe nói công khanh ở Giao Chỉ cũng có nhiều người đất Mân.”.

     Còn nhiều người xây dựng cơ đồ hay lập nên nghiệp vương, nghiệp bá mà họ không là “kẻ sĩ”. Tuy rằng các bậc khai cơ, khai nghiệp lớn đó không học vấn cao thâm, thậm chí rất ít học nhưng họ có cặp mắt “thần”. Họ, - nhận biết người tài. Họ hiểu người tài. Họ biết trọng dụng người tài. Họ biết đãi ngộ người tài… Và, đặc biệt là có niềm tin mãnh liệt cũng như tầm nhìn bao quát tình hình thế sự... Người xưa nói, họ có “Chân Mạng Thiên Tử”. Người có chân mạng thiên tử ắt sẽ có nhiều bậc trí sĩ ẩn cư tìm gặp, mang tài cán ra giúp đỡ làm nên nghiệp đế vương.

     Thiên hạ từ xưa đã tự hỏi - “Tại sao kẻ sĩ có học vấn, có tri thức và bằng cấp mà không tự đứng ra lập vương, lập đế?”. Có nhiều nguyên do, nhưng tựu trung chỉ có hai nguyên do chánh:

Thứ Nhất:
Ngày xưa, người đi học, học theo lối mòn từ một khuôn nắn ra. Đó là chỉ biết “văn hay, chữ đẹp”!. Sĩ tử quanh đi quẩn lại chỉ học sách của các bậc đi trước, soạn sẵn, - một thứ “Kinh Sách” cố định một chiều truyền từ đời này sang đời khác, cứ vậy mà học theo lối mòn chứ không “cải cách” hay “khai phóng”. Không dạy cách nhìn thực tiễn sâu rộng ra ở bên ngoài xã hội và tranh luận, suy luận để tìm tòi. Và hơn hết là sợ “thay đổi”. Đầu óc thủ cựu đó thấm sâu vào não bộ, truyền lại các thế sau như một “mệnh lệnh” vô hình ràng rịt tới mê muội.

Thứ Nhì:
     Học là để làm quan, báo ơn vua, báo ơn cha mẹ dòng tộc... Hơn nữa là chốn quan trường chẳng khác gì chiến trường phải cạnh tranh khốc liệt để giữ mạng sống, giữ địa vị nên không còn thời gian lo nghĩ chuyện cao xa. Ngại dấn thân, bởi sợ thất bại, sợ bị vu khống tù tội... Trong não kẻ sĩ chỉ biết vâng lệnh, không dám mạnh dạn nêu ra ý kiến và đặt vấn đề tranh luận đúng sai. Từ lý do đó mà hầu hết kẻ sĩ e dè không dám phiêu lưu.

Kẻ Sĩ Hiện Nay:

     Kẻ sĩ ngày xưa thì đã rõ ràng, còn kẻ sĩ hiện nay thì khái niệm kẻ sĩ có vẻ mơ hồ và càng mơ hồ hơn. Tại sao gọi là “mơ hồ”? Bởi kẻ sĩ thời nay không nhằm phục vụ cho một thế lực nào cố định hay một lãnh vực nào cố định. Kẻ sĩ ngày nay, họ có toàn quyền lựa chọn nghành nghề; họ có quyền nêu ra vấn đề “đúng, sai”. Họ có quyền xin thôi việc nếu bị chèn ép. Họ cũng không bị áp lực phải trả ơn. Kẻ sĩ ngày nay đa dạng và tự do tranh luận công khai. Họ không bị gò ép phải đi theo một hướng. Thời đại văn minh, kỹ nghệ, nên cuộc sống hầu như vội vã, suy nghĩ cũng thực tế, thực dụng. Tất cả đều lo tìm tòi để theo kịp đà phát triển của khoa học.

     Tuy vậy, kẻ sĩ sống dưới chế độ độc tài thì họ vẫn là công cụ cho người khác sai khiến để phục vụ cho một nhóm, một đảng phái. Do đó, họ cũng phải (biết hèn) để tồn tại, cái hèn thời cuộc buộc phải hèn, nhưng trong số kẻ sĩ không cam tâm hèn – để cúi đầu khuất phục làm tôi mọi suốt đời mà họ vùng dậy đấu tranh. Kẻ sĩ thời nay họ cũng biết “sai lầm”, dẫn tới nguy hiểm cho bản thân, - cũng may là ở thời buổi bùng nổ truyền thông, báo chí... - kẻ sĩ có chỗ tranh luận bày tỏ chính kiến. Chính điều này mà đã làm cho nhà cầm quyền độc tài e ngại, rồi từ e ngại không kiểm soát nổi, nên đàn áp, bỏ tù. Điển hình: Vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” là một bằng chứng.

     Kẻ sĩ ở trong “Nhân Văn Giai Phẩm” dù là nạn nhân nhưng họ không “hèn”. Họ chịu bản án bất công và chịu tù đày nhiều năm. Điển hình, như: Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Hữu Loan, Bùi Xuân Phái, Lê Đạt, Nguyễn Bính, Nguyễn Mạnh Tường, Văn Cao, Đào Duy Anh, Yến Lan, Trần Đức Thảo… Và còn một số tên tuổi khác nữa. Đặc biệt là có nữ văn sĩ Thụy An. Ngược lại, có nhiều “kẻ sĩ” cùng thời lại vì sợ liên lụy tới bản thân gia đình mà bị khuất phục đầu hàng trước cường quyền để rồi cam tâm làm “đầy tớ trung thành” thậm chí còn quay lại làm chứng gian tố cáo, vu khống bạn hữu thân thiết đã một thời cùng cộng tác với nhau trên các văn đàn. Đã như vậy rồi lại còn viết ra các tác phẩm (thơ, văn) phục vụ cho chủ thuyết độc tài ngoại lai mà không nhớ câu của người xưa nói: “Văn Dĩ Tải Đạo”.

     Với, biết bao oan ức tới nỗi Nguyễn Hữu Đang phải thốt lên, Câu đối:
     - “Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
     - Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế, quý cuộc đời Nguyễn Trãi, Trương Lương. (Nguyễn Hữu Đang)

     Và, một Phùng Quán muốn “làm người chân thật”, nhưng quá khó. Ông viết bài thơ:

Lời Mẹ Dặn.

     “Người làm xiếc đi dây rất khó
       Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
       Đi trọn đời trên con đường chân thật.
       Yêu ai cứ bảo là yêu
       Ghét ai cứ bảo là ghét
       Dù ai ngon ngọt nuông chiều
       Cũng không nói yêu thành ghét
       Dù ai cầm dao doạ giết
       Cũng không nói ghét thành yêu.

                               Trích thơ: (Phùng Quán)

     Tiêu chí, mục đích của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đơn giản chỉ là đòi “cởi trói” cho văn nghệ sĩ tự do sáng tác văn chương thi phú; cởi trói cho nền văn học được khai phóng. Nhóm chỉ vì hai chự “Tự Do” mà bị tù đày.

     Câu nói: “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”, của kẻ sĩ ngày xưa vẫn còn có ý nghĩa và “hữu dụng” cho tới tận ngày nay. Tại sao phải nói “hữu dụng”? Bởi kẻ sĩ hiện nay khôn ngoan và thuận lợi hơn kẻ sĩ thời phong kiến. Họ không cần “đấng minh vương”, cũng không hẳn cúi đầu lâu dài phục vụ cho bọn “độc tài, độc đảng”, họ biết thức thời để kiếm ăn, làm giàu rồi tìm đường rút lui. Nghĩa là kẻ sĩ hiện nay vẫn còn núp bóng “Thiên Hạ Hữu Đạo Tắc Hiện”, với một hình thức mới, hình thức tinh vi hơn với nhiều biến tướng và che giấu kỹ lưỡng.

     Kẻ sĩ thời phong kiến, bị gò ép vào quá mức vào đạo đức, truyền thống gia đình, xã hội và trung thành với vua chúa nên không dám đòi hỏi quyền lợi quá đáng. Ngược lại, kẻ sĩ thời bây giờ, họ cũng nhìn thế sự thăng trầm ra sao rồi mới “tham chính”. Một khi đã tham chính thì, - lại so kè, chạy vạy tìm đủ mọi cách để được tiến chức; thăng quan thu được quyền lợi nhiều hơn, nếu không đáp ứng đầy đủ thì quay ra “phản phé” thoát ly, chạy trốn, lập phe nhóm riêng.

     Ngày nay các môn học đa dạng, kẻ sĩ hiện nay bằng cấp nhiều hơn, mỗi người có năm bảy cái bằng tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhơn là chuyện bình thường. Tuy bằng cấp có nhiều, còn tài năng thục học thì có khi theo không kịp cái bằng, đôi khi bằng cấp lại là “bằng mua, bằng giả” để hợp thức hóa một chức vụ, một cấp bậc nào đó... Một xã hội suy đồi tha hóa đạo đức thì kẽ sĩ - dù có trốn nơi trốn triều trung, có trốn giữa chợ, có trốn vô rừng sâu, thiết nghĩ cũng đều giống như nhau. Thôi, tốt hơn hết là đối mặt mà ngẫm câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”. Biết đây là biết thời, biết thế và rồi kẻ sĩ lại chờ một “Đấng Minh Vương” mới để phò tá. Nhưng khổ thay, cái đấng minh vương tự cổ chí kim chỉ có đếm trên đầu ngón tay.

     Nhìn chung, (kẻ sĩ hay hèn sĩ) khoảng cách chỉ là giao thoa mỏng manh của lý trí trước biến thiên phức tạp bí ẩn của thời cuộc cũng như thực dụng và lý tưởng. Biết vậy, nếu có tâm lòng ngay thẳng; có sự thông minh nhạy bén thì có thể đi đúng hướng, để lại công trạng. Thời buổi khoa học hiện nay hèn với không hèn cũng chẳng qua chỉ còn là một khái niệm mơ hồ khó định hình trừ phi có ai đó tự nói ra.

     Thi sĩ Nguyễn Du cũng đã từng báo trước:
    “Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Lạ gì bỉ sắc tư phong.”.

     Dù gì, thì kẻ sĩ (hiện nay) vẫn là kẻ sĩ; kẻ sĩ vẫn có ích cho đời. Các chế độ độc tài, độc đảng mới e sợ kẻ sĩ có nhân cách, có đạo đức, có thực tài - những kẻ sĩ đó rất khó thuyết phục và khuất phục.

Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).


Quán Ven Đường Ngày Xưa.


25/12/25

MƯA GIÁNG SINH

 


MƯA GIÁNG SINH


     “Ngâm nga mong gửi chữ tình
      Dường này âu hẳn tài lành trượng phu!"
               (Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Ngày chậm rãi lăng qua khung trời cũ
nhìn kỹ ra thượng-đế tuổi đã già
sờ nút áo, chỉ sứt còn phân nửa
lảng-vảng đầu hình bóng áo bà ba.

Ngã tư ngắm, mắt mòn gần một kỷ
cột đèn run lập-cập tiễn xe hơi
ngồi xe đẹp biết có ai thầm-thỉ
đứng chồn chân trông đợi, tới đã đời.

Mây thích kéo âm-binh loài quân giặc
giọt rơi vui, lẫn lộn giọt buồn gieo
nhớ bậu ẵm chiếc bóng mờ hiu-hắt
không mơ giàu, thôi ráng giữ kiếp nghèo.

Quán thanh vắng, ngắm nghía cô starbucks
thèm nụ hôn nồng ấm của năm nao
đường phố rộng, nẻo về chật thêm chật
thương người thương sống chết dạ cồn cào.

Cầm điện thoại, ngập-ngừng đành bỏ xuống
chờ chuông reo ai đó ngụ tứ phương
mong, giác-ngộ-hữu-tình thêm luống-cuống
nại-lão-hà, khai-thị diện vô-thường.

Ngồi một chỗ, ngắm mưa mù bận cẳng
lội cao nguyên, núi thẳm khói sương vây
lô-cốt đứng, thú tỉ-tê xa vắng
chim hỏi thăm, vì sao đậu đất nầy.

Ngồi một chỗ, nghe man-man-trường-dạ
mùi súng gươm phảng phất ngấm châu thân
mùi áo lính, mùi giày, mùi đất lạ
mùi thư tình, mùi bồ kết ân cần.

Ngã tư ngắm, lần hồi ra ngã bảy
sông hậu tiền nhuốm căn bệnh tương-tư
đò ngang dọc bến neo nào đâu thấy
cõng hai mùa, mưa nắng mệt đứ đừ.

Ghế hiểu chuyện, ghế tỏa ra hơi ấm
bàn lạnh tanh tỳ tay tưởng nỗi xưa
hiên mưa trước, hơi nhau còn âm ấm
nghĩ huyên-thuyên kể ra cũng chưa thừa.

Mưa rỉ-rắc, gió hắt tường kiếng ẩm
có phân-vân, bốn ngả hóa lưỡng-đồ
nhị lộ hướng, chẳng lẽ làm tính nhẫm
lau mắt cô starbucks dõi hư-vô.

Đã dạo hết, nửa đời tầm tri-kỷ
nơi đâu là, diện-kiến nối tri-âm
bài thơ gói bằng ngàn lời hoa-mỹ
gởi thinh không, gửi vô chốn âm-thầm.

Thánh-đường vọng, hồi chuông già nức-nở
giáng-sinh mùa, giọt ướt thấm hài nhi
nhân-gian đó - dẫu có là: lầm, lỡ
lòng tin yêu, chẳng vương-vấn chuyện gì.


Trang Y Hạ.





THƠ TÌNH THỜI LY LOẠN (Phổ Nhạc).

 

"Chết đuối thông thường là người biết bơi".



ĐÓN XUÂN TRONG TÙ (Phổ Nhạc).

 


"Giang hồ hỏi đường không hỏi lòng"



22/12/25

Nghe Lời Bậu (Phổ Nhạc).

 


"Tiếc thay nước đã đánh phèn, 

   Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!" (Kiều)


17/12/25

NỬA ĐÊM NGÓ RA VƯỜN.

 



NỬA ĐÊM NGÓ RA VƯỜN

      “Vạn lý tình không, tuyệt vân cảnh,
     Mãn đàm trừng thủy hiển nguyệt minh.”

Nửa đêm lạnh trở người qua đông-chí
sương ngủ mê chẳng thèm biết mấy trời
jacket nặng tuổi than rằng cũ-kỹ
khẽ mỉm cười quên ngắt nhánh đơn côi.

Cây một gốc lêu-nghêu mòn trong gió
đứng trân mình gào thét nhức hai tai
chiếc lá rụng chưa yên thân nằm ngó
vốn mong-manh kiến mối đã an bày.

Phố chưa thức starbucks nàng mở mắt
bậu về không, rà soát nỗi căn nguyên
tuyết không lạnh, nhớ tấm mền đau thắt
chưa sa-di, dựa quán vắng tham-thiền.

Mấy bụi tỏi, khóm hành lạnh giá quéo
hương vị nồng ướp thấm tủy chưa tan
giờ tan học, có còn ai lẽo-đẽo
áo dài bay nắng ấm phủ địa đàng.

Mấy bụi sả, liếp gừng chung số phận
ôn lại khi lãnh noãn của những ngày
phương-phi trẻ té ra đà lận-đận
vòng xoáy đời, mặc kệ hổ mặt ai.

Lại thương lắm đứng một mình, cây ớt
thân co ro khi trái gió trở trời
cây cần ấm cớ chi người hời hợt
đông phải về để đông nhỏ sầu vơi.

Xót khúc gỗ lềnh-bềnh chờ ai đó
đỗ quyên hồn lơ lửng thế nhân này
nhược vấn thử, vọng hồi-âm trong gió
nửa đêm nằm ngồi ngẫm nghĩ loay-hoay.

Gia vị ấm: ớt, tỏi, hành, gừng, sả
bàn tay tiên bậu ướp sưởi nội tâm
ngày hạnh-phúc mưa rào qua vội-vã
mùi còn lưu dưới gối phả hương trầm.

Trang Y Hạ
Cước Chú:
Vạn lý tình không, tuyệt vân cảnh,
Mãn đàm trừng thủy hiển nguyệt minh."
                                     Trang Y Hạ, Tạm dịch:
(Muôn dặm tình không, mây chẳng thấy,
Hồ đầy ngó xuống trăng sáng trưng).

LỜI GIÓ MƯA:

THU CÚC.

Cao tiết xung hàn phóng mãn sơn,
Độc siêu quần huỷ điểm thu nhan.
Hốt tư cựu tuế đông ly hạ,
Đối tửu xan anh tận nhật nhàn.
                           Thơ: (Ngô Thì Nhậm).
THU CÚC.

Lạnh về triền núi đầy hoa,
Sắc thu khác lạ mượt mà cỏ cây.
Tường đông, vườn cũ thương thay,
Thấm men, hương cúc trọn ngày đê mê.

Trang Y Hạ
Tạm: (Dịch Thơ).

TOKYO, CHỚM ĐÔNG

Loay hoay cạn kiệt một đời
Lắm khi chưa kịp mỉm cười, đã đi.
Trăm năm ngoảnh lại có gì
còn chăng chung với xanh rì cỏ rêu.
Đã từng: thương hận, ghét yêu
So đo cho lắm một chiều phủi tay
Giọt mù lỗ chỗ tóc mai
Bên tai, văng vẳng tiếng ai gảy đờn.

Thu Hương. (Tokyo).


   Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Hòa


11/12/25

MẤT WI-FI.

 



MẤT WI-FI.

     “Vô tình nguyệt tuế tăng trung giảm,
       Hữu cảnh khổ tiền lãnh hậu điềm”.

Wi-fi mất, thinh thinh con chó lác
đầu lơ-ngơ than-thở thủy triều dâng
mắt biếc đọng vài hoàng-hôn nhợt-nhạt
bao lo toan chưa định luống bần-thần.

Bậu bên nớ co-ro vùng mưa bão
màu đỏ tươi cuồn cuộn sóng bộn bề
bầu sữa cạn, ngực đau đầu lão-đảo
ôm con thơ chờ thượng-đế mỏi mê.

Thiên-tai định có khi nào hoàn-mỹ
tuần hoàn vòng sinh diệt tuần tự quay
từ tâm thiện bước lên thuyền diệu-trí
tam khổ đeo, đòi đoạn thế gian này.

Tưởng yên lặng, thẳm sâu âm ỉ sóng
tưởng vững-vàng, ngờ đâu bước khiêu khiêu
tưởng hợp phố, ai ngờ xuồng hư-hỏng
tưởng giàu sang, nợ đống réo đủ điều.

Wi-fi mất, mắt mù mờ mịt mắt
đang sờ sờ hóa bóng hoạt tử nhân
ở đâu có, phút sinh hồi khởi sắc
đang sáng trưng đã hối hả mây vầng.

Nhớ nhau cố dồn nhớ vô tâm não
chắc thời-lai-phong-tống sẽ đưa hương
đã ngán ngẫm, bọn khuyển ưng vênh-váo
một đám quan, hai miệng quả chán-chường.

Wi-fi mất, điện-thoại nằm tê gió
hai tâm hồn, giữ hơi ấm đôi bên
bậu gồng mình, đối thân ngồi vò-võ
tuổi hoa niên, theo sóng đỏ bồng-bềnh.

Bờ bên đó, dương liễu trông ra biển
họa thiên-nhiên, họa từ chỗ u-mê
tròng nặng cổ ai là người thăm viếng
bát-đức đành theo gió bão chẳng về.

Trang Y Hạ
Cước Chú: 

- Bát-Đức, Thuyết Phật là: (Hiếu – Để – Trung – Tín – Lễ – Nghĩa – Liêm – Sỉ).

Lời Gió Mưa:

Khể thủ thiên trung thiên,
Hào quang chiếu đại thiên.
Bát phong xuy bất động,
Đoan tọa tử kim liên.
Thơ: Tô Đông Pha (1037 – 1101)

(Cúi đầu ngàn vái lạy giữa trời,
Ngày lên ánh sáng chiếu khắp nơi.
Tám hướng gió lùa không lay nổi.
Bông sen ngồi ngắm quả tuyệt vời.

Trang Y Hạ
(chuyển qua thơ Việt).




10/12/25

Thơ Phổ Nhạc. Mùa Giáng Sinh.

 


"Cuộc đời thì ai cũng có nhiều tiếc nuối, thôi đành ôm tiếc nuối đó để tiếp tục bước đi". (Trần Phước Hân).

Thơ Phổ Nhạc "Nghe Hơi Gió Nồm.


 Đường Phan Thanh Giản KonTum.

Hai hàng phượng, đứng im cau mày ngẫm,
Trường Teresa, tà áo vẫn còn bay.
Dakbla chảy ngược dòng qua hồn thấm,
Bậu nơi đâu, sương núi ướt lòng nầy.

Trang Y Hạ

1/12/25

CHẠY

 



CHẠY

     “Tẩu biến thiên nhai tầm tri kỷ,
    Vị tri nhược cá thị tri âm”. (Hư Vân).

Vô rừng dạo, vướng bụi cây
ghét người ong dữ một bầy túa ra
không lý-lẽ, chẳng giải-hòa
rựa, dao phang tới chạy ba đỗi đường.

Thoát thai dòng dõi thiện lương
không thèm chấp-nhất một phường lưu-manh
quạ trơ mắt ngó chẳng hành
sóc chu mỏ gặm tập tành du-côn.

Ngũ-liên sóng hối dập-dồn
đày chàng linh-thú dại khôn lưng còng
quê nhà còn có chi mong
tiếc cho thủa bé thong-dong ra đồng.

Biết rằng kẻ nhớ người trông
biết rằng con cá lòng tong lạc loài
biết rằng vằng-vặc trăng soi
biết rằng nói cuội cũng coi như huề.

Hồn quyên ký-ngữ tỉ-tê
vô-tàm, giải-đãi khen chê mặc tình
sinh chưa buông-thả, thấm kinh
dật-dừ, chẳng nhớ nỗi mình ra chi.

Lắng trong phương-vị thầm thì
là nam, là nữ cố-tri đâu tầm
hỡi người chung đụng một mâm
gỗ trôi ai vớt, lỡ lầm ai tha.

Ngồi nhà mà ngỡ xuất-gia
song-le, việc ấy kể là sa-di
hỡi người thuở trước cầm kỳ
bách-niên tao-ngộ, bỏ đi mô rồi.

Thức nằm, mím chặt đôi môi
thúc dòng ký-ức nổi trôi về nguồn
đành mần khất-sĩ chân suôn
không tu, an tụ tròn vuông kiếp người.

Vô rừng vọc kiến nghĩ vui
ba tâm, ý ngụ đã khươi nhịp đều
đêm trì lắng giọng cú kêu
lầu son gác tía, túp lều khác đâu.

Chạy từ bắc tận nam cầu
may rồi lại chạy biển sâu đứt nguồn
bình tâm văng vẳng tiếng chuông
từ trong sương tuyết gió luồng hỏi thăm.

Trang Y Hạ

LỜI GIÓ MƯA:

KỆ.

Dĩ sanh vô hữu sanh
Vị sanh diệt vô sanh
Ly dĩ sanh vị sanh
Sanh thời tức vô sanh. (Bồ Tát Long Thọ)


KỆ.
Sanh đã có đâu phải cần sanh nữa,
Nếu chưa sanh kể ra cũng không sanh
Sự sanh cách cớ chi mong sanh lại
Khi đang sanh chưa chắc đã sanh thành.

Trang Y Hạ
(Chuyển Qua Thơ).




30/11/25

NGHĨ VỀ CHỮ KIỀU

 



NGHĨ VỀ CHỮ KIỀU.


HOA KIỀU:

     Ngày xưa vùng “Gia Định - Chợ Lớn - Sài Gòn” vốn gần như là “thuộc địa” hay “tô giới” của người Tàu. Người Tàu du nhập vô Việt Nam bằng nhiều hướng: Từ sông Dương Tử, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến, Hồng Kong, Đài Loan - bằng nhiều lý do từ: chính trị, thiên tai, kinh tế và lý do duy nhất (sau nầy) là trốn tránh sự đàn áp. Đàn áp do sự thay đổi triều đại từ khi triều đình Mãn Thanh thống nhất Trung Hoa. Một số nhân sĩ tinh hoa người Hán quyết tâm khởi nghĩa “Phản Thanh Phục Minh”, nhưng thất bại phải chạy qua Việt Nam tỵ nạn.


     Tử khi Pháp chiếm Đông Dương, với chính sách “chia để trị”, đã nhận thấy hiện trạng như vậy và tiếp tục công nhận đồng thời dung túng (một số đặc quyền) cho người Tàu sinh hoạt buôn bán tự do theo cách riêng của người Tàu. Nhưng có thể khẳng định ý đồ là Pháp dựa vô thực lực và đầu óc kinh doanh mại bản thiên bẩm của người Tàu để khống chế giới điền chủ, giới tư sản của người Việt vốn ít ỏi để thao túng buộc người Việt phải theo ý người Pháp.

Người Tàu Chợ Lớn cần cù làm ăn, nên có câu:
              “Quảng Đông ăn cá bỏ đầu,
          Phúc Kiến lượn lấy đem về kho tiêu”.

     Từ chỗ nghèo đói trở thành - có thế, có quyền, có tiền của khắp cả một vùng và rồi lại tỏ ra khinh thường người Việt. Họ (người Tàu), chiếm hữu tất cả ngành nghề của người Việt, mà ngành nghề đó người Việt vốn đã tồn tại từ lâu đời: Thợ rèn, thợ hồ, thợ mộc, thợ may, thợ tiện, thợ máy, thợ nhuộm, thợ đúc đồ đồng… Người Việt lúc bấy giờ chỉ còn làm những công việc nặng nhọc, như: Làm công nhân khuân vác, bốc vác nơi các bến cảng, bến tàu (sông, biển), làm công nhân hãng xưởng, kéo xe... Tất cả đều chịu sự điều khiển sai khiến của các xì thẩu, cai thầu người Tàu. Hơn nữa người Tàu làm ăn theo phương thức (phường, hội), Ngũ Bang (Tiều (Tiều Châu), Hải Nam, Quảng Đông, Hẹ, Phúc Kiến) nhằm để giúp đỡ lẫn nhau, họ thường chúc nhau “Thượng Lộ Bình An”, cho nên người Việt một phần thiếu “gắn kết”, vả lại cón thiếu vốn liếng không thể tranh đua với họ được.

     Người Pháp rút ra khỏi Đông Dương, các Bang Hội người Tàu và các Trường Học của người Tàu từ từ bị giải tán hết. Năm 1954, chính quyền ông Ngô Đình Diệm, chấp chánh đã hiểu rõ người Tàu nắm tất cả huyết mạch kinh tế, thương mại của miền Nam kể cả xuất nhập cảng lúa gạo... Người Tàu từ bao đời nay họ cư ngụ chỉ là Tàu Kiều, nói chính xác là “HOA KIỀU” Chợ Lớn (nạn Hoa Kiều). Hoa Kiều tức là những người Tàu cư ngụ trên đất nước Việt Nam chứ họ không phải Công Dân Việt Nam. Do đó, chính phủ của ông Ngô Đình Diệm đã nhanh chóng đưa ra “Bộ Luật Quốc Tịch Việt Nam” vào cuối năm 1955. Trong điều thứ mười hai (12) ghi rõ: “Nếu là con chính thức, mà có mẹ là người Việt Nam, và có cha là người Tàu (Trung Hoa), nếu sinh đẻ ở tại Việt Nam thì đứa trẻ đó là người Việt Nam”. Và, vài tháng sau, thì “Bộ luật Quốc Tịch” lại quy định thêm: “Hoa Kiều sinh tại Việt Nam sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải khai nhận Quốc Tịch Việt Nam và làm Căn Cước, nếu không tuân thủ theo luật định thì có thể xin hồi hương về lại Trung Hoa trước ngày 31/8/1957”.

Bộ Luật Quốc Tịch Việt Nam ra đời, được xem như một cuộc cách mạng làm thay đổi vấn đề “HOA KIỀU đã sống tầm gửi từ lâu trên đất Việt mà không chịu sự quản lý về di trú tư pháp. Đó là các Dụ số 52 được ban hành ngày 29-8-1956, dụ số 53 ngày 6-9-1956. Cả hai sẽ chính thức áp dụng ngày 25-10-1956.

      Dụ số 52 quy định rằng người Tàu “Hoa Kiều” định cư tại miền Nam (Gia Định – Sai Gon) bắt buộc phải nhập Quốc Tịch Việt Nam. Khi nhập quốc tịch, thì sẽ được bảo đảm tự do giao dịch, buôn bán, đi lại. Người Tàu phải dùng chữ Việt đặt tên họ như: (Quách, Mạch, Lâm, Trịnh, Tô, Trần, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trương, Ngô, Hồ...), và cũng không được dùng tên ngoại quốc hay tên gọi riêng như: A, Chú, Chế…, kể cả bí danh trong các văn kiện hành chánh, khai sanh, hôn thú... Tên trên bảng hiệu thương mại, tiệm chạp phô kể cả văn chương thi phú cũng phải viết bằng Chữ Việt.


     Dụ số 53 cấm người ngoại quốc không được kinh doanh mười một (11) ngành nghề, như: 1- Buôn bán cá thịt, 2- Chạp phô, 3- Than củi, 4- Nhiên liệu xăng dầu, 5- Tơ sợi, 6- Trung gian mua bán, 7- Kim loại, 8- Lương thực xuất nhập, 9- Chuyên chở thủy bộ, 10- Xay gạo, 11- Dịch vụ.
Đạo dụ chỉ áp dụng cho thành phần (chủ nhân, thương nhân, thương lái) người Tàu và các ngành nghề thuộc về kỹ nghệ và hành nghề tự do. Người Tàu lai Việt, có vợ người Việt thì không ảnh hưởng quy chế chế tài, vẫn được phép kinh doanh dưới tên người thân, nhưng người thân (vợ, chồng) phải là người Việt Nam có quốc tịch Việt Nam, hộ tịch khai sanh chính thức bằng bản văn tư pháp của chánh quyền Việt Nam.

     Chính phủ ông Ngô Đình Diệm dứt khoát về vấn đề quốc tịch để cho người Tàu “Hoa Kiều” được sống hợp pháp trên đất Việt Nam. Một khi đã là công dân Việt Nam thì họ sẽ được hưởng quy chế ưu đãi không khác gì người Việt một cách công bằng và có nghĩa vụ quân sự; có nghĩa vụ đóng thuế góp phần cho đất nước cũng như chấp hành các nghĩa vụ công dân khác.

     Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều suôn sẻ. Ngay từ đầu khi các dụ luật ra đời thì người Tàu Chợ Lớn phản ứng kịch liệt, dữ dội... – nhất là một số thương lái, thương nhân Tàu giàu có gọi là “đầu nậu” của một số ngành kinh doanh cỡ lớn không chịu khuất phục tuân thủ luật nhập quốc tịch Việt Nam. Họ đã tìm đủ mọi cách chống trả, họ lại liên hiệp với các nhà “tài phiệt” thế giới như: Hong Kong, Trung Hoa, Đài Loan... để làm áp lực với chính phủ Ngô Đình Diệm. Và cuối cùng họ nhận ra là không thể thắng, cho nên có (một số) ít trong số họ chọn cách rút lui về cố hương, hay còn gọi là hồi hương.

     Chính phủ ông Ngô Đình Diệm không hề có chủ trương bài xích người Tàu hay có thành kiến đối xử không tốt đối với người Tàu. Chuyện yêu cầu người Tàu “Hoa Kiều” sống lâu đời phải vô quốc tịch Việt Nam là điều kiện hợp tình, hợp lý, hợp pháp, hợp hiến ở trong một quốc gia tự do dân chủ và cần phải nêu rõ quan điểm Chủ Quyền Quốc Gia để ổn định xã hội. Không chỉ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa mà các quốc gia khác trên thế giới cũng đã có luật tương tự nhằm bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo đảm trật tự xã hội, bảo đảm an ninh kinh tế tài chánh. 

     Công bằng mà nói thì người Tàu “Hoa Kiều” họ cũng đã có một số công trạng nhất định đóng góp to lớn cho vùng đất (Gia Định – Sai Gon) về văn chương thi phú cũng như theo phò triều đình Nhà Nguyễn khai hoang mở cõi một số địa danh Nam Kỳ, như các vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Dương Ngạn Địch, Trịnh Hoài Đức, Trần Thượng Xuyên, Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản, Lý Văn Phức,…

     Trong thời gian theo phò Nhà Nguyễn, người Tàu cũng bị tổn thât nhân mạng khá nhiều. Đó là vào năm 1782, quân Tây Sơn vây đánh quân Nhà Nguyễn tại vùng Vườn Trầu - Mười Tám Thôn Vườn Trầu (Gia Định). Tiền quân Tây Sơn bị phục kích. Hộ giá Phạm Ngạn là một sủng thần của Thái Đức Hoàng Đế Tây Sơn Nguyễn Nhạc bị Chiến tướng Trần Công Chương, quân của Hòa Nghĩa mà nghĩa quân Hòa Nghĩa phần đông là người Hoa (Tàu), giết chết. Vua Thái Đức hay tin dữ rất tức giận, bèn ra lệnh thảm sát, truy sát người Hoa tại Gia Định thành để trả thù.

VIỆT KIỀU:

     Ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy mươi lăm (30.4.1975), Cộng quân xâm chiếm miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa). Từ đó, họ gấp rút “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” bằng các giai đoạn: Đưa dân đi kinh tế mới nơi rừng sâu nước độc, mà người dân miền Nam gọi là “đem con bỏ chợ”. Đổi tiền ba lần gần như xóa sạch giá trị đồng tiền miền Nam.

     Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa (1955). 35 $ Miền Nam = $1 Mỹ kim

- Năm 1960 – 1970 khoảng 300 $ VNCH = $1 Mỹ kim
- Năm 1970 -1975, khoảng 500 – 700 $ VNCH = $1 Mỹ kim. Trên mặt các đồng tiền của Việt Nam Cộng Hòa chỉ in hình các bậc tiền nhân chống giặc Tàu, cảnh trí quê hương và hình ảnh cơ giới kỹ nghệ.

     Sau 1975, qua ba lần đổi đổi tiền. (Lần thứ nhất: ngày 22-9-1975 - Lần thứ nhì: ngày 02-5-1978 - Lần ba: ngày 14-9-1985). Đã quy ra: 500 $ VNCH = Một [1] đồng Miền Bắc. Tức là, chỉ cần một [1] đồng rưỡi tiền Miền Bắc lúc đó đã đổi được một [1] $ Mỹ kim. Chuyện nầy, thì (chỉ duy nhất, là [$] đồng Bảng Anh, mới làm được điều đó).

     Vậy, thử hỏi rằng: Từ chỗ 1,5 $ đồng tiền Miền Bắc ăn một [1] Mỹ kim thời năm (1975)… Vậy cớ gì sau năm mươi [50] năm đồng tiền của Việt Nam tụt xuống tới 27.000 $ mới đổi được một $ [1] Mỹ kim? Đồng tiền Việt mất giá tới – hơn mười sáu ngàn lần, gần áp chót theo bảng xếp hạng của thế giới.

     Từ đó, người dân miền Nam mất tiền hưu kể cả tiền để dành. Đánh tư sản mại bản công thương nghiệp các đợt, hãng xưởng, hãng buôn mất sạch. Dồn người nông dân vô các Tập đoàn sản xuất, Hợp tác xã nông nghiệp. Thật ra, các hình thức đó chẳng qua là vơ vét tài sản, tiền của, đất ruộng nhà cửa của người dân miền Nam hầu xóa bỏ “Tàn dư tiểu tư sản”. Quân đội, công chức miền Nam “đầu hàng” thì bị tập trung cho vô các trại “cải tạo” tù đày nhiều năm, phải đi lao động để nuôi thân, thiếu ăn, bệnh tật phải bỏ xác nơi chốn rừng thiêng nước độc.

     Xã hội chủ nghĩa sung sướng chưa thấy đâu, nhưng trước mắt đã thấy đói khổ triền miên trong nhiều năm, phải ăn củ mì, củ sắn, bo bo... Di chuyển bị “ngăn sông cấm chợ” lại không có xăng dầu, xe cộ phải dùng nhiên liệu bằng than củi. Năm 1994 chính phủ Mỹ bỏ “Cấm Vận” sau hai mươi năm bị cô lập. Từ đó, Hoa Kỳ cho Việt Nam gia nhập “WTO” (World Trade Organization). Tạm hiểu là kinh thế thị trường tự do tư bản, thì kinh tế Việt Nam mới khởi sắc và giàu lên nhanh chóng như hiện nay.

     Người xưa nói “Cọp beo không đáng sợ, cái đáng sợ là quan lại độc ác tham ô”. Bị cướp đoạt hết nhà cửa đất ruộng tài sản, người dân miền Nam, (kể cả những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản) xúm nhau nhào ra biển để đi tìm tự do ở các quốc gia tư bản, bất kể sóng to gió lớn; bất kể hải tặc Thái Lan... Năm 1979, chiến tranh sáu tỉnh biên giới phía Bắc, do “Trung Cộng Anh Em” dạy cho cộng sản Việt Nam một bài học thì người dân miền Bắc cũng ồ ạt tháo chạy qua Hong Kong xin tỵ nạn.

Từ đó, hai chữ “Việt Kiều” ra đời.

     Thử tìm hiểu chữ Kiều, theo (Hán Tự- Hán Việt). Chữ Kiều có nghĩa như sau: Kiều (Bộ Nữ) là: - Giai nhân đẹp, người phụ nữ đẹp. Chữ Kiều (bộ mộc) là: - Cây cầu, dùng chung cho các cây cầu. Chữ Kiều (Bộ cư, Bộ nhân) là Người ăn nhờ, ở đậu, ở nhờ vùng khác, làng khác hay nước khác gọi họ là kiều cư, kiều dân. Theo (Bộ khẩu). Kiều là cây cao. Trong Hán Tự, không có chữ “Kiều Bào”. Chữ Bào (Pào). Hán Tự có hai nghĩa: 

Một, là: – Cái áo khoác bên ngoài. Chiến bào.
                       Áo bào thay chiếu anh về đất,
               Sông Mã gầm lên khúc độc hành”, Thơ: Quang Dũng. 

Hai, là: – Cái bị, cái bì, cái bao, cái bào thai… Chẳng có chữ nào gọi là “Kiều Bào” ở trong “Tự-Điển Hán Việt”.

      Ngoài ra, “Kiều” cũng không phải Kiều của Nguyễn Du.
                     “Kiều còn sắc sảo mặn mà,
              So bề tài sắc lựa là phần hơn”. (Kiều Truyện).

      Chữ Kiều trong “Việt Kiều” là chữ Kiều theo Hán Tự là viết như vậy đó. Chữ “kiều” còn có nhiều nữa, tùy theo ý nghĩa của mỗi bộ tự chữ Hán và cách xử dụng trong mỗi câu văn, câu thơ và hoàn cảnh tương ứng. Chữ Kiều, nếu là Động Từ, thì Kiều là chỗ ăn nhờ ở đậu. Ví dụ: “Kiều Cư”. Nếu là Danh Từ, thì Kiều chỉ là người sống nhờ. Ví dụ: “Hoa kiều” là người có quốc tịch Tàu, sống ở nước ngoài. Còn nếu là “Trợ Từ”, thì có nghĩa là tạm thời. Ví dụ: “Kiều Trí” là mượn tên một đất vùng này đặt tạm cho một vùng đất khác. Chữ “Kiều” là (bọt nước), nghĩa bóng là mộng mơ... “Mộng huyễn bào ảnh như thị hồ”. Chữ “Kiều”, cho dù đứng ở vị trí nào, tình huống nào thì chữ “Kiều” phần nhiều cũng hàm ý - là tạm bợ, là tạm thời; là trôi nổi; là linh đinh chứ chẳng “cắm dùi” ổn định lâu dài.

     Từ lâu nay người ta vẫn dùng hai chữ “Việt Kiều” để gọi chung những người Việt Nam định cư ngoài đất nước Việt Nam, cách gọi này rõ ràng là quá hàm hồ, không thể gọi theo kiểu cá mè một lứa như vậy được. “Việt kiều”, hiểu cho đúng nghĩa thì đó là những người đang còn mang Quốc Tịch Việt Nam nhưng sống ở nước khác. Ví dụ: "Người làm trong bộ ngoại giao; Người đi làm thuê, làm mướn, ở các nước khác – gọi là “xuất khẩu lao động”; Du học sinh tới các nước khác học tập nghiên cứu...".

     Người Việt vượt biên tìm tự do, Người Việt tỵ nạn cộng sản hoặc bất cứ hình thức nào mà đã đã được các quốc gia tư bản cho tỵ nạn lâu dài, đã thi đậu quốc tịch nơi đang định cư, sau khi tuyên thệ trở thành “công dân” của họ thì hoàn toàn không còn là “Việt Kiều” nữa, mà gọi là, Ví dụ: “Người Mỹ gốc Việt; Người Pháp gốc Việt; Người Anh gốc Việt…! Nhưng khi tới đời con, đời cháu sinh ra sau này (nơi cha mẹ đang sống) thì không còn là gốc Việt. Tuy nhiên, (trên danh nghĩa ngôn ngữ, xã hội - thông thường chỉ gọi chung chung là thuộc các nhóm: Asian; nhóm La Tinh; nhóm Africa…).

     Cộng sản Việt Nam lâu nay gọi xô bồ người Việt định cư, người Việt tỵ nạn ở nước ngoài là “Việt kiều yêu nước, Khúc ruột ngàn dăm”, nhằm mục đích (gom góp) nguồn tiền của họ hay còn gọi là “kiều hối”. Khúc ruột nào mà dài tới cả ngàn dặm vậy? Đáng trách, đáng buồn, một câu nói sai nghĩa nhưng nói hoài, nói nhiều lần mà không ai chỉnh sửa, cứ để lâu ngày ắt sẽ trở thành đúng, thành chân lý...

     Chữ Việt hiện nay cũng vậy. Ví dụ: Đánh người tới hộc máu mũi, thì nói “Tác động vật lý”. Tiệm tạp hóa, thì nói “Cửa hàng vật lý”. Cái chữ, cái nghĩa, nét chữ, thì nói “Con chữ”. Chữ mà có con được sao? Học sinh, học trò, thì nói “Con học sinh”. Học sinh (đang học) mà có con được sao? Viết từng "câu thơ, câu văn, câu vè, câu đối, câu ca...", thì gom chung, là "Câu chữ".

     Bởi vậy, lâu nay người Việt định cư ở các quốc gia khác nhưng do quen miệng cũng tự nhận, là Việt Kiều. Đáng tiếc một số ít các ông bà: Văn sĩ, Thi sĩ, Ký giả... mỗi khi viết văn cũng “nhân danh” Việt Kiều! Mong rằng các vị người Việt có quốc tịch, hay là công dân ở các quốc gia tự do tư bản thì đừng có mà “hãnh diện” nhận lấy hai chữ Việt Kiều nữa!


Trang Y Hạ
San Francisco, 2009.


23/11/25

NGƯỜI CON GÁI KABUL.


NGƯỜI CON GÁI KABUL


     “Thiên hạ bổn vô sự,
      Dung nhơn tự nhiễu chi”. *

Parking Lot, mây mù chia tháng chạp
bụi mưa giăng, cây lá nhuốm màu tang
cô qụa đứng, trông trời mờ cõi tháp
anh bồ câu, kiếm thóc mệt đỗi đàng.

Chân-phương nét đẹp hóa ra kinh khổ
lớp lụa đen phủ kín một dung tiên
hoa cố nở cho một lần hội ngộ
cõng ứ-nê kiều-nữ sạch ưu-phiền.

Bước chầm chậm, bước theo người con gái
thơ thẩn quay, quay ngược kỷ hai mươi
khói đồng quyện làn khói thơm ấm chái
có một người, cố giấu hết nụ cười.

Cô mặc áo Kabul nhìn starbucks
mùi Phương-Đông ngây-ngất đấng nam nhi
ai khả-đãi, ai khả-lân quán chật
vô-đoan nhiều, thôi đành cố lầm lỳ. *

Cô mặc áo Sài-Gòn dài lất-phất
sờ châu thân bộ đồ lính màu phai
vận ký-ức quỷ xúi trang sử lật
người trước sau, xin thấu hiểu lòng này.

Kabul đẹp dáng Sai-Gòn thêm đẹp
dòng sông xuyên, chở nặng hột ưu-tư
đoạn di-tản phương xa chăm chỉ chép
thân bội-nan tinh-huyết cạn mỏi nhừ.

Kabul sống, Sài-Gòn trôi ra biển
ba trăm năm, nằm chết yểu một phương
tự an ủi, tự thắp nhang cầu-nguyện
lũ âm-binh, lũ-khủ chắn ngả đường.

Parking Lot, ngắm chân dung cô lữ
hai mươi năm, chinh-chiến bỏng hai tay
tương-lai đợi, nặng lòng đêm tư-lự
có phải chăng, thiên-sự cố ý bày.

Người con gái Kabul ôm starbucks
hơi ngày đông gió tiễn gót lưu-ly
mất tất cả đó chính là sự-thật
còn duyên xinh, chứ chẳng có còn gì.

Trang Y Hạ
Cước Chú:
* - (Người đời vốn bằng an. Kẻ khờ lại khấy động).
* - “Vô Đoan” là: (Bất thường; là Bỗng nhiên; là Kinh ngạc [lẫn chút đau buồn].




13/11/25

VƯỜN SAU

 



VƯỜN SAU


     “Bằng quân mạc thoại phong hầu sự,
      Nhất tướng công thành vạn cốt khô”.

Chuông điện-thoại, rộn sớm mai tĩnh-mịch
chú bướm vàng, sợ lạnh chẳng ló ra
sương ở đậu, ù lì chưa lẫn khuất
không hẹn hò ai gọi sớm vậy nà.

Đã lâu quá, phôn đói meo nằm khểnh
đầu lão lai, đầu hoang-tưởng đó thôi
tự pha chế ly cà-phê tự ngẫm
người (pha giùm), người biền-biệt lâu rồi.

Cô chim nhỏ, đoán chừng đà trộng tuổi
đậu cành chờ vẻ mặt sáng-sủa ghê
cất giọng hát bỗng trầm như ca-sĩ
bốn hướng đi, chỉ có một hướng về.

Mưa còn sót giọt mưa đêm hôm trước
chưa thấm mà, mà hóa hột trân châu
ước chi được, được một vòng châu ngọc
tặng người xưa, tặng cho mối tình đầu.

Nào chẳng phải chàng si tình Lữ-Bố
cũng không là ngang dọc Lữ-Phụng-Tiên
vốn mắc nợ giai-nhân nào có tội
bước lang-thang tìm đâu khắp mọi miền.

Thủa một thuở, căng ponso hứng nước
mưa đầu mùa, dự-đoán tới sớm hơn
bầy pháo địch, nhịp-nhàng như chuông Chúa
chờ thư tình hai mắt mỏi chập-chờn.

Hồn vọng-gác, giao-thông-hào, lô-cốt
rêu phong mờ, cỏ dại phủ dấu chân
hải-ngạn gió, ru hàng dương-liễu rũ
hãn mã đâu, ngựa chiến hí vang rần.

Jacket bạc, ấm một thời quan-ải
sờ đôi chân, giày sô số hiện ra
giày theo chủ, nắng mưa đà vẹt gót
huynh-đệ tình chi-binh vẫn chưa nhòa.

Điện-thoại lạnh, ấm êm chùng túi áo
thỉnh-thoảng buồn, tới cữ lại reo vui
ngó số gọi, thấy người ta quảng-cáo
vườn sau vườn, ôn cố gói bùi-ngùi.


Trang Y Hạ



9/11/25

NỬA ĐƯỜNG

 



NỬA ĐƯỜNG

    “Thử tình khả đãi thành truy ức,
      Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.”. 

                                   (Lý Thường Ẩn)

Nửa đường gãy gánh trung-đồ
ai mô xướng-nghĩa; ai mô diện-tiền
cây lưu bóng ngã vân miên
tương dung thiện mộng lam-điền khói du.

Đời là tội, thân là tù
loanh-quanh khả-đãi vi vu đẩy trời
huỳnh quang đốm tiếu ma trơi
nửa đường gãy gánh lỗ lời tính sao.

Bậu chừ trõm mắt chao-vao
vọng âm cổ-lụy ba-đào dội tâm
mãn khai từ đó giọt thầm
đường dài mưa nắng kim châm nhão người.

Gà no quen lệ chân bươi
người no giở thói biếng lười, vô ân
tâm in vạn sự xoay-vần
hữu-thiên, hữu-địa cõi trần sóng xô.

Lạc qua đất trích, hàm hồ
sống còn đang sống mả mồ lo toan
bội nan, huyết-hãn đâu nhàn
hỏi chi cầm-sắt chứa-chan hiền hòa.

Mộng vun trăm sự hà sa
tỉnh ra gió thấm bà ba vai sờn
xuân hoa dục tạ dỗi hờn
nửa đêm vọng xé tiếng đờn dỗ đêm.

Song đau rung giật cánh rèm
sân đau đời đợi cuối thềm chờ chi
tồn tâm trung hậu nhu mì
mưa vùi gió dãi, đã khi đã từng.

Khói lam vẽ dáng còng lưng
ngóng chờ ngày giỗ vui mừng có nhau
đồng chiều cò mặc trắng phau
bao đời cày cuốc chưa giàu chưa sang.

Nửa đường gãy gánh trễ-tràng
mùa ôn ngữ đẹp mơ-màng xuân thâm
mưa vui hột giấu nẩy mầm
ngậm cay, nuốt mặn kệ tầm tả tơi.


Trang Y Hạ
Cước Chú:
"Thử tình khả đãi thành truy ức.
Chỉ thị đương thì dĩ võng nhiên"
Tạm Dịch:
(Tình này hãy đợi nên niềm nhớ
Tiếc đã xưa kia lỗi ước nguyền.).

LỜI GIÓ MƯA:

“… Rõ ràng là không thể dễ dàng với thơ mà phải “lao động” cật lực với nghệ thuật và ngôn ngữ - bằng không, sẽ chỉ có chữ mà không có thơ. Và hầu hết các bài thơ phải sửa tới hàng trăm lần mới hoàn thiện”.
Thi sĩ (Joseph Brodsky). Giải Nobel văn học 1987.
Trang Y Hạ, Sưu Tầm